Tìm ý

Để tìm ý, học sinh cần đọc kĩ văn bản, xác định những nét đặc sắc trong cách kể chuyện và lựa chọn các phương diện tiêu biểu để phân tích.

Bước 1. Xác định nội dung và câu chuyện được kể

  • Truyện kể về sự việc gì, xoay quanh nhân vật nào?
  • Tình huống truyện có gì đặc biệt?
  • Câu chuyện gửi gắm chủ đề, tư tưởng gì?

Bước 2. Phát hiện những nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện

Đặt câu hỏi để tìm ý theo các phương diện:

  • Tình huống truyện: Tình huống được xây dựng như thế nào? Có gì độc đáo? Tình huống giúp bộc lộ tính cách, số phận nhân vật và chủ đề ra sao?
  • Người kể chuyện và điểm nhìn: Ai kể chuyện? Kể theo ngôi thứ mấy? Điểm nhìn được đặt ở đâu, có sự thay đổi không? Cách kể ấy giúp người đọc hiểu nhân vật và sự việc như thế nào?
  • Cốt truyện và mạch kể: Các sự việc được lựa chọn, sắp xếp ra sao? Trình tự kể có tuyến tính hay đan xen hồi tưởng? Cách tổ chức ấy tạo nên hiệu quả gì?
  • Nghệ thuật khắc họa nhân vật: Nhân vật được thể hiện qua những phương diện nào: ngoại hình, hành động, tâm lí, lời thoại hay chi tiết đặc sắc?
  • Ngôn ngữ và giọng điệu: Lời kể, lời nhân vật có đặc điểm gì? Giọng điệu kể chuyện như thế nào? Những yếu tố ấy góp phần thể hiện nội dung và thái độ của nhà văn ra sao?
  • Kết thúc truyện: Kết thúc có gì đáng chú ý? Nó khép lại câu chuyện hay gợi ra những suy ngẫm tiếp tục trong người đọc?

Bước 3. Lựa chọn và sắp xếp ý

  • Chọn những phương diện nổi bật, có dẫn chứng rõ ràng; không nhất thiết phân tích tất cả các phương diện.
  • Sắp xếp ý theo trình tự hợp lí, làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố nghệ thuật.
  • Xác định tác dụng của từng yếu tố đối với việc thể hiện nhân vật, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm.

Bước 4. Đánh giá chung

  • Nghệ thuật kể chuyện có nét riêng gì?
  • Những lựa chọn nghệ thuật ấy thể hiện tài năng, phong cách của nhà văn như thế nào?
  • Chúng góp phần tạo nên giá trị và sức hấp dẫn của truyện ra sao?

Lưu ý: Khi tìm ý, học sinh nên đi theo hướng: Phát hiện đặc điểm nghệ thuật → Tìm dẫn chứng → Phân tích tác dụng → Đánh giá hiệu quả. Tránh liệt kê hàng loạt thủ pháp mà không chỉ ra chúng có ý nghĩa gì trong tác phẩm.

Lập dàn ý

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả, truyện ngắn.
  • Nêu vấn đề nghị luận: những nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm.

II. Thân bài

1. Khái quát nội dung và xác định những phương diện nghệ thuật kể chuyện nổi bật

  • Khái quát ngắn gọn nội dung truyện.
  • Xác định những phương diện nghệ thuật kể chuyện tiêu biểu cần phân tích.

2. Phân tích và đánh giá các phương diện nghệ thuật kể chuyện

Tùy đặc điểm của từng tác phẩm, có thể lựa chọn những phương diện sau:

  • Tình huống truyện: Cách xây dựng tình huống, vai trò trong việc phát triển cốt truyện, bộc lộ tính cách nhân vật và thể hiện chủ đề.
  • Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật: Ngôi kể, vị trí và khả năng quan sát của người kể; cách lựa chọn, dịch chuyển điểm nhìn và hiệu quả thể hiện nội dung.
  • Cốt truyện và cách tổ chức mạch truyện: Cách lựa chọn, sắp xếp các sự kiện, chi tiết; trình tự kể, cách kết hợp hiện tại với hồi tưởng và hiệu quả tạo sức hấp dẫn.
  • Nghệ thuật khắc họa nhân vật: Cách miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lí; sử dụng đối thoại, độc thoại và các chi tiết tiêu biểu.
  • Ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện: Đặc điểm lời kể, lời nhân vật; sự kết hợp giữa kể, tả, đối thoại; giọng điệu và hiệu quả biểu đạt.
  • Kết thúc truyện: Cách kết thúc, mức độ khép kín hoặc gợi mở và ý nghĩa tư tưởng, cảm xúc.

Lưu ý: Không nhất thiết phân tích tất cả các phương diện trên. Cần lựa chọn những yếu tố nổi bật, có vai trò quan trọng trong tác phẩm và làm rõ mối quan hệ giữa chúng.

3. Đánh giá chung

  • Khái quát sự độc đáo, hiệu quả của nghệ thuật kể chuyện.
  • Làm rõ đóng góp của nghệ thuật kể chuyện đối với việc thể hiện nhân vật, chủ đề, tư tưởng và giá trị của tác phẩm.

III. Kết bài

  • Khẳng định giá trị nghệ thuật kể chuyện và tài năng của nhà văn.
  • Nêu ấn tượng hoặc ý nghĩa của tác phẩm đối với người đọc.

Thực hành

Viết bài văn nghị luận phân tích nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn sau:

MÂY TRẮNG CÒN BAY

Máy bay cất cánh trong mưa. Tiếng càng bánh xe gấp lại có vẻ mạnh hơn bình thường dội độ rung vào thân máy bay. Tôi tiếc là đã không nghe lời vợ. Đáng lý nên trả vé, đừng theo chuyến này. Ngày xấu, giờ xấu, thời tiết xấu.

Máy bay hẫng một cái như hụt bước. Tay vận complet ngồi bên cạnh tôi mặt nhợt đi, mắt nhắm nghiền, cặp môi run run. Tôi bấu chặt các ngón tay vào thành ghế. Con người tôi bé tí hin treo trên vực sâu đang càng lúc càng sâu thẳm.

-  Mây ngay ngoài, các bác kìa! - bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu lên.

Chiếc TU đã lấy được độ cao cần thiết, bắt đầu bay bằng. Hàng chữ điện “Cài thắt lưng an toàn” đã được tắt đi. Nhưng ngoài cửa sổ vẫn cuồn cuộn mây.

-  Mây cận quá, bác nhỉ, với tay ra là với được - Bà cụ nói - Y thể cây lá ngoài vườn.

Tay vận complet nhấc mi mắt lên. Môi y mím chặt, vẻ căng thẳng đổi thành quàu quạu.

-  Vậy mà sao nhiều người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ?

Tay nọ làm thinh.

-  Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác?

Không được trả lời, bà cụ chẳng dám hỏi han gì thêm. Bà ngồi im, ôm chặt trong lòng một chiếc làn mây. Hình vóc bé nhỏ, teo tóp của bà như chìm lấp vào thân ghế. Khi cô tiếp viên đẩy xe đưa bữa điểm tâm đến, bà không muốn nhận khay đồ ăn. Bà bảo cơm nước lạ kiểu chẳng đũa bát gì chẳng quen, mấy lại đã ăn no bụng hồi sớm, mấy lại cũng thực tình là già chẳng có lắm tiền. Cô gái ân cần giải thích để bà cụ yên tâm rằng giá của suất ăn này đã được tính gộp trong tiền vé.

-  Thảo nào hai lượt tàu bay những triệu bạc - bà cụ nói - Vậy mà lúc biếu già tấm vé các chú không quân cùng đơn vị với con trai già ngày nọ bảo là tốn có trăm ngàn. Các chú ấy cho già thì có, chứ còn tính ở quê đừng nói triệu với trăm ngàn, ngàn với trăm cũng khó.

Bà cụ hạ chiếc bàn gấp xuống song không bày bữa ăn lên đấy. Tất cả các thứ hộp thứ gói trên khay bà dồn hết vào chiếc làn mây. Bà chẳng ăn chút gì. Lúc người ta mang đồ uống đến, bà cũng chỉ xin một cốc nước lọc. Bà hỏi cô tiếp viên:

-  Đã sắp đến sông Bến Hải chưa con?

-  Dạ thưa - Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay - Còn chừng dăm phút nữa ạ. Nhưng thưa cụ vì chúng ta bay trên biển nên không ngang qua sông mà sẽ chỉ ngang qua vùng trời vĩ tuyến 17.

-  Lát qua đấy con bật dùm già cái cửa tròn này con nhé, cho thoáng.

-  Ấy chết, mở thế nào được ạ. Cô gái bật cười.

Ngoài cửa sổ nắng loé lên, cánh máy bay lấp lánh, nhưng chỉ trong chốc lát. Trên rất cao này, trời vẫn còn mây. Người tôi nôn nao như ngồi trên đu quay. Chưa chuyến nào thấy mệt như chuyến này. Có lẽ vì cơn bão đang hoành hành ở miền trung nên không trung đầy rẫy ổ gà. Máy bay chòng chành, dồi lắc, bên thân và dưới sàn khe khẽ phát ra những tiếng răng rắc như sắp rạn.

Tay vận complet xoè diêm châm thuốc. Là dân nghiện nhưng lúc này tôi thấy gai với khói. Lẽ ra y nên xuống phía dưới mà thả khí chứ chẳng nên phớt lờ hàng chữ “không hút thuốc” sáng nay trước mũi y như vậy, tôi sẽ uể oải thầm nghĩ, đậy tờ báo lên mặt và nhắm mắt lại.

Giấc ngủ thiu thiu chầm chậm trườn tới.

-  Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!

Tôi giật bắn mình. Tôi bị giằng khỏi giấc ngủ không phải vì tiếng quát, tay ngồi cạnh tôi không quát to tiếng, chỉ nạt, nạt khẽ thôi, đủ nghe. Nhưng âm hưởng của nỗi hoảng hốt và sự cục cằn trong giọng y như tát vào mặt người ta. Thận trọng, tôi liếc nhìn. Khói thuốc và cặp vai to đùng của y che khuất cả bà cụ già, cả ô cửa sổ.

-  Này, cô kia, cô nhân viên! - Y sang trọng đứng dậy mắng - Tới mà nhìn! Đây là hàng không hay là cái xô bếp? Là phi cơ hay là cái miếu thờ thế này, hả?

-  Van bác... - Bà cụ sợ sệt - Bác ơi, van bác... Chẳng là, bác ạ, bữa nay giỗ thằng cả nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất.

Tay nọ gần như bước xéo lên đùi tôi, xấn ra lối đi. Bộ mặt hồng hào bừng bừng giận dữ và khinh miệt.

Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm trong chiếc cốc thuỷ tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để dựng vào thành cốc.

Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt một lời, cô lặng nhìn.

Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ.

Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm toả hương thơm ngát. Ngoài cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng.

(Bảo Ninh, Báo Văn nghệ trẻ, số 8 năm 1995)

Dàn ý chi tiết:

I. Mở bài

  • Giới thiệu nhà văn Bảo Ninh: là cây bút văn xuôi đương đại, thường hướng ngòi bút vào những suy tư về chiến tranh, số phận con người và những mất mát còn lưu lại trong đời sống.
  • Giới thiệu truyện ngắn Mây trắng còn bay: tác phẩm khai thác một tình huống đời thường trên chuyến bay, qua đó gợi lên những suy ngẫm sâu sắc về tình mẫu tử, nỗi đau chiến tranh và cách con người ứng xử với nhau.
  • Nêu vấn đề nghị luận: Thành công của truyện không chỉ nằm ở câu chuyện giàu ý nghĩa mà còn ở nghệ thuật kể chuyện đặc sắc, thể hiện qua tình huống truyện, ngôi kể và điểm nhìn trần thuật, cách tổ chức mạch truyện, nghệ thuật khắc họa nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện.

II. Thân bài

1. Khái quát nội dung và tình huống truyện

  • Truyện kể về một chuyến bay trong thời tiết xấu, với ba nhân vật chính: người kể chuyện xưng “tôi”, một người đàn ông mặc complet và một bà cụ già.
  • Bà cụ lên máy bay để đến thăm mộ người con trai đã hi sinh gần ba mươi năm trước. Bà mang theo lễ vật và lập một bàn thờ nhỏ ngay trên máy bay để tưởng nhớ con vào ngày giỗ.
  • Hành động của bà cụ khiến người đàn ông mặc complet tức giận, cho rằng bà đã biến khoang máy bay thành nơi thờ cúng. Trong khi đó, người kể chuyện và cô tiếp viên dần chứng kiến, thấu hiểu nỗi đau cùng tình thương sâu nặng của người mẹ.
  • Tình huống truyện được xây dựng từ sự đối lập giữa một hành động xuất phát từ tình mẫu tử thiêng liêng với cách nhìn nhận lạnh lùng, thực dụng của một người đồng hành. Từ đó, câu chuyện đặt ra vấn đề về lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và cách ứng xử giữa con người với con người.

2. Phân tích nghệ thuật kể chuyện

a. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa

- Tình huống truyện bất ngờ, giàu sức gợi:

  • Bối cảnh là một chuyến bay hiện đại, giữa không trung rộng lớn, trong điều kiện thời tiết không thuận lợi.
  • Một bà cụ già mang lễ vật, lập bàn thờ cúng người con trai đã hi sinh ngay trên máy bay.
  • Hành động vốn thiêng liêng trong đời sống tâm linh gia đình lại xuất hiện ở một không gian công cộng, tạo ra sự va chạm giữa những cách nhìn và quan niệm sống khác nhau.

- Tình huống tạo ra xung đột tự nhiên:

  • Người đàn ông mặc complet nhìn bàn thờ của bà cụ bằng thái độ khó chịu, khinh miệt; lời nói của ông ta bộc lộ sự thiếu cảm thông.
  • Bà cụ sợ sệt, nhẫn nhịn, cố giải thích rằng hôm ấy là ngày giỗ người con trai đã khuất gần ba mươi năm.
  • Người kể chuyện ban đầu quan sát sự việc từ vị trí của một hành khách, sau đó trực tiếp tham gia khi giữ lấy khung ảnh của người phi công trẻ.

- Tình huống có khả năng bộc lộ tính cách và tư tưởng:

  • Bà cụ hiện lên với tình thương con sâu nặng, sự thủy chung và nỗi đau âm thầm kéo dài qua nhiều năm tháng.
  • Người đàn ông mặc complet bộc lộ sự cục cằn, vô cảm qua cách phản ứng trước nỗi đau của người khác.
  • Người kể chuyện và cô tiếp viên thể hiện sự cảm thông trước hành động của bà cụ.

- Đánh giá: Tình huống truyện không dựa vào những biến cố lớn mà được tạo nên từ một sự việc nhỏ, bất thường. Chính sự đối lập giữa không gian hiện đại và nghi thức tưởng niệm giản dị, giữa tình mẫu tử và thái độ vô cảm đã tạo nên sức căng cho câu chuyện, đồng thời khơi gợi những suy ngẫm sâu sắc về con người.

b. Lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn trần thuật linh hoạt

- Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”:

  • Người kể chuyện trực tiếp tham gia chuyến bay và chứng kiến toàn bộ sự việc.
  • Cách kể này tạo cảm giác chân thực, gần gũi, giúp câu chuyện được tái hiện như một trải nghiệm đang diễn ra trước mắt người đọc.
  • Người kể chuyện không biết trước mọi sự việc mà tiếp nhận thông tin dần dần, phù hợp với quá trình khám phá và nhận thức của người đọc.

- Điểm nhìn trần thuật chủ yếu gắn với nhân vật “tôi”:

  • Ở đầu truyện, điểm nhìn tập trung vào cảm giác bất an của người kể trước thời tiết xấu: “Tôi bấu chặt các ngón tay vào thành ghế”.
  • Người kể quan sát bà cụ qua dáng vẻ nhỏ bé, lời nói, chiếc làn mây và cách bà từ chối suất ăn trên máy bay.
  • Khi xảy ra xung đột, điểm nhìn hướng vào thái độ của người đàn ông mặc complet, nỗi sợ hãi của bà cụ và phản ứng của cô tiếp viên.
  • Đến cuối truyện, người kể trực tiếp giữ lấy khung ảnh, thể hiện sự chuyển biến từ quan sát sang hành động chia sẻ.

- Sự kết hợp giữa điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong:

  • Điểm nhìn bên ngoài giúp tái hiện cử chỉ, lời nói, dáng vẻ và hành động của các nhân vật.
  • Điểm nhìn bên trong thể hiện qua những cảm giác, suy nghĩ và phản ứng của người kể chuyện, đồng thời giúp người đọc cảm nhận phần nào nỗi lòng của bà cụ qua những lời bà nói.
  • Nhà văn không trực tiếp giải thích toàn bộ tâm trạng của bà cụ mà để nỗi đau hiện lên qua những chi tiết và lời thoại, tạo sức gợi cảm.

- Đánh giá: Ngôi kể thứ nhất và điểm nhìn linh hoạt giúp câu chuyện có vẻ chân thực, tự nhiên, đồng thời tạo điều kiện để cảm xúc và nhận thức của người kể chuyện dẫn dắt quá trình khám phá ý nghĩa sự việc.

c. Nghệ thuật tổ chức mạch truyện và tạo dựng diễn biến

- Mạch truyện được tổ chức theo trình tự thời gian của chuyến bay:

  • Mở đầu là cảnh máy bay cất cánh trong mưa, tạo không khí bất an.
  • Tiếp theo là những cuộc trò chuyện giữa bà cụ với các hành khách và cô tiếp viên, qua đó hé lộ hoàn cảnh, tính cách của bà.
  • Cao trào xuất hiện khi người đàn ông mặc complet phát hiện bàn thờ nhỏ và lên tiếng phản đối.
  • Cuối truyện, người kể chuyện giữ khung ảnh, hình ảnh khói nhang và bầu trời sáng tạo nên đoạn kết giàu sức gợi.

- Thông tin được hé lộ từng bước:

  • Ban đầu, bà cụ chỉ hiện lên qua hình dáng nhỏ bé, chiếc làn mây và những câu hỏi ngây ngô về mây trời, đường bay.
  • Sau đó, người đọc biết bà đến miền có người con đã khuất và mang theo lễ vật cúng giỗ.
  • Khi bàn thờ được bày ra, bức ảnh người phi công trẻ mới làm hiện rõ hơn chiều sâu của mất mát và sự hi sinh.
  • Cách tiết lộ thông tin từng bước khiến ý nghĩa của hành động bà cụ dần được sáng tỏ, đồng thời tạo sự xúc động tự nhiên.

- Sự kết hợp giữa kể, tả và đối thoại:

  • Lời kể tái hiện hành trình và các sự kiện.
  • Miêu tả làm nổi bật không gian, dáng vẻ, cử chỉ của nhân vật.
  • Đối thoại giúp bộc lộ tính cách, tạo xung đột và cung cấp thông tin về hoàn cảnh nhân vật.

- Đánh giá: Mạch truyện không phức tạp nhưng được tổ chức chặt chẽ, có sự tăng tiến về cảm xúc: từ bất an, tò mò đến căng thẳng, rồi lắng lại trong niềm xúc động và suy ngẫm.

d. Nghệ thuật khắc họa nhân vật qua hành động, ngoại hình và lời thoại

- Nhân vật bà cụ được khắc họa bằng những chi tiết chọn lọc:

  • Ngoại hình: “bé nhỏ, teo tóp”, “lưng còng xuống”, “hai bàn tay chắp lại, gầy guộc”.
  • Hành động: không ăn suất ăn trên máy bay, cất các hộp thức ăn vào chiếc làn mây, xin cúng giỗ con trên chuyến bay.
  • Lời thoại: “Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất”.
  • Những chi tiết này vừa cho thấy hoàn cảnh nghèo khó, vừa làm nổi bật tình mẫu tử sâu nặng và nỗi đau mất con kéo dài.

- Nhân vật người đàn ông mặc complet được khắc họa chủ yếu qua lời nói và cử chỉ:

  • Những lời quát nạt như “Đây là hàng không hay là cái xô bếp? Là phi cơ hay là cái miếu thờ thế này, hả?” thể hiện thái độ khinh miệt, thiếu cảm thông.
  • Cử chỉ xấn ra lối đi, vẻ mặt giận dữ làm tăng tính đối lập giữa ông ta với bà cụ.
  • Cách gọi nhân vật là “tay vận complet”, “tay nọ” tạo sắc thái xa cách, đồng thời bộc lộ thái độ không thiện cảm của người kể chuyện.

- Nhân vật “tôi” và cô tiếp viên:

  • Cô tiếp viên ban đầu ân cần giải thích về suất ăn, sau đó lặng người khi chứng kiến bàn thờ nhỏ.
  • Người kể chuyện từ trạng thái lo sợ trước chuyến bay chuyển sang trực tiếp giữ khung ảnh cho bà cụ.
  • Những phản ứng ít lời nhưng giàu ý nghĩa cho thấy sự đồng cảm được hình thành từ việc chứng kiến nỗi đau của người khác.

- Đánh giá: Nhà văn không miêu tả nhân vật dài dòng mà lựa chọn những chi tiết ngoại hình, hành động và lời thoại có sức biểu đạt cao. Qua đó, tính cách nhân vật được bộc lộ tự nhiên, còn ý nghĩa nhân văn của câu chuyện được truyền tải kín đáo.

e. Ngôn ngữ kể chuyện và nghệ thuật sử dụng giọng điệu

- Ngôn ngữ kể chuyện gần gũi, giàu tính khẩu ngữ:

  • Lời bà cụ mang sắc thái ngôn ngữ dân dã: “mấy lại”, “già”, “thằng cả nhà tôi”, “chẳng quen”.
  • Cách nói ấy tạo cảm giác chân thực, góp phần thể hiện xuất thân nông thôn và sự lúng túng của bà trước môi trường hiện đại.

- Sử dụng đối thoại có tính cá thể hóa:

  • Bà cụ nói năng thật thà, chất phác, vừa ngây thơ vừa khiến người đọc thương cảm.
  • Người đàn ông mặc complet sử dụng những câu hỏi gay gắt, lời lẽ mỉa mai, thể hiện thái độ thiếu tôn trọng.
  • Cô tiếp viên giao tiếp lịch sự, ân cần, phù hợp với vị trí và tính cách nhân vật.

- Giọng điệu kể chuyện biến đổi linh hoạt:

  • Đầu truyện: giọng kể có phần bất an, pha chút hài hước nhẹ qua suy nghĩ của người kể chuyện về chuyến bay.
  • Khi bà cụ xuất hiện: giọng kể quan sát, có sắc thái hóm hỉnh nhưng vẫn giữ sự gần gũi.
  • Khi xung đột xảy ra: giọng kể trở nên căng thẳng, nghiêm túc, bộc lộ sự bất bình trước thái độ của người đàn ông.
  • Cuối truyện: giọng kể lắng xuống, trang trọng và giàu chất trữ tình.

- Đánh giá: Sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời thường, đối thoại cá thể hóa và giọng điệu biến đổi giúp truyện vừa có tính hiện thực, vừa có chiều sâu cảm xúc; nhà văn không cần trực tiếp lên án hay giảng giải mà vẫn khiến người đọc tự nhận ra ý nghĩa của câu chuyện.

g. Nghệ thuật xây dựng kết thúc giàu sức gợi

- Kết thúc bằng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng:

  • “Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh của khoang máy bay”.
  • “Những cây nhang trên trời thẳm toả hương thơm ngát. Ngoài cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng”.

- Sự tương phản giàu ý nghĩa:

  • Bàn thờ nhỏ bé của bà cụ nằm giữa khoang máy bay hiện đại, lạnh lẽo.
  • Khói nhang mong manh hiện lên giữa không gian trời cao rộng lớn, tạo cảm giác thiêng liêng và thanh khiết.
  • Hình ảnh người phi công trẻ trong khung ảnh gợi nhắc về sự hi sinh, còn nén nhang thể hiện sự tưởng nhớ bền bỉ của người mẹ.

- Ý nghĩa của kết thúc:

  • Khẳng định sức sống bền bỉ của tình mẫu tử và đạo lí tưởng nhớ người đã khuất.
  • Gợi suy ngẫm về những mất mát do chiến tranh để lại trong đời sống con người.
  • Đặt người đọc trước câu hỏi về sự cảm thông, lòng trắc ẩn và thái độ cần có trước nỗi đau của người khác.

- Đánh giá: Kết thúc không đưa ra lời bình luận trực tiếp mà sử dụng hình ảnh giàu tính biểu tượng, tạo dư âm sâu lắng và mở rộng ý nghĩa của câu chuyện vượt ra ngoài một sự việc trên chuyến bay.

3. Đánh giá chung về nghệ thuật kể chuyện

  • Về nghệ thuật: Truyện thành công nhờ tình huống giàu sức gợi, ngôi kể thứ nhất chân thực, điểm nhìn linh hoạt, mạch truyện chặt chẽ, cách khắc họa nhân vật qua chi tiết và đối thoại, giọng điệu biến đổi tự nhiên, cùng kết thúc giàu tính biểu tượng.
  • Về nội dung: Những phương diện nghệ thuật ấy góp phần làm nổi bật tình mẫu tử thiêng liêng, nỗi đau và sự mất mát do chiến tranh, đồng thời phê phán thái độ vô cảm, thiếu thấu hiểu.
  • Về hiệu quả tiếp nhận: Tác phẩm không áp đặt bài học đạo đức mà để sự việc, hình ảnh và thái độ nhân vật tự khơi gợi suy ngẫm, khiến người đọc tự nhìn lại cách ứng xử của mình trong đời sống.

III. Kết bài

  • Khẳng định nghệ thuật kể chuyện đặc sắc là yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn và chiều sâu của truyện ngắn Mây trắng còn bay.
  • Qua một tình huống đời thường trên chuyến bay, Bảo Ninh đã khơi dậy những suy ngẫm sâu sắc về tình mẫu tử, kí ức chiến tranh và lòng trắc ẩn giữa con người với con người.
  • Khẳng định sức lay động của tác phẩm nằm ở cách kể chuyện tiết chế, giàu sức gợi, để lại dư âm nhân văn trong lòng người đọc.