YÊU CẦU
- Xác định được vấn đề cần thảo luận, tranh luận.
- Đưa ra được ý kiến, quan điểm của cá nhân khi tham gia thảo luận, tranh luận về vấn đề.
- Biết thảo luận, tranh luận với các ý kiến, quan điểm khác để bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình.
- Tôn trọng người đối thoại, có tinh thần cầu thị, lắng nghe; biết chấp nhận những ý kiến, quan điểm hợp lí, xác đáng.
CHUẨN BỊ THẢO LUẬN, TRANH LUẬN
Lựa chọn đề tài
- Đề xuất một vấn đề trong đời sống mà mình quan tâm, nhóm hoặc lớp trao đổi để thống nhất vấn đề. Có thể chọn trong số các đề tài sau:
1. Người trẻ có đang đánh mất khả năng kiên nhẫn trong một thế giới mọi thứ đều diễn ra tức thì?
Gợi mở tranh luận: Thói quen xem video ngắn, đọc thông tin nhanh, mong muốn có kết quả ngay lập tức ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tập trung, đọc sâu và theo đuổi mục tiêu lâu dài?
2. Có nên công khai mọi khoảnh khắc đẹp trong cuộc sống lên mạng xã hội?
Gợi mở tranh luận: Chia sẻ niềm vui là nhu cầu chính đáng hay đang khiến con người ngày càng sống vì sự chú ý và công nhận của người khác?
3. Trong thời đại hội nhập, giữ gìn bản sắc văn hóa có đồng nghĩa với việc hạn chế những ảnh hưởng từ văn hóa nước ngoài?
Gợi mở tranh luận: Làm thế nào để người trẻ vừa cởi mở tiếp nhận những giá trị văn hóa mới, vừa giữ được tiếng nói, phong tục và bản sắc dân tộc?
4. Có nên biến mọi sở thích và năng khiếu cá nhân thành một cơ hội kiếm tiền?
Gợi mở tranh luận: Khi một sở thích trở thành công việc hoặc nguồn thu nhập, liệu niềm vui sáng tạo có bị chi phối bởi áp lực thành tích, lợi nhuận và sự đánh giá của công chúng?
5. Trong một xã hội ngày càng đề cao thành công cá nhân, con người có cần dành thời gian và trách nhiệm cho những việc không đem lại lợi ích trực tiếp cho mình?
Gợi mở tranh luận: Giá trị của những hành động thiện nguyện, sự quan tâm đến cộng đồng, lòng tốt và tinh thần tương trợ trong đời sống hiện đại.
Tìm ý và sắp xếp ý
- Cần nêu một số câu hỏi và tự trả lời để từ đó tiến hành tìm ý, sắp xếp ý. Gợi ý:
+ Bản chất của vấn đề là gì? Vấn đề có những khía cạnh quan trọng nào?
+ Cần có quan điểm như thế nào về vấn đề? Quan điểm đó dựa trên lí lẽ và cơ sở thực tế nào?
+ Có thể xuất hiện ý kiến trái ngược nào về vấn đề? Ý kiến đó có thỏa đáng không? Cần trao đổi lại như thế nào?
Gợi ý tìm ý cho đề tài: Có nên biến mọi sở thích và năng khiếu cá nhân thành một cơ hội kiếm tiền?
1. Xác định bản chất vấn đề
- Sở thích: Những hoạt động đem lại niềm vui, sự hứng thú và mong muốn tự nguyện thực hiện.
- Năng khiếu: Khả năng nổi trội của một người trong một lĩnh vực nhất định, chẳng hạn như âm nhạc, hội họa, thể thao, viết lách, nấu ăn...
- Biến sở thích, năng khiếu thành cơ hội kiếm tiền: Khai thác những khả năng, niềm đam mê của bản thân để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế.
Vấn đề đặt ra: Có phải mọi sở thích và năng khiếu đều nên được khai thác theo hướng thương mại hóa? Hay con người cần giữ lại những khoảng không gian dành riêng cho niềm vui, sự trải nghiệm và phát triển tinh thần?
2. Tìm ý và triển khai các luận điểm
Luận điểm 1. Biến sở thích và năng khiếu thành cơ hội kiếm tiền có thể mang lại nhiều lợi ích.
- Giúp mỗi người phát huy thế mạnh, khai thác tiềm năng và phát triển khả năng của bản thân.
- Tạo ra nguồn thu nhập từ những công việc mình yêu thích, giúp cuộc sống có thêm động lực và ý nghĩa.
- Khuyến khích tinh thần sáng tạo, chủ động tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp, không phụ thuộc hoàn toàn vào những công việc truyền thống.
- Giúp mỗi người có cơ hội chia sẻ tài năng, sở thích với cộng đồng, tạo ra những sản phẩm có giá trị.
Ví dụ: Một học sinh có năng khiếu hội họa có thể vẽ tranh, thiết kế thiệp hoặc nhận những đơn hàng nhỏ; người yêu thích làm bánh có thể chia sẻ sản phẩm và kinh doanh bánh tự làm. Qua đó, sở thích vừa được nuôi dưỡng, vừa có thể tạo ra thu nhập.
Luận điểm 2. Không phải sở thích hay năng khiếu nào cũng nên trở thành công cụ kiếm tiền.
- Sở thích trước hết là nhu cầu tinh thần, giúp con người thư giãn, cân bằng cuộc sống và tìm thấy niềm vui.
- Khi biến sở thích thành công việc, con người có thể phải đối mặt với áp lực về thời gian, chất lượng sản phẩm, doanh thu và sự hài lòng của khách hàng.
- Việc chạy theo thị hiếu thị trường có thể khiến người thực hiện dần thay đổi phong cách, đánh mất sự sáng tạo và niềm vui ban đầu.
- Không phải mọi năng khiếu đều phù hợp để phát triển thành nghề nghiệp hoặc có khả năng tạo ra thu nhập ổn định.
Ví dụ: Một người yêu thích ca hát có thể hát để giải trí, giao lưu với bạn bè. Nhưng nếu phải biểu diễn thường xuyên để kiếm tiền, họ có thể chịu áp lực về lịch trình, chất lượng biểu diễn và sự đánh giá của khán giả.
Luận điểm 3. Cần phân biệt giữa phát triển sở thích thành nghề nghiệp và thương mại hóa mọi hoạt động cá nhân.
- Việc kiếm tiền từ sở thích không có gì sai nếu xuất phát từ sự tự nguyện, khả năng thực tế và mục đích tích cực.
- Tuy nhiên, không nên coi thu nhập là thước đo duy nhất để đánh giá giá trị của một sở thích hay năng khiếu.
- Mỗi người cần biết cân bằng giữa công việc và đời sống tinh thần, giữa lợi ích kinh tế và niềm vui cá nhân.
- Đặc biệt, đối với học sinh THPT, việc phát triển sở thích cần phù hợp với lứa tuổi, điều kiện và nhiệm vụ học tập; không nên chạy theo xu hướng kiếm tiền mà bỏ bê việc học.
3. Dự kiến những ý kiến trái chiều và hướng tranh luận
| Ý kiến có thể xuất hiện | Hướng trao đổi, phản biện |
|---|---|
| Có đam mê thì nên tìm cách kiếm tiền từ đam mê. | Đam mê có thể tạo động lực làm việc, nhưng không phải đam mê nào cũng cần hoặc có thể trở thành nghề nghiệp. |
| Kiếm tiền từ sở thích sẽ khiến con người không còn yêu thích công việc đó. | Không phải lúc nào cũng vậy. Nếu biết cân bằng và giữ được động lực ban đầu, công việc từ sở thích vẫn có thể đem lại niềm vui. |
| Trong xã hội hiện đại, mọi năng lực đều cần được khai thác để tạo ra giá trị kinh tế. | Giá trị của con người không chỉ nằm ở năng suất và thu nhập. Những hoạt động không sinh lợi vẫn có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần. |
| Người trẻ nên sớm kiếm tiền từ năng khiếu để có thể tự lập. | Tự lập là cần thiết, nhưng cần cân nhắc độ tuổi, năng lực, trách nhiệm học tập và những rủi ro có thể gặp phải. |
4. Một số câu hỏi gợi mở để cuộc tranh luận sâu hơn
- Nếu một sở thích không đem lại thu nhập, liệu nó có kém giá trị?
- Khi sở thích trở thành công việc, điều gì sẽ thay đổi trong cách chúng ta thực hiện hoạt động ấy?
- Có phải thành công là khi con người kiếm được tiền từ chính điều mình yêu thích?
- Một người có nên từ bỏ sở thích của mình nếu sở thích ấy không mang lại hiệu quả kinh tế?
- Đối với học sinh, đâu là giới hạn hợp lí giữa việc phát triển năng khiếu, kiếm thêm thu nhập và hoàn thành nhiệm vụ học tập?
5. Định hướng kết quả thảo luận, tranh luận
Có thể hướng đến một nhận thức chung:
Biến sở thích và năng khiếu thành cơ hội kiếm tiền là một lựa chọn đáng khuyến khích khi con người có đủ khả năng, điều kiện và sự chuẩn bị cần thiết. Tuy nhiên, không nên biến mọi sở thích thành công cụ kiếm tiền, bởi cuộc sống còn có những giá trị không thể đo đếm bằng lợi ích kinh tế. Mỗi người cần biết trân trọng niềm vui tự thân, nuôi dưỡng đam mê và lựa chọn cách phát triển năng lực phù hợp với hoàn cảnh của mình.
THẢO LUẬN, TRANH LUẬN
Cuộc thảo luận, tranh luận được tiến hành theo các bước:
- Người chủ trì nêu lại vấn đề đời sống đã được thống nhất trước để làm đề tài cho cuộc thảo luận, tranh luận.
- Căn cứ vào tín hiệu đăng kí phát biểu của các thành viên, người chủ trì lần lượt chỉ định từng người trình bày ý kiến.
- Người phát biểu đầu tiên phải thể hiện rõ quan điểm về vấn đề hoặc một khía cạnh nào đó của vấn đề.
- Những ý kiến tiếp sau có thể đi theo hướng:
+ Tán thành ý kiến vừa phát biểu.
+ Bổ sung cách hiểu của mình về vấn đề.
+ Tranh luận với ý kiến của người vừa phát biểu trước đó.
Các ý kiến tranh luận cần tập trung vào trọng tâm vấn đề, tránh lạc hướng, huy động lí lẽ, bằng chứng cụ thể, xác thực.
Yêu cầu đối với đối tượng tham gia:
+ Cần hình thành ý kiến trên cơ sở khai thác thông tin từ sự quan sát, trải nghiệm thực tế.
+ Cần cho thấy những bộ phận xã hội có cách nhìn nhận tương tự cách nhìn nhận của mình.
+ Cần sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ (tranh, ảnh, video clip,…) để minh họa khi trình bày về vấn đề.
- Người chủ trì căn cứ vào nội dung các ý kiến để tổng kết cuộc thảo luận, tranh luận.
ĐÁNH GIÁ, RÚT KINH NGHIỆM
| STT | Nội dung đánh giá | Kết quả | |
|---|---|---|---|
| Đạt | Chưa đạt | ||
| 1 | Ý nghĩa của vấn đề đời sống được thảo luận, tranh luận. | ||
| 2 | Chất lượng của các ý kiến được trình bày (làm rõ được bản chất vấn đề, quan điểm riêng của người phát biểu ý kiến, việc huy động lí lẽ và bằng chứng,…). | ||
| 3 | Kết quả của thảo luận, tranh luận (đi đến sự đồng thuận hoặc khẳng định quan điểm khác nhau về vấn đề; mức độ thuyết phục của quan điểm riêng hoặc tranh luận với ý kiến trái ngược,…). | ||
| 4 | Khả năng tương tác trong cuộc thảo luận, tranh luận. | ||
| 5 | Khả năng sử dụng ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ khi thảo luận, tranh luận. | ||
| 6 | Việc điều hành của người chủ trì và tinh thần tham gia thảo luận, tranh luận của các thành viên. | ||



Bình luận