Bạn nghĩ gì khi nhìn thấy (trực tiếp hoặc qua phim ảnh) những hàng bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội)?

Gợi ý:

Khi nhìn thấy những hàng bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, em cảm thấy rất tự hào vì từ nhiều thế kỉ trước, cha ông ta đã biết coi trọng hiền tài và lưu danh những người có học vấn, có cống hiến cho đất nước. Những tấm bia đá phủ màu thời gian không chỉ ghi tên các vị tiến sĩ mà còn nhắc nhở các thế hệ sau về truyền thống hiếu học của dân tộc. Em cũng nhận ra rằng để tên mình được khắc trên bia, các bậc tiền nhân đã phải học tập, rèn luyện và giữ gìn phẩm hạnh suốt nhiều năm. Điều đó khiến em hiểu rằng việc học hôm nay không chỉ để đạt điểm cao hay có một nghề nghiệp tốt, mà còn để hoàn thiện bản thân và có thể đóng góp cho xã hội trong tương lai. Những hàng bia tiến sĩ vì thế không chỉ là di sản lịch sử mà còn là nguồn động lực để thế hệ trẻ noi theo.

TÌM HIỂU CHUNG

Thân Nhân Trung (1419–1499) là danh thần, nhà văn, nhà giáo dục tiêu biểu thời Lê sơ. Ông đỗ tiến sĩ năm 1469, làm quan dưới triều vua Lê Thánh Tông, giữ nhiều chức vụ quan trọng và là thành viên chủ chốt của Hội Tao đàn. Văn chương của ông giàu tính chính luận, lập luận chặt chẽ, thể hiện tư tưởng đề cao hiền tài, coi trọng giáo dục và trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đất nước. 

Năm 1484, khi vua Lê Thánh Tông cho dựng bia ghi danh các tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Thân Nhân Trung được giao soạn bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) – bài văn bia mở đầu cho hệ thống bia tiến sĩ còn lưu giữ đến ngày nay. 

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" là một đoạn trích trong bài văn bia nói trên. Trước đoạn này tác giả nêu chủ trương bồi dưỡng, trọng dụng hiền tài của các triều vua Lê. Sau đoạn này là danh sách 33 vị đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442).

Văn bia là một thể văn nghị luận trung đại, được khắc trên bia đá để ghi chép những sự kiện, nhân vật hoặc công trình có ý nghĩa lịch sử, văn hóa. Bên cạnh chức năng lưu giữ thông tin, văn bia còn bày tỏ tư tưởng, quan điểm của người viết nhằm ca ngợi, giáo huấn hoặc khuyến khích người đời sau noi theo. Vì được khắc trên đá để lưu truyền lâu dài, văn bia thường có kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ trang trọng, cô đọng và giàu sức thuyết phục.

KHÁM PHÁ VĂN BẢN

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

(trích)

Thân Nhân Trung

[...] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

Nay thánh minh lại cho rằng chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chỉ là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.

Ôi, kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?

Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dụng tấm bia đá này ích lợi rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải là vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này. [...]

(Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 41 – 42)

1. Tìm trong đoạn 2 của văn bản những từ ngữ thể hiện thái độ trọng dụng hiền tài của "các đấng thánh đế minh vương".

Trong đoạn 2 của văn bản, những từ ngữ và hình ảnh thể hiện thái độ trọng dụng hiền tài của "các đấng thánh đế minh vương" gồm:

  • "lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên" → coi việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài là quốc sách hàng đầu. 
  • "quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng" → hết sức coi trọng, yêu mến người hiền tài. 
  • "yêu mến cho khoa danh" → tạo điều kiện để người tài được ghi nhận bằng danh vị khoa cử. 
  • "đề cao bằng tước trật" → ban chức tước, trọng dụng người có tài. 
  • "Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ" → đãi ngộ hậu hĩnh nhưng vẫn muốn tôn vinh hơn nữa. 
  • "nêu tên ở tháp Nhạn" → ghi danh người đỗ đạt để lưu truyền tiếng thơm. 
  • "ban danh hiệu Long hổ" → tôn vinh người tài bằng danh hiệu cao quý. 
  • "bày tiệc Văn hỉ" → mở tiệc mừng những người đỗ đạt. 
  • "Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất" → khẳng định sự trân trọng đặc biệt và những chính sách đãi ngộ cao nhất dành cho hiền tài. 

Nhận xét

Qua hệ thống từ ngữ và phép liệt kê trên, tác giả cho thấy các bậc minh quân không chỉ phát hiện, tuyển chọn mà còn tôn vinh, đãi ngộ và khích lệ hiền tài bằng nhiều hình thức. Điều đó thể hiện tư tưởng nhất quán của triều Lê: coi hiền tài là nền tảng của quốc gia và xem việc trọng dụng nhân tài là quốc sách hàng đầu.

2. Trong văn bản có một câu trực tiếp nói về việc dựng bia ghi danh những người đỗ tiến sĩ. Bạn hãy cho biết đó là câu nào?

Câu văn trực tiếp nói về mục đích của việc dựng bia ghi danh những người đỗ tiến sĩ là:

"Thế thì việc dựng tấm bia đá này ích lợi rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước."

Câu văn cho thấy việc dựng bia tiến sĩ không chỉ nhằm lưu danh những người đỗ đạt mà còn có ý nghĩa giáo dục và khuyến khích các thế hệ sau noi gương tiền nhân, giữ gìn phẩm hạnh, ra sức học tập và cống hiến. Đồng thời, đây cũng là một chính sách quan trọng để bồi dưỡng hiền tài, góp phần xây dựng và củng cố đất nước.

3. Xác định luận đề của văn bản và cho biết vì sao bạn xác định như vậy.

Luận đề của văn bản là: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia; vì vậy cần coi trọng, bồi dưỡng, tôn vinh và phát huy vai trò của hiền tài để xây dựng và phát triển đất nước.

Sở dĩ xác định như vậy vì:

  • Luận đề được nêu trực tiếp ngay ở đầu văn bản qua câu: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".
  • Toàn bộ văn bản đều tập trung làm sáng tỏ luận đề này bằng hệ thống lí lẽ và dẫn chứng: khẳng định vai trò của hiền tài đối với sự hưng thịnh của quốc gia; trình bày chính sách trọng dụng nhân tài của các bậc minh quân; nêu mục đích, ý nghĩa của việc dựng bia tiến sĩ để khuyến khích người tài, giáo dục kẻ sĩ và củng cố mệnh mạch của đất nước.

4. Xét về nội dung, đoạn (3), có mối quan hệ như thế nào với đoạn (2)? 

Đoạn (3) có mối quan hệ tiếp nối và phát triển nội dung của đoạn (2).

  • Đoạn (2) nêu mục đích và ý nghĩa của việc dựng bia tiến sĩ: khích lệ kẻ sĩ noi gương, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua.
  • Đoạn (3) tiếp tục triển khai ý đó bằng cách đặt ra trách nhiệm của người được vinh danh. Trước sự trọng đãi của triều đình, người đỗ đạt phải biết tự trọng, tu dưỡng phẩm hạnh và hết lòng cống hiến để báo đáp đất nước.

Như vậy, từ việc đề cao và tôn vinh hiền tài ở đoạn (2), tác giả chuyển sang nhắc nhở và khẳng định trách nhiệm của hiền tài ở đoạn (3), làm cho lập luận trở nên chặt chẽ và thuyết phục.

5. Bạn hãy khái quát về nội dung đoạn (4) và cho biết đoạn này đảm nhận chức năng gì trong mạch lập luận.

- Nội dung: Đoạn văn nêu lên trách nhiệm của người hiền tài. Trước sự đề cao và trọng dụng của triều đình, kẻ sĩ phải biết tự trọng, giữ gìn danh tiết và đem tài năng của mình cống hiến để báo đáp đất nước.

- Chức năng trong mạch lập luận: Đây là đoạn chuyển ý, giữ vai trò kết nối giữa phần trình bày chính sách trọng dụng hiền tài của triều đình với phần phân tích ý nghĩa của việc dựng bia tiến sĩ. Từ việc nhấn mạnh sự đãi ngộ của nhà nước, tác giả chuyển sang nhắc nhở trách nhiệm của người hiền tài, tạo tiền đề để khẳng định tác dụng giáo dục và giá trị lâu dài của bia tiến sĩ ở đoạn tiếp theo.

6. Khi viết bài văn bia, tác giả đã thể hiện ít nhất hai tư cách: một là của người truyền đạt “thánh ý”, hai là của kẻ sĩ được trọng dụng, thường suy nghĩ về việc báo đáp. Việc thống nhất hai tư cách đó đã chi phối như thế nào đến cách triển khai luận điểm của tác giả?

Khi viết bài văn bia, Thân Nhân Trung đã thống nhất hai tư cách: người truyền đạt "thánh ý" của vua Lê Thánh Tông và một kẻ sĩ được triều đình trọng dụng, luôn ý thức về trách nhiệm báo đáp đất nước. Sự thống nhất đó đã chi phối cách triển khai luận điểm của tác giả.

Với tư cách người truyền đạt "thánh ý", tác giả khẳng định vai trò của hiền tài đối với sự hưng thịnh của quốc gia, ca ngợi chính sách trọng dụng nhân tài của các bậc minh quân và làm sáng tỏ mục đích, ý nghĩa của việc dựng bia tiến sĩ.

Với tư cách một kẻ sĩ, tác giả không chỉ truyền đạt chủ trương của triều đình mà còn bộc lộ suy nghĩ, tình cảm và ý thức trách nhiệm của chính mình. Điều đó thể hiện qua lời nhắn nhủ: "Ôi, kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh... thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?" Từ việc đề cao sự trọng dụng của triều đình, tác giả chuyển sang nhắc nhở người hiền tài phải giữ gìn danh tiết, đem tài năng cống hiến cho đất nước.

Nhờ thống nhất hai tư cách ấy, bài văn bia không chỉ thể hiện ý chí và chủ trương của nhà vua mà còn là tiếng nói chân thành của một trí thức trong cuộc. Vì thế, lập luận vừa có tính chính danh, vừa giàu sức thuyết phục và cảm hóa, làm nổi bật tư tưởng "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".

7. Tìm một vài dẫn chứng lịch sử (từ những tác phẩm, tài liệu đã học và tìm hiểu thêm) để làm sáng tỏ nhận định sau đây của tác giả bài văn bia: “Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.”

Nhận định của Thân Nhân Trung được chứng minh qua nhiều sự kiện trong lịch sử dân tộc.

  • Thời Lý, năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn nhân tài; năm 1076 cho lập Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên của nước ta, nhằm đào tạo hiền tài cho đất nước.
  • Thời Trần, các vua Trần thường xuyên mở khoa thi, trọng dụng nhiều nhân tài như Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An. Đặc biệt, Chu Văn An là tấm gương tiêu biểu về tài năng và nhân cách, được triều đình kính trọng.
  • Thời Lê sơ, vua Lê Thánh Tông đặc biệt coi trọng giáo dục và khoa cử: mở nhiều khoa thi, hoàn thiện chế độ thi cử, thành lập Hội Tao đàn và cho dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám để tôn vinh người hiền tài, khuyến khích các thế hệ sau noi theo.

Những dẫn chứng trên cho thấy, các triều đại Việt Nam đều coi việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là một trong những yếu tố quyết định sự hưng thịnh và phát triển của đất nước.

8. Qua việc đọc văn bản ở trên, bạn hiểu gì về tầm quan trọng của việc xác định mục đích viết và bày tỏ quan điểm của người viết trong văn nghị luận?

Qua văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, em hiểu rằng việc xác định rõ mục đích viết và bày tỏ quan điểm của người viết có ý nghĩa rất quan trọng trong văn nghị luận. Mục đích viết sẽ quyết định cách lựa chọn luận đề, triển khai luận điểm, sử dụng lí lẽ và dẫn chứng. Đồng thời, quan điểm của người viết cần được thể hiện rõ ràng, nhất quán để tăng sức thuyết phục đối với người đọc.

Trong văn bản này, Thân Nhân Trung viết nhằm khẳng định vai trò của hiền tài và làm sáng tỏ ý nghĩa của việc dựng bia tiến sĩ. Vì mục đích ấy, tác giả đã xây dựng hệ thống luận điểm chặt chẽ, kết hợp lí lẽ với dẫn chứng và bộc lộ rõ quan điểm đề cao hiền tài, coi việc trọng dụng nhân tài là nền tảng cho sự hưng thịnh của quốc gia.

KẾT NỐI ĐỌC - VIẾT

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ của bạn về sự cần thiết của việc trọng dụng hiền tài.

Hiền tài luôn giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Họ là những người hội tụ cả đức và tài, có khả năng cống hiến trí tuệ, năng lực và nhân cách cho cộng đồng. Vì vậy, trọng dụng hiền tài không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng đối với những người có năng lực mà còn là điều kiện để đất nước phát triển bền vững. Muốn trọng dụng hiền tài, cần có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng đúng người, đúng việc, tạo môi trường công bằng để họ phát huy khả năng và cống hiến lâu dài. Đồng thời, mỗi người cũng cần không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức và nâng cao năng lực để trở thành hiền tài, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.