Matsuo Bashō (1644–1694) là nhà thơ hai-cư vĩ đại nhất của Nhật Bản, người đã đưa thể thơ ngắn này từ một hình thức tiêu khiển tao nhã trở thành một nghệ thuật lớn mang chiều sâu triết lí và giá trị thẩm mĩ bền vững. Tên thật của ông là Matsuo Munefusa, sinh tại tỉnh I-ga trong một gia đình võ sĩ cấp thấp vào thời Ê-đô. Dù xuất thân trong tầng lớp samurai, Ba-sô lại chọn con đường thơ ca và đời sống du hành như một cách tìm kiếm chân lí tinh thần.

Cuộc đời Ba-sô là hành trình không ngừng lên đường. Ông rời bỏ đời sống ổn định để đi qua nhiều miền đất Nhật Bản với chiếc nón tre, áo vải và tâm hồn của một lữ khách cô đơn. Những chuyến đi ấy không chỉ là cuộc dịch chuyển trong không gian mà còn là hành trình khám phá vẻ đẹp mong manh của đời sống và chiều sâu của tâm hồn con người. Trong cảm thức của Ba-sô, thơ không chỉ để miêu tả cảnh vật mà còn là cách con người hòa nhập với thiên nhiên, lắng nghe nhịp thở của vũ trụ và nhận ra sự hữu hạn của kiếp người.
Thơ của Ba-sô nổi bật bởi vẻ đẹp cô đọng, thanh sơ và giàu sức gợi. Ông thường chỉ ghi lại một khoảnh khắc rất nhỏ của hiện tại: một cành cây khô, tiếng nước vang trong ao cũ, tiếng ve thấm vào đá hay cánh quạ giữa chiều thu. Nhưng từ những hình ảnh bình dị ấy, bài thơ mở ra những tầng ý nghĩa sâu xa về thời gian, cô đơn, sự tĩnh lặng và mối giao hòa giữa con người với thiên nhiên. Đó chính là tinh thần “ít lời mà nhiều ý” đặc trưng của thơ hai-cư.
Thơ Ba-sô chịu ảnh hưởng sâu sắc của tinh thần Thiền trong văn hóa Nhật Bản. Ông hướng con người đến sự tĩnh tại nội tâm, biết lắng nghe những điều nhỏ bé và tìm thấy vẻ đẹp trong cái giản dị, vô thường của cuộc sống. Với Ba-sô, một tiếng nước vang lên trong ao cũ hay một chiếc lá cuối mùa cũng có thể trở thành khoảnh khắc giác ngộ về đời sống.
Không chỉ là một nhà thơ lớn của Nhật Bản, Ba-sô còn có ảnh hưởng sâu rộng đối với thơ ca thế giới. Ông đã nâng thơ hai-cư thành một nghệ thuật của sự hàm súc và khoảng lặng, nơi cái không nói ra nhiều khi còn gợi cảm hơn lời nói trực tiếp. Đến hôm nay, thơ Ba-sô vẫn được yêu mến bởi vẻ đẹp thanh đạm, sâu lắng và khả năng đánh thức ở con người sự nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc đời.
Có thể nói, Matsuo Bashō đã để lại cho văn học Nhật Bản và thế giới một di sản thơ ca đặc sắc, nơi những khoảnh khắc rất nhỏ của đời sống lại mở ra những chiều sâu vô tận của tâm hồn và triết lí nhân sinh. Trong hành trình sáng tạo ấy, ông đã viết nên nhiều bài thơ hai-cư nổi tiếng, tiêu biểu cho vẻ đẹp cô đọng, tinh tế và giàu chất Thiền của thơ ca Nhật Bản. Sau đây là mười bài thơ tiêu biểu nhất của Ba-sô.
- Trên cành khô
cánh quạ đậu
chiều thu.
- Ao cũ
con ếch nhảy vào
vang tiếng nước xao.
- Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê - đô là cố hương.
- Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
- Lệ trào nóng hổi
tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu.
- Tiếng vượn hú não nề
hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc?
Gió mùa thu tái tê.
- Mưa đông giăng đầy trời
chú khỉ con thầm ước
có một chiếc áo tơi.
- Từ bốn phương trời xa
cánh hoa đào lả tả
gợn sóng hồ Bi - oa.
- Vắng lặng u trầm
thấm sâu vào đá
tiếng ve ngâm.
- Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu.
Bài viết sử dụng bản dịch của Nhật Chiêu và Đoàn Lê Giang.



Bình luận