I. ĐẶC TRƯNG CỦA TRUYỆN

1. Dung lượng

Dung lượng được hiểu là khả năng phản ánh hiện thực của thể loại. Truyện ngắn là loại hình tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng của nhân vật.

2. Cốt truyện

Cốt truyện trong tác phẩm tự sự (thần thoại, sử thi, cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết,..) được tạo nên bởi sự kiện hoặc chuỗi sự kiện được sắp xếp theo một trật tự nhất định (thường là theo trật tự thời gian) thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Không phải mọi sự việc diễn ra trong truyện đều là sự kiện mà đó phải là những sự việc, biến cố quan trọng, làm thay đổi nhận thức, hành động hoặc số phận của nhân vật.

3. Truyện kể

Sự kiện trong cốt truyện được triển khai hoặc liên kết với nhau theo một mạch kể nhất định. Mạch kể này thống nhất với hệ thống chi tiết và lời văn nghệ thuật (bao gồm các thành phần lời kể, lời tả, lời bình luận... ) tạo thành truyện kể. Như vậy, truyện kể được hiểu là sự liên kết các sự kiện theo một mạch nhất định.

4. Người kể chuyện

Truyện kể chỉ tồn tại khi có người kể chuyện. Trong nhiều loại hình tự sự dân gian, người kể chuyện có thể là người trực tiếp diễn xướng để kể lại câu chuyện cho công chúng. Trong tự sự của văn học viết, người kể chuyện là “vai” hay “đại diện” mà nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện việc kể chuyện. Nhờ người kể chuyện, người đọc được dẫn dắt vào thế giới nghệ thuật của truyện kể, để tri nhận về nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian,... Người kể chuyện cũng khơi dậy ở người đọc những suy tư về ý nghĩa mà truyện kể có thể gợi ra.

5. Điểm nhìn

-  Điểm nhìn nghệ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ vị trí quan sát của người kể chuyện trong tương quan với nhân vật, sự việc được trần thuật.

- Để câu chuyện được kể ra, nhất thiết phải có người kể chuyện (tức người biết, nhìn thấy và kể lại câu chuyện ấy). Người kể chuyện bao giờ cũng kể câu chuyện từ điểm nhìn nhất định, đó là vị trí để quan sát, trần thuật, đánh giá.

-  Có thể phân chia điểm nhìn trong tác phẩm tự sự thành nhiều loại khác nhau như: điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật được kể; điểm nhìn bên ngoài (miêu tả sự vật, con người ở những bình diện ngoại hiện, kể về những điều mà nhân vật không biết) và điểm nhìn bên trong (kể và tả qua cảm nhận, ý thức của nhân vật); điểm nhìn không gian (nhìn xa - nhìn gần) và điểm nhìn thời gian (nhìn từ thời điểm hiện tại, miêu tả sự việc như nó đang diễn ra hay nhìn lại quá khứ, kể lại qua lăng kính hồi ức, v.v... Điểm nhìn còn mang tính tâm lý, tư tưởng, gắn liền với vai kể của người kể chuyện hoặc hoàn cảnh, trải nghiệm của nhân vật.

-  Câu chuyện được kể có thể gắn với một điểm nhìn thấu suốt mọi sự việc, một quan điểm, một cách đánh giá mang tính định hướng cho người đọc. Nhưng cũng có thể câu chuyện được kể từ nhiều điểm nhìn, gắn với nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau, xoay quanh sự việc hay nhân vật. Điều này tạo nên tính đối thoại của tác phẩm và đặt người đọc vào một vai trò chủ động, tích cực hơn trong việc diễn giải và đánh giá.

6. Ngôi kể

-  Người kể chuyện ngôi thứ nhất là người kể xưng “tôi” hoặc một hình thức tự xưng tương đương. Tuỳ theo mức độ tham gia vào mạch vận động cốt truyện, người kể chuyện ngôi thứ nhất có thể là nhân vật chính, nhân vật phụ, người chứng kiến, người kể lại câu chuyện được nghe từ người khác hay xuất hiện với vai trò tác giả “lộ diện”. Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường là người kể chuyện hạn tri (không biết hết mọi chuyện), trừ trường hợp ở vai trò tác giả “lộ diện” vận dụng quyền năng “biết hết” của mình.

Vì người kể chuyện đồng thời là một nhân vật trong truyện nên không biết được những diễn biến trong suy nghĩ, cảm xúc của các nhân vật khác; thường bày tỏ quan điểm và thái độ chủ quan khi thuật chuyện. Trần thuật từ ngôi thứ nhất có ưu điểm là tạo được hiệu quả về tính trực tiếp như đang chứng kiến các sự việc xảy ra, có cơ hội để đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật - người kể. Tuy nhiên, điểm nhìn này lại rất hạn chế trong việc phản ánh toàn cảnh bức tranh xã hội, môi trường hoạt động và tâm lý của các nhân vật khác.

- Người kể chuyện ngôi thứ ba là người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện và chỉ được nhận biết qua lời kể. Người kể chuyện ngôi thứ ba có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện, kể cả những biểu hiện sâu kín trong nội tâm nhân vật, do đó được xác định là người kể chuyện toàn tri (biết hết mọi chuyện). Tuy nhiên, người kể chuyện ngôi thứ ba có sử dụng quyền năng toàn tri hay không còn tùy thuộc vào nguyên tắc tổ chức truyện kể của từng tác phẩm.

- Người kể chuyện, dù ở ngôi thứ nhất hay thứ ba, đều kể chuyện từ điểm nhìn nhất định, qua hệ thống lời kể. Lời người kể chuyện là lời kể, tả, bình luận của người kể chuyện, có chức năng khắc họa bối cảnh, thời gian, không gian, miêu tả sự việc, nhân vật, thể hiện cách nhìn nhận, thái độ đánh giá đối với sự việc, nhân vật. 

- Từ điểm nhìn và hệ thống lời người kể chuyện, lời nhân vật, các phương diện của bức tranh đời sống và nhân vật được hiển hiện để người đọc tri nhận. Quyền năng của người kể chuyện thể hiện ở phạm vi miêu tả, phân tích, lí giải và mức độ định hướng đọc trong việc cắt nghĩa, đánh giá sự kiện, nhân vật được khắc họa trong tác phẩm văn học.

7. Nhân vật

- Nhân vật là hình tượng con người được khắc họa trong tác phẩm văn học bằng các biện pháp nghệ thuật. Cũng có những trường hợp nhân vật trong tác phẩm văn học là thần linh, loài vật, đồ vật... nhưng khi ấy, chúng sẽ đại diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay khát vọng của con người. Nhân vật là phương tiện để văn học khám phá và cắt nghĩa về con người và cuộc sống.

- Trong tác phẩm truyện, xét theo vị trí của nhân vật, ta có nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân nhật phụ. Nhân vật chính là nhân vật tham gia vào các sự kiện, biến cố quan trọng của truyện, có chức năng duy trì mạch vận động của cốt truyện. Nhân vật trung tâm là một trong số các nhân vật chính, có vị trí trung tâm, nơi quy tụ mọi mâu thuẫn, gửi gắm chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Các nhân vật còn lại là nhân vật phụ có chức năng bổ sung cho đặc điểm nào đó của nhân vật chính hoặc một khía cạnh nào đó của cốt truyện và chủ đề truyện.

8. Lời người kể chuyện và lời nhân vật

- Lời người kể chuyện và lời nhân vật là những yếu tố cấu thành lớp lời văn nghệ thuật của văn bản tự sự. Lời người kể chuyện gắn với ngôi kể, điểm nhìn, ý thức và giọng điệu của người kể chuyện. Chức năng của nó là miêu tả, trần thuật, đưa ra những phán đoán, đánh giá đối với đối tượng được miêu tả, trần thuật cũng như định hướng việc hình dung, theo dõi mạch kể của người đọc. Trong khi đó, lời nhân vật là ngôn ngữ độc thoại hay đối thoại gắn với ý thức, quan điểm, giọng điệu của chính nhân vật.

- Trong văn bản tự sự, đặc biệt ở các thể loại tự sự hiện đại, lời người kể chuyện và lời nhân vật có khả năng kết nối, cộng hưởng, giao thoa với nhau tạo nên một số hiện tượng đặc biệt về lời văn như lời nửa trực tiếp (lời của người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu của nhân vật), lời độc thoại nội tâm (tái hiện tiếng nói bên trong của nhân vật), lời nhại (lời mô phỏng quan điểm, ý thức của nhân vật với chủ ý mỉa mai hay bông đùa..).

II. MỘT SỐ THỂ LOẠI TRUYỆN

1. Truyện dân gian

1.1. Thần thoại:

- Thần thoại là những truyện về các vị thần, các nhân vật anh hùng, nhân vật sáng tạo văn hoá,... phản ánh nhận thức, cách lí giải của con người thời cổ đại về các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội.

- Thần thoại là thể loại truyện kể xa xưa nhất, thể hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng chinh phục thế giới tự nhiên của con người thời nguyên thuỷ. Căn cứ vào chủ đề, có thể chia thần thoại thành hai nhóm: thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài (thần thoại suy nguyên); thần thoại kể về cuộc chinh phục thiên nhiên và sáng tạo văn hoá (thần thoại sáng tạo). Ra đời trong buổi đầu của loài người nên thần thoại mang tính nguyên hợp chứa đựng các yếu tố nghệ thuật, tôn giáo, triết học, lịch sử,... Vì vậy, thần thoại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ di sản văn hoá nguyên thuỷ của cộng đồng.

+ Thần thoại thường có cốt truyện đơn giản: có thể là cốt truyện đơn tuyến, tập trung vào một nhân vật hoặc là một tổ hợp nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ thần thoại").

+ Không gian trong thần thoại là không gian vũ trụ đang trong quá trình tạo lập, không xác định nơi chốn cụ thể. Thời gian trong thần thoại là thời gian cổ sơ, không xác định và mang tính vĩnh hằng.

+ Nhân vật chính của thần thoại là các vị thần, hoặc những con người có nguồn gốc thần linh, có hình dạng khổng lồ, sức mạnh phi thường…

+ Câu chuyện trong thần thoại gắn liền với thời gian phiếm chỉ mang tính ước lệ và không gian vũ trụ với nhiều cõi khác nhau. Lối tư duy hồn nhiên, chất phác, trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn đã làm nên sức cuốn hút và sức sống lâu bền cho thần thoại.

1.2. Sử thi

-  Sử thi là tác phẩm tự sự có quy mô lớn, bằng văn vần hoặc văn xuôi kết hợp văn vần, xây dựng những hình tượng hào hùng, kì vĩ để kể về những sự kiện lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

-   Cốt truyện của sử thi xoay quanh những biến cố trọng đại liên quan đến vận mệnh của toàn thể cộng đồng như chiến tranh hay công cuộc chinh phục thiên nhiên để ổn định và mở rộng địa bàn cư trú.

-  Nhân vật sử thi là người anh hùng đại diện cho sức mạnh, phẩm chất lí tưởng và khát vọng chung của cộng đồng.

- Không gian sử thi kỳ vĩ, cao rộng, mang tính cộng đồng, có thể bao quát cả thế giới thần linh và con người. Thời gian sử thi là quá khứ thiêng liêng, thuộc về một thời đại xa xưa được cộng đồng ngưỡng vọng

- Lời kể trong sử thi thường ở ngôi thứ ba với thái độ thành kính, trang trọng; nhịp điệu chậm rãi; trần thuật tỉ mỉ, lặp đi lặp lại những từ ngữ khắc họa đặc điểm cố định của nhân vật, sự vật, thường xuyên sử dụng thủ pháp so sánh trùng điệp. Lời người kể chuyện và cả lời nhân vật nhiều khi mang tính khoa trương, cường điệu.

-  Bối cảnh lịch sử - văn hoá: Sử thi ra đời chủ yếu trong giai đoạn xung đột giữa các cộng đồng với nhau, giữa tinh thần tự do của con người và các trật tự của luân lí xã hội.

- Sử thi không chỉ lưu dấu những biến cố quan trọng trong lịch sử của một công đồng, mà còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, hệ giá trị, niềm tin của cộng đồng ấy.

1.3. Truyện thơ dân gian

-  Truyện thơ thuộc loại hình tự sự, có cốt truyện, câu chuyện, nhân vật, lời kể,... nhưng lại được thể hiện dưới hình thức thơ. Với dung lượng tương đối lớn, truyện thơ có thể bao quát được nhiều sự kiện, con người, chi tiết cụ thể, sinh động của đời sống thường nhật.

- Truyện thơ dân gian mang các đặc điểm của văn học dân gian. Truyện thơ dân gian khai thác đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như truyện cổ, sự tích tôn giáo hay những câu chuyện đời thường.

-  Về đề tài, các truyện thơ dân gian đã thể hiện được một cách sinh động đời sống hiện thực và những tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhiều lớp người trong xã hội, nhất là những người lao động nghèo.

-  Cốt truyện thường đơn giản,  xoay quanh số phận của một vài nhân vật chính; có thể sử dụng yếu tố kì ảo.

-  Nhân vật của truyện thơ dân gian thường được phân theo loại (tốt - xấu, thiện - ác), được miêu tả qua những biểu hiện bên ngoài (diện mạo, hành động, lời nói) và qua tâm trạng. Nhân vật chính thường là những con người có số phận ngang trái, bất hạnh trong cuộc sống, tình yêu.

-  Ngôn ngữ trong truyện thơ dân gian gần gũi, chất phác, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh và các biện pháp tu từ.

2. Truyện trung đại

2.1. Truyện truyền kì

- Truyện truyền kì có nguồn gốc từ Trung Hoa và lan tỏa ảnh hưởng tới nhiều quốc gia. Tuy nhiên, khi du nhập vào mỗi nước, tuỳ hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà chúng được biến đổi, tạo nên nét đặc sắc riêng cho mỗi dân tộc.

-  Trong truyện truyền kì, yếu tố kì ảo hiện diện ở mọi thành phần cấu tạo chủ yếu của tác phẩm như nhân vật, sự việc và cả ở thủ pháp nghệ thuật.

Thủ pháp nghệ thuật: Sự kết hợp linh hoạt giữa yếu tố kì ảo với yếu tố thực là thủ pháp quan trọng của truyện truyền kì. Biểu hiện cụ thể là sự hòa trộn không gian các cõi; sự thống nhất về thời gian thực và mộng, biến động xoay vần và tĩnh tại bất biến. Việc sử dụng giấc mộng, đan xen thực tại với hồi ức,... cũng là thủ pháp khá phổ biến giúp các tác giả tạo dựng nên một thế giới nghệ thuật có tính phức hợp.

Đặc điểm ngôn ngữ: Truyện truyền kì thường sử dụng lối nói so sánh - ẩn dụ; ưa hình thức biểu đạt cầu kì, khoa trương, phóng đại; chuộng ngôn từ hoa mĩ; dùng nhiều điển cố, hình ảnh biểu trưng. Nhìn chung, tính văn chương, giá trị biểu cảm của tác phẩm được tác giả truyện truyền kì đặc biệt chú trọng.

2.2. Truyện thơ Nôm

-  Truyện thơ Nôm là loại hình tác phẩm tự sự độc đáo của văn học trung đại Việt Nam, kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, được viết bằng chữ Nôm, chủ yếu sử dụng thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát.

-  Có nhiều tiêu chí phân loại truyện thơ Nôm, trong đó, tiêu chí đặc điểm nội dung và nghệ thuật được sử dụng rộng rãi. Theo tiêu chí này, có thể chia truyện thơ Nôm thành hai nhóm: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học.

- Đề tài, chủ đề của truyện thơ Nôm rất rộng mở, từ tôn giáo, lịch sử, xã hội đến cuộc sống đời thường; đặt ra nhiều vấn đề bức thiết của thời đại. Trong đó, nổi bật là cảm hứng khẳng định tình yêu tự do và cuộc đấu tranh bảo vệ hạnh phúc gia đình; tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ; tố cáo, phê phán xã hội đương thời; thể hiện khát vọng công lí, công bằng.

- Trong truyện thơ Nôm, các câu chuyện thường được kể theo trình tự thời gian với nhiều yếu tố ngẫu nhiên, kì ảo và thường được tổ chức theo mô hình: Gặp gỡ - Chia li - Đoàn tụ. Song mức độ đậm, nhạt và nội dung của từng phần có sự thay đổi tùy theo chủ đề tác phẩm.

-  Nhân vật của truyện thơ Nôm khá phong phú, đa dạng về thành phần. Nhìn chung, nhân vật ở đây vẫn mang tính loại hình, được dựng lên nhằm khái quát các đặc điểm cố định của một số tầng lớp, loại người trong xã hội hoặc một loại phẩm chất nào đó. Các tác giả truyện thơ Nôm đã có ý thức khắc họa nhân vật ở cả hai phương diện: con người bên ngoài (ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động,.) và con người bên trong (cảm xúc, suy nghĩ, diễn biến tâm lí...). Bút pháp tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và phần nào ngôn ngữ nửa trực tiếp đã được sử dụng thành công trong việc khám phá thế giới nội tâm và khắc họa tính cách nhân vật.

-  Truyện thơ Nôm cũng là thể loại có đóng góp to lớn vào việc phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc. Nhiều tác giả truyện thơ Nôm đã sử dụng một cách điêu luyện thể thơ lục bát, kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa của ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân.

2.3. Tiểu thuyết chương hồi

-  Tiểu thuyết chương hồi có nguồn gốc từ Trung Hoa, là tác phẩm tự sự cỡ lớn, được chia thành nhiều chương, mỗi chương lại chia thành các hồi. Hồi sau liên quan mật thiết và là sự tiếp nối của hồi trước.

-    Trong khoảng hơn một ngàn năm từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, đất nước trải qua khá nhiều cuộc chiến tranh, bao gồm cả những cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến trong nước cũng như các cuộc chiến tranh vệ quốc. Điều ấy, như một lẽ tự nhiên, đã quy định cho văn học Việt Nam trở thành tấm gương phản chiếu một cách sống động những diễn biến của lịch sử dân tộc qua các thời kì. Với những thế mạnh của mình, tiểu thuyết chương hồi trung đại Việt Nam đã cung cấp cho người đọc những bức tranh sinh động về các sự kiện, diễn biến lịch sử, giúp người đọc có thể tiếp cận với lịch sử bằng nhiều phương diện, sống động hơn, đa chiều hơn. Tuy nhiên, tiểu thuyết chương hồi trung đại Việt Nam cũng có sự mở rộng về nội dung phản ánh, bên cạnh nội dung lịch sử còn xuất hiện các bộ tiểu thuyết viết về đề tài tình yêu. Đây cũng chính là một trong những khía cạnh vận động của tiểu thuyết chương hồi trung đại Việt Nam.

3. Truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại

3.1. Truyện ngắn

- Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ, hướng tới khắc hoạ một hiện tượng trong đời sống; cốt truyện thường diễn ra trong thời gian, không gian hạn chế; kết cấu không nhiều tầng, nhiều tuyến, thường có ít nhân vật. Truyện ngắn thu hút người đọc bởi nội dung cô đúc, chi tiết có sức ám ảnh, ý tưởng sắc sảo được thể hiện qua tình huống bất ngờ, lời văn hàm súc, mang nhiều ẩn ý.

- Truyện ngắn là loại văn xuôi tự sự có hình thức ngắn gọn. Tuy nhiên, đặc trưng của truyện ngắn không phải chỉ vì nó ngắn mà chủ yếu là cách thức phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhà văn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất nào đó trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Trong truyện ngắn, nếu nhà văn đặt quá nhiều vấn đề, câu chuyện sẽ bị loãng. Do đó, truyện ngắn rất cần sự tập trung vào chủ đề, vào cách tạo ấn tượng.

-  Người viết truyện ngắn luôn luôn chú ý vào một vấn đề cơ bản với sự tỉ mỉ, chi tiết, loại bỏ những gì thiếu súc tích. Maugham cho rằng: truyện ngắn cần phải viết sao cho người ta không thể bổ sung thêm vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì.

- Do dung lượng ngắn, nhân vật của truyện ngắn thường không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ nhưng lại có ý nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp rút, có nhiều yếu tố bất ngờ, chuyển đoạn đột ngột trong giới thiệu, bố cục, kết thúc câu chuyện.

3.2. Tiểu thuyết hiện đại

- Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn. Tiểu thuyết có khả năng phản ánh đời sống rộng lớn, không bị giới hạn về không gian và thời gian; cốt truyện phức tạp, được xây dựng trên nhiều sự kiện, cảnh ngộ, nhiều mối xung đột; miêu tả nhiều tuyến nhân vật, nhiều quan hệ chồng chéo với những diễn biến tâm lí phức tạp, đa dạng. Kinh nghiệm sống cá nhân của nhà văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật. Tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác.

-  Đặc trưng của tiểu thuyết được xác định trong mối quan hệ với các thể loại khác:

 Tiểu thuyết và sử thi:

+ Sử thi thể hiện quá khứ anh hùng của dân tộc mà cơ sở là kí ức của cộng đồng truyền thống, còn tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại, không ngừng biến đổi, sinh thành theo kinh nghiệm cá nhân.

+ Đối tượng của sử thi là những nhân vật của quá khứ được kính trọng và tôn thờ, còn đối tượng của tiểu thuyết là con người hiện tại, con người của cuộc sống đời thường, hàng ngày.

+ Trong sử thi, khoảng cách giữa người kể và nhân vật không thể vượt qua (khoảng cách sử thi), còn trong tiểu thuyết, khoảng cách đó được phá vỡ, xoá bỏ.

Tiểu thuyết và truyện thơ trường thiên, trường ca và sử thi:

+ Tiểu thuyết có chất văn xuôi, tức là sự tái hiện cuộc sống với những chi tiết giống như thật, không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lí tưởng hoá.

+ Ở tiểu thuyết, điều quan trọng không phải là kể mà là làm cho sự sống hiển hiện để người đọc tự cảm thấy.

+ Tiểu thuyết không thiên về chất thơ mà hấp thụ vào bản thân mình mọi yếu tố ngổn ngang của cuộc đời.

Nhân vật tiểu thuyết với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung đại

- Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải chứ không phải là nhân vật hành động hay nêu gương đạo đức. Con người nếm trải thường có những thăng trầm biến đổi, đau khổ, dằn vặt, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác và thế giới nội tâm phong phú.

- Tiểu thuyết miêu tả nhân vật trong hoàn cảnh, không tách nó khỏi hoàn cảnh một cách giả tạo, không cô lập cũng như cường điệu sức mạnh của nó. Con người vừa chịu tác động của hoàn cảnh song cũng có sự độc lập của mình.

- Con người trong tiểu thuyết không bất biến, có quá trình phát triển quanh co phức tạp về tính cách tâm lý.

- Nhân vật tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ, toàn diện, sinh động từ ngoại hình đến hành động, ngôn ngữ, tâm lý, tính cách; trong các mối quan hệ; từ bình diện ý thức đến vô thức, từ tư tưởng đến bản năng…

- Nhân vật tiểu thuyết có khả năng khái quát hiện thực, khái quát quan điểm nghệ thuật của nhà văn.