KHỞI ĐỘNG
Câu 1: Để nhận ra những hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong sáng tác văn học, cần:
- Nắm vững quy ước ngôn ngữ có tính chuẩn mực của tiếng Việt.
- Nắm bắt được các quy ước ngôn ngữ quốc tế.
- Nắm bắt được các biện pháp nghệ thuật.
- Nắm bắt được các thuật ngữ văn học.
Câu 2: Đâu là hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong sáng tác văn học?
- Sử dụng hình thức đảo ngữ.
- Sử dụng hình thức đối.
- Sử dụng hình thức lặp cấu trúc.
- Sử dụng hình thức điệp từ.
Câu 3: Đâu là hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong sáng tác văn học?
- Sử dụng hình thức hò, vè.
- Sử dụng hình thức đối.
- Cung cấp nét nghĩa mới cho từ ngữ nhằm đưa đến phát hiện bất ngờ về đối tượng.
- Sử dụng hình thức đối – đáp.
Câu 4: Đâu là hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong sáng tác văn học?
- Sử dụng hình thức đề vịnh.
- Sử dụng hình thức ca ngâm.
- Sử dụng nét nghĩa nguyên bản của từ ngữ.
- Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới.
Đáp án
| 1.A | 2.A | 3.C | 4.D |
LÝ THUYẾT
1. Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
- Là việc người viết chủ động, sáng tạo sử dụng các từ ngữ, cú pháp hoặc cách kết hợp từ khác lạ, lệch chuẩn so với các quy tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa thông thường.
- Nhằm thể hiện cái nhìn độc đáo của người viết về đối tượng, gợi những liên tưởng lạ lùng, mới mẻ cho người đọc, đồng thời làm mới cách biểu đạt và tránh sự sáo mòn trong sử dụng ngôn từ.
2. Đặc điểm nhận diện
- Trong thơ: Thường thể hiện qua việc đảo trật tự từ, phá vỡ tính logic ngữ nghĩa thông thường của dòng thơ hoặc kết hợp những từ ngữ xa lạ về trường nghĩa.
- Trong văn xuôi: Thường thể hiện qua cách kết hợp từ ngữ độc đáo, tạo ra những cụm từ mang tính cá thể hóa cao, kích thích liên tưởng mạnh mẽ.
THỰC HÀNH
Bài 1. Câu thơ nào dưới đây cho thấy tác giả đã thể hiện sự sáng tạo bằng cách phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường? Dựa vào đâu bạn kết luận như vậy?
a. Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.
(Hồ Xuân Hương, Cảnh thu)
b. Trong vườn đêm ấy nhiểu trăng quá,
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.
(Xuân Diệu, Trăng)
Gợi ý trả lời:
a. Trong tiếng Việt, tính từ thường được đặt sau danh từ mà nó bổ nghĩa. Với nội dung được đề cập ở hai câu thơ của Hồ Xuân Hương, cách nói phổ biến là: cổ thụ xanh um, tán tròn xoe; tràng giang trắng xoá, phẳng lặng như tờ. Nhưng ở đây, Hồ Xuân Hương đã đặt tính từ đứng trước danh từ "Xanh om cổ thụ tròn xoe tán”; “Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ”. Đó là sáng tạo bằng cách phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường.
b. Ở câu thơ của Xuân Diệu, “nhiểu trăng” là cách kết hợp lạ, không gặp trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày. Lượng từ nhiểu hay ít không kết hợp với danh từ trăng (bởi trăng thì chỉ có một). Có thể tác giả muốn nói: trong vườn đêm ấy tràn ngập ánh trăng. Tuy nhiên đây là thơ – lĩnh vực cho phép tác giả dùng kiểu kết hợp bất ngờ, tạo nên những lời thơ độc đáo, vượt ra ngoài lối nói thông thường.
Bài 2. Chỉ ra cụm từ có cách kết hợp từ không bình thường và phân tích hiệu quả của cách kết hợp đó ở hai câu sau:
a. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cố thì, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà...
(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ai đã đặt tên cho dòng sông?)
b. Để khi khoác ba lô lần đầu về Đất Mũi, rằng, thôi thì, ta cứ lỏng tay thơ thẩn với Cà Mau.
(Trần Tuấn, Cà Mau quê xứ)
Gợi ý trả lời:
a. Ở đây, “bát ngát tiếng gà” là một cụm từ có kiểu kết hợp từ không bình thường, vì bát ngát vốn là từ chỉ không gian, không thể bổ nghĩa cho tiếng gà. Người ta chỉ có thể nói: xao xác tiếng gà, vang rộn tiếng gà... Tuy nhiên, tương ứng với tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, cụm từ “bát ngát tiếng gà” lại trở nên hợp lí, nó góp phần vẽ ra cái xa xăm, rộng mở, mênh mông của không gian.
b. Trong câu văn này, cụm từ “lỏng tay thơ thẩn với Cà Mau” có kiểu kết hợp lạ. “Lỏng tay” thường dùng khi nói về việc cầm, nắm một vật gì đó. Nghĩa chuyển của “lỏng tay” là không quá chặt chẽ, khắt khe. Theo quy tắc ngôn ngữ thông thường, người ta có thể nói: thành thời thơ thần với Cà Mau, rảnh tay thợ thần với Cà Mau.... Từ lỏng tay được dùng theo cách kết hợp lạ như trong văn bản có tác dụng thể hiện trạng thái tâm lí thoải mái, nhẹ nhàng của tác giả khi đến với Cà Mau.
Bài 3.
Thế là cãi nhau, hai thằng miền Trung giữa cái nắng miệt mài bên những hạt phù sa sinh nở khỏi từ hai chữ "quê nhà" ấy của thi sĩ đất Bắc.
(Trần Tuấn, Cà Mau quê xứ)
Tìm các từ ngữ có thể kết hợp hợp lí với cụm từ cái nắng trong câu trên. So sánh những cụm từ mà bạn tạo ra với cụm từ cái nắng miệt mài để thấy tác dụng của phương án kết hợp mà tác giả lựa chọn.
Gợi ý trả lời:
- Có thể thay từ “miệt mài” bằng các từ như dai dẳng, triền miên để tạo thành các cụm từ “cái nắng dai dẳng”, “cái nắng triền miên”.
- Các từ dai dẳng, triền miên, miệt mài đều có thể gợi tình trạng nắng kéo dài. Tuy nhiên, “dai dẳng”, “triền miên” chủ yếu nhấn mạnh thời gian kéo dài của nắng, còn “miệt mài” mang sắc thái nhân hóa, gợi ra nét “tính cách” siêng năng, cần cù, bền bỉ như con người. Cách kết hợp từ ngữ độc đáo này khiến cái nắng miền Trung hiện lên như một con người cần mẫn, miệt mài tỏa nắng, qua đó tạo nên cách diễn đạt giàu sức gợi và đậm chất thơ.
Bài 4. Nhận xét đặc điểm các cụm từ in đậm trong hai câu sau và phân tích giá trị biểu đạt của từng trường hợp:
a. Giờ tới lượt bạn tôi gửi lại nơi này mấy đọt phù sa thơ kèm chút gió Lào cố quận.
(Trần Tuấn, Cà Mau quê xứ)
b. Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng Hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.
(Nguyễn Tuân, Người lái đò Sông Đà)
Gợi ý trả lời
a. “Đọt phù sa”
Thông thường, người ta nói hạt phù sa, nhưng Trần Tuấn lại viết đọt phù sa. Đây là sự kết hợp từ ngữ khác thường, tạo nên cách diễn đạt giàu tính tạo hình. Phù sa vốn là chất đất được bồi đắp, nay hiện lên có dáng nét, hình hài, như những đọt cây đang nhú lên, tràn đầy sức sống. Đặc biệt, trong ngữ cảnh này, tác giả không nói về đất đai mà nói về thơ. Hình ảnh “đọt phù sa thơ” gợi hình dung về một thứ thơ tươi mới, non tơ, tràn trề nhựa sống, mang đậm hơi thở và sức sống của quê hương.
b. Câu văn của Nguyễn Tuân trong Người lái đò Sông Đà có hai cụm từ đáng chú ý:
- “Áng tóc trữ tình” là cụm từ có cách kết hợp bất ngờ. Từ “áng” thường gặp trong các kết hợp như áng mây, áng thơ, áng văn. Việc Nguyễn Tuân dùng “áng tóc” tạo nên cách diễn đạt mới lạ, khiến dòng sông hiện lên như một mái tóc dài mềm mại, duyên dáng. Hơn nữa, sự kết hợp “tóc trữ tình” tiếp tục tăng chất thơ cho hình ảnh, làm nổi bật vẻ đẹp thơ mộng, quyến rũ của sông Đà.
- “Cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” là cụm từ có nét mơ hồ về nghĩa do trật tự từ ngữ không theo quan hệ logic thông thường. Nếu diễn đạt tường minh, có thể viết: Khói đốt nương vào mùa xuân cuồn cuộn bốc mù trên những dãy núi của người Mèo. Việc đảo trật tự từ ngữ khiến câu văn giảm đi tính rõ ràng, tường minh nhưng lại mở ra nhiều liên tưởng thú vị, gợi những lớp khói dày đặc, cuộn lên giữa núi rừng Tây Bắc trong mùa xuân. Qua đó, câu văn vừa giàu tính tạo hình, vừa thể hiện phong cách ngôn ngữ tài hoa, phóng túng của Nguyễn Tuân.



Bình luận