VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MỘT TÁC PHẨM THƠ

YÊU CẦU 

- Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, khuynh hướng, trào lưu văn học gắn với bài thơ; lí do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).

- Chỉ ra và phân tích được những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,...).

- Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa nhân sinh.

BÀI VIẾT THAM KHẢO

Đọc bài viết tham khảo: Những điệu xanh của mùa xuân (Đọc Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính)

MÙA XUÂN XANH
Nguyễn Bính

Mùa xuân là cả một mùa xanh,
Giời ở trên cao, lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,
Tôi đợi người yêu đến tự tình.
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

1937

- Vấn đề chính được bàn luận: Vẻ đẹp của bài thơ Mùa xuân xanh

- Tác giả đã triển khai các luận điểm theo trình tự:

+ Giới thiệu chung (tác giả, tác phẩm, định hướng phân tích)

+ Phân tích các yếu tố làm nên vẻ đẹp của bài thơ (nhan đề, câu mở đầu, mạch triển khai hệ thống hình ảnh, từ ngữ, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, các phép tu từ đối, điệp,…)

+ Liên hệ so sánh với thơ truyền thống để làm rõ những nét mới mẻ của bài thơ (cách cảm nhận thiên nhiên, kiểu câu thơ vắt dòng)

+ Khẳng định giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân bản của bài thơ.

Phân tích bài viết tham khảo

1. Ưu điểm của cách cảm nhận và phân tích thơ vừa theo tuyến hình ảnh trải dọc bài thơ, vừa theo trình tự câu thơ, khổ thơ:

- Cách cảm nhận và phân tích này chỉ ra được các hình ảnh nổi bật trong bài thơ từ đó đánh giá và nhận xét được suy nghĩ, quan niệm của tác giả một cách chính xác nhất.

- Cách cảm nhận và phân tích này thể hiện được rõ ràng mạch cảm xúc của bài thơ, phân tích bài thơ theo từng câu, từng khổ thơ một cách rõ ràng và mạch lạc để người đọc có thể dễ dàng hiểu được nội dung bài thơ từ đầu đến cuối.

- Với bài thơ Mùa xuân xanh, cách cảm nhận này không chỉ làm nổi bật được nội dung bài thơ, phân tích được tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong từng câu thơ, khổ thơ; mà còn nhấn mạnh được các chi tiết, hình ảnh quan trọng trong bài thơ.

Cách cảm nhận và phân tích vừa theo tuyến hình ảnh dọc bài thơ vừa theo trình tự câu thơ, khổ thơ giúp người đọc cảm nhận bài thơ một cách dễ hơn, rõ ràng hơn và không bị bỏ quên một chi tiết nào của bài thơ.

2. Trong bài nghị luận phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ, thực chất của việc phân tích chủ đề là việc phân tích, nêu cảm nhận của bản thân về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ đó. Phân tích chủ đề để làm nổi bật lên nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ đồng thời nhận xét và đánh giá quan niệm của tác giả qua bài thơ đó.

3. Người viết đã đánh giá là bài thơ giản dị mà vẫn làm toát lên sức sống phơi phới của vạn vật lúc xuân về. Nó là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hòa giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi.

- Về tính thuyết phục của đánh giá trên:

+ Người viết đã phân tích từng câu thơ, từng hình ảnh trong bài thơ để làm nổi bật giá trị nội dung của bài thơ.

+ Người viết cũng nêu và phân tích được các biện pháp nghệ thuật tu từ trong bài thơ và nhận xét được phong cách nghệ thuật của tác giả.

+ Ngoài ra, người viết cũng sử dụng một số câu thơ, bài thơ cùng chủ đề để so sánh và đánh giá.

Đánh giá của người viết với bài thơ đã đủ sức thuyết phục người đọc, có những luận điểm, lí lẽ và bằng chứng xác đáng, làm nổi bật được giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

THỰC HÀNH VIẾT

Chuẩn bị viết

- Lựa chọn bài thơ sẽ được phân tích, đánh giá.

- Ví dụ một số đề bài văn nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm thơ: 

+ Vẻ đẹp của mùa thu trong bài thơ Thu hứng (Đỗ Phủ)

+ Phân tích sự độc đáo của hình ảnh trong thơ hai-cư

+ Mạch liên kết cảm xúc trong bài thơ Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử)

Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý

- Đọc lại bài thơ đã lựa chọn. Có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng để cảm nhận đầy đủ hơn về âm điệu, nhịp điệu của nó. Chú ý những cách diễn đạt lạ, có thể lần đầu mình bắt gặp và những hình ảnh gây ấn tượng. Sau khi đọc, hãy suy nghĩ vì sao bài thơ lại có những cách tổ chức và kết hợp ngôn từ đặc biệt như vậy.

- Thử liên kết âm điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh của bài thơ và chú ý xem mạch liên kết này có thể đem đến cho bạn sự bất ngờ nào trong cảm xúc, liên tưởng và nhận thức.

- Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng tác, chú ý bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học của bài thơ - có thể giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.

- Khi phân tích nội dung nghệ thuật của bài thơ, chú ý vận dụng các thao tác so sánh và liên tưởng một cách thích hợp. (Ví dụ: so sánh từ ngữ mà nhà thơ lựa chọn với những từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa, từ đó lý giải vì sao lựa chọn của nhà thơ có thể được xem nhà tối ưu.)

- Cần tập trung vào những phương diện hình thức nghệ thuật và nội dung của bài thơ mà người đọc xem là độc đáo, mới mẻ, thú vị. 

- Khi đánh giá bài thơ, cần chú ý đầy đủ các giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn của nó. (Bài thơ gợi cho bạn những trải nghiệm đặc biệt gì về cảm giác, cảm xúc, nhận thức? Những trải nghiệm đó có ý nghĩa như thế nào đối với bạn?)

Lập dàn ý 

+ Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ và mạch cảm xúc chính 

+ Thân bài: Mạch ý tưởng cảm xúc, sự phát triển của các hình tượng chính, nét hấp dẫn riêng của bài thơ 

+ Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và thẩm mĩ của bài thơ

Viết

- Mỗi ý cần được triển khai thành một đoạn văn

- Chú ý diễn đạt, hình ảnh, chú ý dẫn các dòng thơ, khổ thơ, nối chuyển 

- Cần thể hiển được sự rung động thực sự của mình trước bài thơ

Chỉnh sửa, hoàn thiện 

Đọc lại và chỉnh sửa bài viết, đối chiếu với các yêu cầu của đề bài. 

Chỉnh sửa các lỗi về chính tả và ngữ pháp.

LUYỆN TẬP 

Đề bài: Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử 

Phân tích đề

- Dạng bài: nghị luận đánh giá, phân tích một tác phẩm thơ

- Về nội dung: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

- Về thao tác lập luận: Sử dụng tổng hợp các thao tác lập luận để triển khai vấn đề nghị luận

- Về phạm vi dẫn chứng: Sử dụng ngữ liệu trong tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.

Hệ thống luận điểm triển khai bài viết: 

+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm

+ Phân tích, đánh giá sự gợi mở của nhan đề bài thơ

+ Phân tích, đánh giá mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình

+ Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và con người qua những tín hiệu thẩm mĩ (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ,…)

+ Nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề tài, chủ đề, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả khác). 

+ Khẳng định giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân bản của bài thơ.

Bài viết tham khảo 

Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Thơ ông là sự hòa quyện độc đáo giữa cảm xúc mãnh liệt, trí tưởng tượng phong phú và khát vọng sống tha thiết của một tâm hồn tài hoa nhưng nhiều đau đớn. Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ điên, là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của Hàn Mặc Tử. Bài thơ không chỉ khắc họa vẻ đẹp của xứ Huế mà còn thể hiện tâm trạng cô đơn, khắc khoải cùng niềm khao khát giao cảm với cuộc đời của nhà thơ.

Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã gợi mở nhiều tầng ý nghĩa. Từ chỉ định “đây” tạo cảm giác gần gũi, như một lời giới thiệu thân mật, một tiếng gọi tha thiết hướng về thôn Vĩ. Nhan đề không phải là “Thôn Vĩ Dạ” mà là “Đây thôn Vĩ Dạ”, khiến cảnh vật hiện lên như đang hiện diện trước mắt. Đằng sau lời giới thiệu ấy là một nỗi nhớ da diết của chủ thể trữ tình đối với miền đất đẹp đẽ, nơi lưu giữ những kỉ niệm sâu sắc. Nhan đề vừa gợi một không gian cụ thể, vừa mở ra hành trình trở về trong tâm tưởng của nhà thơ.

Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình vận động qua ba khổ thơ với những cung bậc khác nhau. Khổ thơ đầu là nỗi nhớ và niềm khát khao hướng về vẻ đẹp của cuộc sống. Câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” vừa như lời mời gọi, vừa như lời trách yêu, đánh thức trong lòng người đọc cảm giác thân tình và gần gũi. Từ đó, bức tranh thôn Vĩ hiện lên tươi sáng, tràn đầy sức sống với nắng mới, vườn cây xanh mướt và khuôn mặt con người thấp thoáng sau hàng cau, lá trúc. Sang khổ thơ thứ hai, cảm xúc chuyển dần sang nỗi buồn chia xa. Thiên nhiên vẫn đẹp nhưng đã nhuốm màu tâm trạng với gió, mây, dòng nước, hoa bắp trong trạng thái chia lìa, xa cách. Đến khổ thơ cuối, cảm xúc trở thành sự hoài nghi, khắc khoải. Hình ảnh con người hiện lên mờ ảo trong sương khói, và câu hỏi kết thúc bài thơ chứa đựng nỗi băn khoăn về tình người, tình đời. Mạch cảm xúc ấy đi từ niềm vui nhớ thương đến cô đơn, rồi lắng lại trong nỗi khát khao giao cảm nhưng đầy bất an.

Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ được thể hiện qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ đặc sắc. Ở khổ đầu, hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” gợi ánh sáng trong trẻo của buổi sớm mai. Điệp từ “nắng” vừa làm nổi bật vẻ tươi tắn của cảnh vật vừa tạo cảm giác ấm áp, tràn đầy sinh khí. Khu vườn thôn Vĩ hiện lên qua hình ảnh so sánh độc đáo: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Màu xanh không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn như có độ trong, độ sáng của một viên ngọc quý. Hình ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền” vừa gợi vẻ đẹp kín đáo, thanh tao của con người xứ Huế, vừa tạo nên nét duyên dáng, hài hòa giữa con người với thiên nhiên.

Khổ thơ thứ hai mang vẻ đẹp của một bức tranh sông nước nhưng đã thấm đẫm tâm trạng. Phép đối trong câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” diễn tả sự chia lìa, xa cách. Nhịp thơ chậm, đều như kéo dài nỗi buồn của nhân vật trữ tình. Hình ảnh “thuyền ai đậu bến sông trăng đó” là một sáng tạo giàu chất mộng. Con sông không còn là dòng nước thông thường mà hóa thành “sông trăng”, vừa thực vừa ảo, thể hiện trí tưởng tượng độc đáo của Hàn Mặc Tử. Câu hỏi “Có chở trăng về kịp tối nay?” chất chứa niềm mong ngóng, khát khao được níu giữ vẻ đẹp và hạnh phúc đang dần xa khuất.

Đến khổ cuối, không gian trở nên mờ nhòe, hư ảo với “khách đường xa”, “áo em trắng quá”, “sương khói mờ nhân ảnh”. Điệp ngữ “khách đường xa” gợi cảm giác xa vời, cách biệt. Hình ảnh con người không hiện lên rõ nét mà thấp thoáng trong màn sương của kí ức và tưởng tượng. Câu hỏi kết thúc: “Ai biết tình ai có đậm đà?” là tiếng lòng đầy day dứt của một tâm hồn luôn khao khát yêu thương nhưng lại lo âu trước sự mong manh của tình người.

So với nhiều bài thơ cùng đề tài thiên nhiên, tình yêu và nỗi nhớ trong phong trào Thơ mới, Đây thôn Vĩ Dạ có sức hấp dẫn riêng bởi sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp hiện thực và thế giới mộng tưởng. Nếu trong Tràng giang của Huy Cận là nỗi sầu vũ trụ, hay trong Tương tư của Nguyễn Bính là nỗi nhớ mang màu sắc dân gian, thì ở Hàn Mặc Tử, nỗi nhớ được thể hiện qua những hình ảnh vừa thực vừa ảo, giàu tính tượng trưng và thấm đẫm cảm giác chia lìa. Chính điều đó đã tạo nên một giọng điệu riêng không thể trộn lẫn.

Đây thôn Vĩ Dạ là một thi phẩm giàu giá trị thẩm mĩ và nhân bản. Bài thơ không chỉ cho thấy tài năng nghệ thuật độc đáo của Hàn Mặc Tử trong việc xây dựng hình ảnh, ngôn ngữ và nhạc điệu mà còn thể hiện tình yêu tha thiết đối với con người, cuộc sống và cái đẹp. Qua nỗi nhớ thôn Vĩ, người đọc cảm nhận được một tâm hồn luôn hướng về ánh sáng, về sự sống và những giá trị tốt đẹp của cuộc đời, dù đang phải đối diện với những đau thương, mất mát.