Thú nhàn nơi cỏ cây mây nước
Trời chiều tịch mịch, Ức Trai thong dong dạo bước giữa núi rừng Côn Sơn. Tiếng suối Côn Sơn vẫn rì rầm ngày đêm, vang vọng êm đềm như tiếng đàn cầm bên tai. Giữa cảnh non xanh nước biếc ấy, nhà thơ thả hồn theo mây gió, lòng nhẹ tênh và bình lặng. Nguyễn Trãi từng viết những vần thơ thật đẹp về khoảnh khắc sống hòa cùng thiên nhiên, lánh xa bụi trần. Ông ví mình ngồi trên đá phủ rêu xanh mà ngỡ như ngồi trên chiếc đệm êm ấm giữa chốn lâm tuyền. Dưới bóng thông già “mọc như nêm” nơi ghềnh đá, ông ung dung ngả lưng tựa gốc cây tìm giấc thảnh thơi. Trong rừng trúc biếc, bóng trúc rợp mát cả một khoảng xanh, thi nhân “ngâm thơ nhàn” với tất cả say mê. Khung cảnh ấy thật tiêu diêu tự tại, khiến lòng người cũng như được gột rửa mọi ưu phiền.
Từng hình ảnh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi đều giản dị mà sống động. Ông không vẽ nên cảnh tiên bồng huyền ảo xa vời, mà chính là cảnh “cỏ cây mây nước” gần gũi chốn thôn dã. Trong vườn quê Ức Trai có “áng cúc lan chen vãi đậu kê”, có giàn mồng tơi xanh mướt bên luống rau rút, rau muống. Hồ ao trước nhà lúc nào cũng được ông chăm chút để nước luôn trong veo “thanh trì thưởng nguyệt”, đêm rằm trăng hiện bóng tròn lung linh dưới đáy hồ. Sống giữa thiên nhiên, nhà thơ cảm nhận thời gian qua đi nhẹ nhàng: “Am trúc hiên mai ngày tháng qua, Thị phi nào đến cõi yên hà” – trong am tranh vách trúc, dưới hiên mai, ngày tháng lặng lẽ trôi, và những chuyện thị phi ồn ào chốn đời thường chẳng thể chạm đến chốn yên hà thanh vắng này. Cái thú nhàn của Nguyễn Trãi thật đơn sơ: “Bữa ăn dù có dưa muối, Áo mặc nài chi gấm là” – dưa muối đạm bạc cũng đủ ngon, áo thô vải thô cũng đủ ấm, cần chi cao lương mỹ vị hay gấm vóc lụa là.
Giữa thiên nhiên, Ức Trai tận hưởng từng niềm vui nhỏ bé. Sáng ra tự tay “cày đất, cuốc vườn” trồng rau trồng hoa; trưa hái mấy trái bầu, tối ra ao múc nước trong pha trà và ngắm trăng soi đáy nước. Nguyễn Trãi từng viết: “Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt; Đất cày ngõ ải luống ương hoa”. Ông giữ nước trong ao để nuôi cá tưới rau và để ngắm ánh trăng in đáy nước, cuốc đất hoang ngoài ngõ ải để làm luống trồng hoa. Những việc ấy sao mà thanh nhàn, khoáng đạt! Đêm đến, không gian tĩnh lặng, ông “ngâm được câu thần dắng dắng ca” – cao hứng ngâm nga những vần thơ tuyệt diệu vang động cả đêm khuya. Ta như thấy bóng người thi sĩ tóc pha sương đang ung dung giữa sân vắng, dưới mái tranh đơn sơ, cất tiếng ngâm nga giữa trời đêm thanh vắng. Lòng người hòa điệu cùng trời đất, đạt đến một trạng thái tự do và thanh thản tuyệt đối. Tiêu diêu tự tại đến thế, còn lạc thú nào hơn?
Giũ bụi trần, về với núi xưa
Cuộc đời Nguyễn Trãi trải qua biết bao thăng trầm chìm nổi. Ông từng “nằm gai nếm mật” nơi rừng sâu suốt mười năm kháng chiến, từng vào sinh ra tử, trải qua chốn quan trường nhiều thị phi nghiệt ngã. Thế nhưng, sau những vinh quang và bi kịch chốn nhân gian, Ức Trai dần nhận ra danh lợi chỉ như một lớp bụi mờ hư ảo. Ông viết đầy chua xót trong bài Oán thán: “Phù tục thăng trầm ngũ thập niên, Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên” – nổi chìm trong cõi phù hoa đã năm mươi năm, đành phụ bạc mối duyên thâm tình với suối đá chốn núi xưa. Nửa đời người vướng bụi trần đã trôi qua, Nguyễn Trãi nhận ra mình đã xa rời cái “cố sơn” bình yên mà lòng hằng quyến luyến. Bao năm bôn ba nơi chốn kinh kỳ chỉ đem lại cho ông “hư danh thực họa” – danh hão mà họa thật, đáng buồn cười thay! Phải chăng chính công danh phú quý mà người đời đua chen lại là nguồn cơn của bao tai họa thảm khốc? Với Ức Trai, phú quý vinh hoa rốt cuộc “đều là huyễn ảo vô thường”, ông tự nhủ lòng rằng mọi thăng trầm vinh nhục rồi cũng “rốt cuộc như cỏ cây”, sống chết vinh suy chỉ là lẽ tuần hoàn tự nhiên mà thôi. Hiểu thấu lẽ đó, Nguyễn Trãi nhẹ mỉm cười lui về ở ẩn nơi núi rừng Côn Sơn, tìm lấy cõi tiêu diêu cho chính mình.
Hình ảnh “giũ bụi trần” xuất hiện nhiều lần trong thơ Ức Trai, diễn tả quyết tâm rũ bỏ mọi bợn nhơ danh lợi để trở về với thiên nhiên thanh tĩnh. Có lần ông viết thật trực diện: “Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng lâm”. Chỉ hai câu thơ Nôm mà như một lời tuyên ngôn dứt khoát: phủi sạch hết bao “bụi lầm” bám trên áo, vung tay áo mà tiến vào chốn tùng lâm xanh biếc. Tùng lâm – rừng thông xanh – là biểu tượng cho nơi thanh tu của người xưa. Giữa “bao nhiêu bụi bặm” của cuộc đời, Nguyễn Trãi chọn bước vào rừng sâu núi thẳm, tìm sự tĩnh lặng cho tâm hồn. Đường lên núi vắng bóng người qua lại, cỏ mọc lấn cả lối mòn, hoa lá lay động khẽ khàng trong hoàng hôn chậm rãi. Ông cùng các bậc sơn tăng kết bạn, “Chủ vô tâm ấy khách vô tâm” – thầy tu vô tâm, khách cũng vô tâm, cả hai đều để lòng rỗng rang, không vướng bụi tục. Họ cùng nhau thưởng trà, ngâm vịnh thơ nơi “hiên vắng” bên rừng trúc thông, tiếng gió thông reo hòa với tiếng thơ, thật là thú tiêu dao nhàn tản biết bao!
Những lúc ẩn dật như thế, hồn thơ Ức Trai thăng hoa mạnh mẽ. Ông vẽ ra hai thế giới đối lập: một bên là chốn quan trường “cửa quyền” đầy hiểm hóc, một bên là cảnh “quê cũ”, “vườn lan cúc” thanh bình. Trong nhiều bài thơ Nôm, Nguyễn Trãi so sánh sâu sắc: “Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong ẩn dật có cơ mầu”, hay “Hiểm hóc của quyền chăng đụt lẩn, Thanh nhàn án sách hãy đeo đai”. Dưới bóng công danh chỉ thấy khổ nhục ê chề, còn trong ẩn dật lại tìm ra cái thú thanh cao tao nhã. Quyền cao chức trọng nhiều hiểm nguy rình rập, chi bằng thanh nhàn ngồi đọc sách, ấy mới thực là đeo đai vinh dự! Nguyễn Trãi từng tuyên bố: “Đem công danh đổi lấy cần câu” – đổi chiếc ấn quan lộng lẫy lấy chiếc cần câu bình dị, đổi chốn quan trường danh lợi lấy cuộc đời của một ngư phu thanh nhàn. Khi làm được điều đó, ông thấy “thân đà hết lụy thân nên nhẹ” – thân không còn vướng lụy thì nhẹ nhõm như mây vậy. Câu thơ Nôm mộc mạc mà chứa đựng triết lý sâu xa: gánh nặng danh lợi trút bỏ rồi, con người như được bay lên, trở về với tự do bản nhiên. Lúc ấy, lòng ông thanh thản vô cùng, thấy rằng chẳng cần cầu tìm gì xa xôi: “Bụt ấy là lòng, Bụt há cầu?” – Phật ở ngay trong lòng mình, còn cầu chi nữa! Quả thật, với Nguyễn Trãi, hạnh phúc lớn nhất là được sống với chính mình giữa thiên nhiên, không để bụi trần vướng bận, ung dung tự tại như một ông Tiên cõi trần.
Tiêu diêu tự tại – âm hưởng Lão Trang trong thơ Ức Trai
Đọc thơ Nguyễn Trãi, ta không chỉ cảm nhận một tâm hồn nghệ sĩ yêu thiên nhiên tha thiết, mà còn thấy phảng phất triết lý Đạo gia thâm sâu. Tinh thần “tiêu diêu tự tại” này bắt nguồn từ tư tưởng Lão – Trang: sống thuận theo tự nhiên, coi nhẹ danh vọng, tìm sự tự do cho tâm hồn. Nhà phê bình Trần Đình Sử từng nhận xét rằng Nguyễn Trãi ao ước được sống nhàn trong một thế giới “vô kỷ, vô công, vô danh”, nơi vạn vật và thị phi đều bình đẳng như tư tưởng Trang Tử. Quả thật, nhiều câu thơ Ức Trai như tiếng vọng của “tiêu dao du” – cuộc dạo chơi tự do tự tại mà Trang Tử đã vẽ ra trong Nam Hoa Kinh. Ta bắt gặp trong thơ ông những câu đầy chất triết lý thoát tục: “Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế, Biết một ông này đẹp thú này”. Giữa cõi đời, lòng Ức Trai đã phần nào đạt đến sự tiêu sái, thảnh thơi ngoài vòng thế tục. Ông tự biết mình đang hưởng cái thú đẹp đẽ hiếm ai có: thú tiêu dao nhàn dật của một ẩn sĩ lánh đục về trong.
Tinh thần vô vi của Đạo giáo cũng hiện hữu rõ nét. Nguyễn Trãi nhiều lần nhắc nhở bản thân “tri túc” – biết đủ. Trong Côn Sơn ca, ông khuyên người đời rằng: “Vạn chung, cửu đỉnh hà tất nhiên, Ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc” – vạn chung, chín đỉnh để làm chi, uống nước lã, ăn rau dưa miễn đủ phần mình là được. Đó là lối sống đạm bạc thuận theo tự nhiên, an bần lạc đạo. Cũng trong bài ca đó, Nguyễn Trãi dẫn tích xưa để tự nhắc mình: “Quân bất kiến: Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ… Hựu bất kiến: Bá Di dữ Thúc Tề… Thú Dương ngạ tử bất thực túc?”. Kẻ thì tiền rừng bạc biển như Đổng Trác, kẻ thì thanh cao nhịn đói như Bá Di, cuối cùng đời người trăm năm cũng như cỏ cây, có khác gì nhau đâu. Lời thơ như một tiếng thở dài ngao ngán về phú quý vinh hoa, đồng thời khẳng định lựa chọn của mình: noi gương Sào Phủ, Hứa Do rửa tai từ chối vinh hoa, tìm niềm vui nơi suối rừng. Tiêu diêu đâu chỉ là trạng thái thư thái bề ngoài, mà còn là cảnh giới tinh thần của bậc hiền triết: tâm hồn hòa điệu cùng vạn vật, thản nhiên trước được mất, sống chết.
Có lẽ vì thấm nhuần lẽ “vô thường” của nhà Phật và cái “vô vi” của Lão Trang, Nguyễn Trãi mới có được giọng thơ ung dung đến thế khi nói về lẽ được mất ở đời. Ông từng viết một câu thật sâu cay: “Dưới công danh nhiều thác cả, Trong ẩn dật có cơ mầu” – dưới chốn công danh lắm sóng dữ nguy hiểm, còn trong cõi ẩn dật lại tìm ra cơ duyên tươi đẹp. Với Ức Trai, nhàn dật không phải là lánh đời tiêu cực, mà chính là để dưỡng tâm, chờ thời cơ “hành đạo” mới. Tâm hồn ông luôn đau đáu chuyện dân nước, nhưng ông hiểu rõ khi đạo đời đen tối thì ẩn mình giữ chí, đợi đến thời thiên hạ hữu đạo mới lại đem tài ra giúp đời. Sự ẩn dật của Nguyễn Trãi vì thế vẫn phảng phất cốt cách “giáng hồng trần” của bậc chân Nho: lui về núi không phải để trốn tránh bổn phận, mà là để bảo toàn bản tâm và hoài bão lớn trong sạch cho mai sau.
Những vần thơ tùy hứng của Ức Trai thực ra là cả một triết lý sống. Ở đó, ta thấy một tâm hồn tiêu diêu như mây gió, nhưng cũng rất đỗi nhân văn và tỉnh táo. Nguyễn Trãi đã hóa giải những đau đớn cô trung của mình bằng cách thả hồn vào thiên nhiên, lấy thú thanh nhàn làm bạn. Tâm hồn ông lắng đọng trong veo như mặt hồ thu, sừng sững như núi cao, tự do tự tại như cánh hạc giữa trời. Phải chăng chính nhờ vậy mà bao nhiêu thế kỷ trôi qua, thơ Nguyễn Trãi vẫn giữ nguyên sức lay động lòng người? Đọc thơ ông, ta như được dẫn lối vào một cõi tiêu diêu riêng – nơi “cảnh tựa chùa chiền”, lòng người trong sáng tựa lòng thầy tu thanh tịnh. Ta lắng nghe tiếng suối Côn Sơn ngân nga, ngắm bóng trúc, bóng thông lay động, để rồi chợt nhận ra chính lòng mình cũng đang lặng thinh an lạc. Thoát khỏi vòng danh lợi bon chen, con người như tìm về bản tính thiện lương, hồn nhiên hòa cùng tạo hóa. Đó chính là thông điệp lớn nhất từ những vần thơ nhàn của Ức Trai: hãy biết sống nhàn, sống hòa với tự nhiên, buông bỏ tham vọng hão huyền để đạt đến tự do nội tại. Tinh thần tiêu diêu tự tại ấy mãi lấp lánh trong thơ Nguyễn Trãi, như viên ngọc quý của văn hóa dân tộc, thấm đượm tư tưởng Đông phương và tỏa sáng vẻ đẹp nhân cách cao khiết của bậc đại nhân.
Trong dòng suối thơ ngọt ngào và uyên bác của Nguyễn Trãi, ta thấy bóng dáng một ẩn sĩ ung dung dạo bước giữa hoa cỏ, miệng ngâm nga câu thơ “Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế”, tai lắng nghe tiếng thông reo, lòng nhẹ nhõm tự tại. Hình ảnh ấy gợi cho ta niềm cảm phục và cũng là một lời nhắn nhủ: Giữa cõi hồng trần vạn biến, con người vẫn có thể giữ cho mình một khoảng trời tiêu diêu riêng, chỉ cần biết đủ, biết dừng và hòa mình vào mẹ thiên nhiên. Thơ Ức Trai chính là chiếc cầu đưa ta vào khoảng trời đó – khoảng trời của tiêu diêu tự tại, nơi tâm hồn được tưới tắm bằng vẻ đẹp của cỏ cây, sông núi, và trở nên tĩnh tại, thanh cao hơn bao giờ hết.



Bình luận