KHỞI ĐỘNG

Ba tiếng “Mũi Cà Mau" gợi lên trong bạn những suy nghĩ, cảm xúc gì?

Ba tiếng “Mũi Cà Mau” gợi trong em niềm tự hào về vùng đất cực Nam của Tổ quốc, nơi dải đất Việt Nam vươn mình ra biển lớn. Em hình dung một vùng đất có rừng đước xanh ngút ngàn, những dòng sông chở nặng phù sa và con người chân chất, giàu tình nghĩa. Đó không chỉ là một địa danh xa xôi trên bản đồ mà còn là một phần thiêng liêng của quê hương, gắn với lịch sử khai phá đất đai và bao thế hệ người Việt đã bền bỉ dựng xây cuộc sống. Em mong có dịp được đặt chân đến Đất Mũi để tận mắt ngắm nhìn vẻ đẹp của thiên nhiên, cảm nhận nhịp sống của người dân nơi đây và hiểu thêm về vùng đất cuối trời Nam của đất nước.

Bạn đã biết được gì về vùng đất Mũi Cà Mau (qua sách báo, phim ảnh và các phương tiện truyền thông)?

Qua sách báo, phim ảnh và các phương tiện truyền thông, em biết Mũi Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau, nằm ở cực Nam của Tổ quốc, có ba mặt giáp biển. Nơi đây nổi tiếng với những cánh rừng đước, rừng ngập mặn xanh ngút ngàn, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và những bãi bồi lấn dần ra biển. Cà Mau còn có hệ sinh thái phong phú, nhiều loài thủy sản như tôm, cua, cá và những nét văn hóa đặc sắc của cư dân miền sông nước. Người dân nơi đây cần cù, chân chất, giàu tình nghĩa, gắn bó với sông nước và nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản. Em cũng biết Mũi Cà Mau là vùng đất giàu ý nghĩa đối với chủ quyền lãnh thổ và tình yêu quê hương, đất nước của người Việt Nam.

TÌM HIỂU CHUNG

Trần Tuấn (tên khai sinh là Trần Ngọc Tuấn), sinh năm 1967, quê ở Hà Nội, là nhà thơ, nhà báo và người viết kí, tản văn. Ông có lối viết phóng khoáng, nhẩn nha, giàu liên tưởng, thường kết hợp những trải nghiệm thực tế với suy ngẫm về con người, văn hóa và đời sống. Ngôn ngữ của Trần Tuấn có nhiều cách kết hợp từ ngữ mới lạ, giàu sức gợi, thể hiện khả năng quan sát tinh tế và cá tính sáng tạo của người viết. Một số tác phẩm của ông gồm tập thơ Ma thuật ngón (2008), tập kí sự nhân vật Đừng gọi tôi là Lại Phiền Hà (2008) và tập thơ Chậm hơn dừng lại (2017). 

Văn bản Cà Mau quê xứ được trích từ tập bút kí Uống cà phê trên đường của Vũ, xuất bản năm 2017, ghi lại trải nghiệm của tác giả trong chuyến đi đến Đất Mũi vào tháng 5 năm 2006. Qua những quan sát chân thực, liên tưởng văn chương độc đáo và cảm xúc chân thành, tác phẩm thể hiện tình yêu của Trần Tuấn đối với thiên nhiên, con người và nét văn hóa riêng của vùng đất cực Nam Tổ quốc. 

KHÁM PHÁ VĂN BẢN

1. Tác giả có tâm thế như thế nào khi đến với Mũi Cà Mau? Tâm thế đó có ý nghĩa gì đối với người viết tản văn?

- Tâm thế của tác giả: Trần Tuấn đến với Mũi Cà Mau bằng tâm thế của một người đi chơi, muốn thả lỏng tâm hồn để thong thả khám phá, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và văn hóa vùng đất phương Nam. Đó cũng là tâm thế háo hức, tò mò, giàu xúc cảm của người đã ấp ủ những hình dung về Cà Mau từ sách báo, văn chương và nay có dịp trực tiếp trải nghiệm.

- Ý nghĩa: Tâm thế ấy giúp người viết tản văn mở lòng đón nhận những điều bình dị, bất ngờ của cuộc sống; quan sát sự vật bằng nhiều giác quan và cảm nhận bằng những rung động chân thành. Nhờ đó, những trải nghiệm thực tế có thể khơi gợi suy tưởng, liên tưởng và kí ức, giúp bài viết vừa giàu chất hiện thực, vừa đậm chất trữ tình, thể hiện được dấu ấn cá nhân của người viết.

2. Tính chất tươi mới, sống động của thực tế đời sống con người vùng Đất Mũi được thể hiện qua những khung cảnh, nhân vật nào?

Tính chất tươi mới, sống động của thực tế đời sống con người vùng Đất Mũi được thể hiện qua những khung cảnh, nhân vật và câu chuyện mang hơi thở trực tiếp của cuộc sống:

- Câu chuyện về những vị khách đến thăm Đất Mũi: Qua lời kể của người bạn nhà văn quê Đất Mũi, tác giả biết đến những cách bày tỏ cảm xúc khác nhau của du khách: người ôm cột mốc, người ôm cây đước, người nằm lăn xuống bùn lầy khóc vì sung sướng, người mang đất hoặc nước biển về làm kỉ niệm. Những hành động có phần khác thường ấy cho thấy sức hấp dẫn của vùng đất cực Nam và tình cảm sâu nặng mà con người dành cho nơi này.

- Cảnh sinh hoạt, lao động đời thường của cư dân địa phương: Những đứa trẻ chạy đuổi nhau, chơi nhảy lò cò; cá thòi lòi chạy dưới sàn nhà; những người phụ nữ ngồi lột ghẹ, vừa làm việc vừa trò chuyện rộn rã tại vựa ghẹ nhà anh Phúc, chị Tuyết. Các chi tiết cụ thể về giá ghẹ, cách chế biến, tiền công và hoạt động tiêu thụ sản phẩm phản ánh sinh động đời sống kinh tế của người dân.

- Cảnh mấy anh em nhà báo, nhà văn ngồi cởi trần lai rai trong ngôi nhà sàn ven biển: Cuộc trò chuyện thân mật, những chén rượu và món ghẹ hấp dân dã, lời mời “xây chừng” một li tạo nên không khí phóng khoáng, gần gũi, đậm chất miền Tây. Qua đó, người đọc cảm nhận được nhịp sống bình dị và sự cởi mở, hiếu khách của người dân Đất Mũi.

- Câu chuyện về việc phát triển nghề nuôi tôm và bảo vệ rừng đước: Những cánh rừng bị đốn hạ để mở vuông tôm, rồi người dân lại phải đối diện với tình trạng tôm ngạt thở trong môi trường sình lầy. Lời trăn trở của anh Lê Hoàng Liêm: “Cà Mau mà không còn đước thì còn gì nữa đâu” cho thấy tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.

- Những con người bình dị với cá tính và suy nghĩ riêng: Cô Trương Lệ Duyên hồn nhiên, ngạc nhiên trước hành động của hai vị khách; anh Phúc, chị Tuyết cần cù, tháo vát; anh Lê Hoàng Liêm đau đáu trước nguy cơ mất rừng; những người dân miền Tây với lời ăn tiếng nói mộc mạc, giàu sắc thái địa phương.

Những chi tiết trên vừa tạo nên bức tranh Đất Mũi chân thực, giàu sức sống, vừa mang tính thời sự tại thời điểm tác phẩm ra đời. Qua những câu chuyện cụ thể, Trần Tuấn không chỉ ghi lại sinh hoạt thường ngày mà còn phản ánh tình yêu quê xứ, đời sống mưu sinh và những vấn đề kinh tế, môi trường đang đặt ra đối với vùng đất cực Nam của Tổ quốc.

3. Đến với Mũi Cà Mau, tác giả liên tưởng đến những nhà thơ, nhà văn nào đã có duyên nợ với vùng đất này? Những liên tưởng đó có ý nghĩa gì?

Những nhà thơ, nhà văn được tác giả liên tưởng: Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Sơn Nam, Nguyễn Bính, Nguyễn Thành Long và Nguyễn Quang Sáng. Trong đó, Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu gắn với những trang kí, trang thư, trang thơ về Cà Mau từ thời chiến tranh; Nguyễn Ngọc Tư và Sơn Nam gợi lên những câu chuyện, hình ảnh sinh động về con người, thiên nhiên và đời sống phương Nam; Nguyễn Bính gợi nỗi nhớ quê nhà qua bài thơ Hành phương Nam; Nguyễn Thành Long qua nhan đề bản dịch Quê xứ con người; Nguyễn Tuân và Nguyễn Quang Sáng gắn với câu chuyện về những chuyến đi miền Tây, đặc biệt là chuyến đi của Nguyễn Tuân năm 1976.

Ý nghĩa của những liên tưởng:

- Thể hiện vốn hiểu biết văn chương phong phú, tình yêu sâu nặng của tác giả đối với văn học và vùng đất Cà Mau.

- Kết nối trải nghiệm thực tế với những trang văn, trang thơ đã đọc, giúp vùng đất hiện lên không chỉ qua cảnh sắc, con người hiện tại mà còn qua chiều sâu lịch sử, văn hóa và kí ức văn chương.

- Gợi ra mối duyên nợ giữa người cầm bút với quê xứ; đồng thời thể hiện niềm trân trọng đối với những nhà văn, nhà thơ đã khám phá, lưu giữ vẻ đẹp và số phận của vùng đất cực Nam Tổ quốc.

- Làm cho tản văn giàu chất trữ tình, suy tưởng và liên tưởng, qua đó bộc lộ dấu ấn cá nhân cùng những rung động tinh tế của người viết.

4. Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong bài tản văn?

Chất trữ tình trong bài tản văn Cà Mau quê xứ của Trần Tuấn được thể hiện qua những phương diện sau:

- Tình cảm, cảm xúc chân thành của tác giả: Niềm háo hức khi lần đầu đặt chân đến Đất Mũi, sự say mê trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và ngôn ngữ miền Tây; niềm xúc động khi nghĩ về quê nhà, những nhà văn, nhà thơ từng gắn bó với vùng đất này và nỗi lưu luyến khi rời Cà Mau.

- Những hình ảnh giàu sức gợi và chất thơ: Những cây đước trầm ngâm giữa phù sa, bình minh và hoàng hôn như cùng treo trên một thân cây; những trái đước cắm xuống bùn rồi nảy mầm thành cây mới; hình ảnh người viết mang theo cái nhìn “lánh đen như than đước” của cô gái không tên và đôi mắt cay nhòe khi tàu rời Mũi.

- Những liên tưởng, hồi tưởng và suy ngẫm giàu cảm xúc: Từ cảnh sắc Đất Mũi, tác giả nhớ đến những trang văn, trang thơ của Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu, Nguyễn Bính; từ câu chuyện về rừng đước, tác giả suy ngẫm về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, về việc gìn giữ những giá trị làm nên bản sắc quê xứ.

- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu và sắc thái biểu cảm: Những cách diễn đạt như “hạt phù sa ròng ròng tươi mới”, “một mảng mây ngàn tuổi”, “những bình minh, hoàng hôn lùi xa con người” vừa gợi hình vừa gợi cảm, thể hiện cái nhìn tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của người viết.

Qua những biểu hiện ấy, chất trữ tình hòa quyện với chất tự sự và suy tưởng, khiến bài tản văn không chỉ ghi chép những điều mắt thấy tai nghe mà còn là hành trình khám phá, cảm nhận và gắn bó tâm hồn với vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Đặc biệt, hình ảnh đôi mắt “chợt cay nhòe” khi tàu rời Mũi ở cuối bài đã kết tinh nỗi xúc động và tình yêu quê xứ sâu lắng của tác giả.

5. Dưới ngòi bút tác giả, sắc màu riêng của vùng Đất Mũi hiện lên như thế nào?

Dưới ngòi bút Trần Tuấn, sắc màu riêng của vùng Đất Mũi hiện lên qua những phương diện:

- Thiên nhiên mang vẻ đẹp đặc trưng của vùng sông nước phương Nam: Những cánh rừng đước cắm sâu vào phù sa, những dòng sông, vàm, lạch, những bãi bùn ven biển và đàn cá thòi lòi dạn dĩ dưới sàn nhà tạo nên một không gian hoang sơ, trù phú, đậm dấu ấn miền sông nước.

- Đời sống bình dị, phóng khoáng và giàu sức sống: Trẻ em hồn nhiên vui chơi; những người phụ nữ cần mẫn lột ghẹ, vừa làm việc vừa trò chuyện rộn ràng; những cuộc gặp gỡ, lai rai thân tình trong ngôi nhà sàn ven biển. Tất cả làm hiện lên nhịp sống gần gũi, tự nhiên và đậm tình người.

- Con người chân chất, nghĩa tình, gắn bó với quê xứ: Từ những người lao động cần cù đến anh Lê Hoàng Liêm trăn trở trước nguy cơ mất rừng đước, mỗi người đều góp phần thể hiện tình yêu quê hương và ý thức gìn giữ môi trường sống.

- Bản sắc văn hóa, ngôn ngữ độc đáo: Từ “xứ” trong lời ăn tiếng nói của người dân miền Tây gợi cảm giác vừa thân thuộc vừa xa xôi, chứa đựng tình cảm gắn bó với quê nhà. Những câu chuyện về du khách xúc động khi đến Mũi, những liên tưởng đến Nguyễn Bính, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư… còn cho thấy chiều sâu văn hóa và sức hấp dẫn của vùng đất này.

- Vẻ đẹp vừa tươi mới vừa thấm đẫm chiều sâu lịch sử, văn chương: Đất Mũi không chỉ hiện lên qua những trải nghiệm sống động của hiện tại mà còn qua kí ức về những trang văn, trang thơ thời chiến tranh, những dấu ấn của hành trình khai phá và sự hình thành quê xứ.

Bằng sự kết hợp giữa quan sát tinh tế, ghi chép chân thực và những liên tưởng giàu chất thơ, tác giả khắc họa Đất Mũi như một vùng đất hoang sơ mà trù phú, bình dị mà độc đáo, phóng khoáng mà sâu nặng nghĩa tình. Đằng sau bức tranh ấy là tình yêu quê xứ và nỗi trăn trở trước trách nhiệm gìn giữ những giá trị tự nhiên, văn hóa của vùng đất cực Nam Tổ quốc.

6. Nêu nhận xét của bạn về cách sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ trong tác phẩm.

Ngôn ngữ trong tản văn Cà Mau quê xứ của Trần Tuấn giàu sức gợi, đậm sắc thái Nam Bộ và mang dấu ấn sáng tạo riêng của người viết. Tác giả kết hợp ngôn ngữ đời thường, dân dã với những cách diễn đạt mới lạ, giàu hình ảnh và liên tưởng. Những từ ngữ địa phương như “xứ ấy”, “tui từ xứ Bạc Liêu qua” vừa tái hiện nét riêng trong lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ, vừa góp phần thể hiện bản sắc văn hóa vùng đất. Đặc biệt, các kết hợp từ độc đáo như “ổ cứng xúc cảm”, “xi đi võng mạc”, “đọt phù sa thơ”, “mảng mây ngàn tuổi” cho thấy khả năng làm mới ngôn ngữ của tác giả. Nếu “ổ cứng xúc cảm” gợi liên tưởng đến nơi lưu giữ những rung động và ký ức, thì “đọt phù sa thơ” lại hình dung những mầm cảm hứng nghệ thuật được bồi đắp từ trải nghiệm thực tế. Những cách kết hợp từ bất ngờ ấy vừa tạo nét hiện đại, vừa làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và phóng đại, góp phần khắc họa thiên nhiên, con người Đất Mũi và bộc lộ cảm xúc của người viết. Hình ảnh cây đước, những chiếc rễ bám sâu vào bùn đất gợi sức sống bền bỉ của thiên nhiên; ánh mắt cô gái được miêu tả “lánh đen như than đước” vừa cụ thể, giàu sức tạo hình, vừa mang sắc thái riêng của vùng đất. Những liên tưởng từ “quê xứ” đến thơ Nguyễn Bính, bản dịch của Nguyễn Thành Long và các trang văn viết về phương Nam còn tạo nên chiều sâu văn hóa, văn học cho tác phẩm.

Nhìn chung, sự kết hợp giữa ngôn ngữ địa phương mộc mạc, cách dùng từ sáng tạo và những hình ảnh giàu sức biểu cảm đã tạo nên giọng văn phóng khoáng, tinh tế, đậm chất trữ tình và suy tư. Qua đó, vẻ đẹp riêng của Cà Mau hiện lên vừa chân thực, gần gũi, vừa giàu ý nghĩa văn hóa và sức lay động lòng người.

KẾT NỐI ĐỌC – VIẾT

Từ ý của câu "Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhòe” hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nói về cảm xúc của tác giả đối với Mũi Cà Mau.

Câu văn “Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhòe” thể hiện tình cảm lưu luyến, xúc động sâu sắc của tác giả Trần Tuấn đối với vùng đất Mũi Cà Mau. Cái cay nhòe nơi khóe mắt không bắt nguồn từ khói mà từ những rung động chân thành của tâm hồn khi phải rời xa một vùng đất vừa đặt chân đến. Trong chuyến đi, tác giả không chỉ được khám phá vẻ đẹp hoang sơ, trù phú của thiên nhiên mà còn cảm nhận sự bình dị, phóng khoáng và ấm áp nghĩa tình của con người Đất Mũi. Đặc biệt, ánh mắt đen như than đước của cô gái trẻ đã trở thành hình ảnh neo giữ cảm xúc, khiến miền đất xa xôi bỗng trở nên gần gũi, thân thương. Giọt nước mắt không thành hình ấy chính là biểu hiện của sự gắn bó sâu nặng giữa con người với cảnh vật và con người nơi đây. Qua đó, tác giả cho thấy đôi khi, một chuyến đi chỉ thực sự có ý nghĩa khi đánh thức được những tình cảm sâu kín trong lòng người.