Nguyễn Trãi (1380–1442), hiệu Ức Trai, là một chính trị gia kiệt xuất, nhà quân sự lỗi lạc đồng thời là nhà văn, nhà thơ lớn trong lịch sử Việt Nam. Ông được biết đến như một anh hùng dân tộc đã góp công đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV và là một danh nhân văn hóa tầm cỡ thế giới với di sản tư tưởng và văn chương đồ sộ. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi gắn liền với những biến cố lịch sử đầy biến động, để lại dấu ấn sâu đậm về lòng yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa và những áng văn chương bất hủ.

Chân dung Nguyễn Trãi

Tiểu sử 

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 tại kinh thành Thăng Long, quê gốc ở làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) trong một gia đình đại quý tộc và trí thức uyên bác. Cha ông là Nguyễn Phi Khanh (tên khác Nguyễn Ứng Long) – một tiến sĩ, Hàn lâm học sĩ triều Hồ; mẹ ông là Trần Thị Thái – con gái Tư đồ Trần Nguyên Đán, một trọng thần cuối đời Trần. Thuở nhỏ, Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống gia đình: ông ngoại và cha đều là những Nho sĩ nổi tiếng, hun đúc ở ông nền tảng học vấn vững chắc và lý tưởng trung quân ái quốc. Năm 1400, giữa bối cảnh nhà Trần suy vi và Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) trong khoa thi đầu tiên của triều Hồ. Ông được bổ nhiệm giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng (một chức quan giám sát) dưới triều Hồ, bắt đầu con đường hoạn lộ giữa thời cuộc đầy sóng gió.

Năm 1406–1407, quân Minh xâm lược và thôn tính Đại Ngu (quốc hiệu thời Hồ). Triều Hồ thất bại nhanh chóng do “không chiếm được lòng dân”. Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc. Tiễn cha đến ải Nam Quan, Nguyễn Trãi định đi theo phụng dưỡng nhưng Nguyễn Phi Khanh đã khuyên ông quay về “tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha” – coi đó mới là đại hiếu. Vâng lời cha, Nguyễn Trãi trở lại nhưng trên đường về ông bị quân Minh bắt và giam lỏng một thời gian ở thành Đông Quan (Hà Nội). Trong cảnh tù hãm, ông phải tạm thời ẩn nhẫn nhưng vẫn “nát óc suy tính kế hoạch cứu dân, cứu nước”. Vượt qua nhiều gian nan, cuối cùng Nguyễn Trãi trốn thoát và tìm về vùng Lam Sơn (Thanh Hóa) để tham gia phong trào khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo. Ông dâng lên Lê Lợi bản kế sách đánh đuổi giặc Minh, gọi là Bình Ngô sách, đề ra đường lối chiến lược cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Từ năm 1418, Nguyễn Trãi trở thành mưu sĩ chủ chốt của nghĩa quân Lam Sơn, sát cánh cùng Lê Lợi trong suốt Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) chống ách đô hộ của nhà Minh. Ông được xem là “kiến trúc sư” quyết định của đường lối kháng chiến, góp phần to lớn mang lại thắng lợi cuối cùng. Không chỉ tham gia chỉ huy quân sự, Nguyễn Trãi đặc biệt xuất sắc trên mặt trận chính trị – ngoại giao. Ông đề ra kế sách “tâm công” (công tâm) tức đánh vào lòng người, giành thắng lợi không cần giao tranh đẫm máu. Thay mặt Lê Lợi, ông thảo nhiều bức thư gửi các tướng lĩnh nhà Minh, nội dung vừa cương quyết vạch trần tội ác xâm lược, khẳng định chính nghĩa tất thắng của nhân dân ta, vừa mềm dẻo mở cho đối phương con đường sống nếu đầu hàng. Những thư dụ địch đầy tính thuyết phục ấy về sau được tập hợp trong Quân trung từ mệnh tập – một tập tài liệu ngoại giao quân sự sắc sảo mà sử gia Phan Huy Chú ca ngợi là “có sức mạnh của mười vạn quân”. Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn quân sự và ngoại giao, nghĩa quân ngày càng mạnh, “quân tiến đến đâu, dân chúng nô nức hưởng ứng đến đấy… Càng đánh càng thắng”. Cuối năm 1427, cuộc kháng chiến kết thúc toàn thắng với chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang, quân Minh buộc phải rút về nước. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tổ), Nguyễn Trãi cùng các công thần dự lễ Bình Ngô tuyên cáo hòa bình, khai sinh triều Lê sơ.

Sau kháng chiến, Nguyễn Trãi được phong công thần khai quốc và tiếp tục phục vụ triều đình nhà Lê. Dưới thời vua Lê Thái Tổ và kế vị là Lê Thái Tông, ông giữ những chức vụ trụ cột như Nhập nội hành khiển, Thừa chỉ Hàn lâm viện rồi thăng tới Lại bộ Thượng thư kiêm Khu mật viện đại thần. Trên cương vị quan đầu triều, ông dốc sức giúp vua trị nước, chăm lo đời sống nhân dân. Sau đó ông bị nghi kị và xin về ở ẩn tại Côn Sơn. Bi kịch ập đến vào năm 1442, vua Lê Thái Tông đột ngột băng hà tại Lệ Chi Viên, nơi nhà vua ở cùng Nguyễn Thị Lộ (thiếp của Nguyễn Trãi). Nguyễn Trãi bị liên lụy. Ông cùng Nguyễn Thị Lộ bị khép tội giết vua, chịu án tru di tam tộc vô cùng tàn khốc (giết ba họ). Án oan Lệ Chi Viên đã chấm dứt cuộc đời Nguyễn Trãi ở tuổi 62, để lại nỗi đau xót trong lịch sử. Mãi đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu minh oan, truy phục danh dự cho Nguyễn Trãi, ví tấm lòng Ức Trai “sáng tựa sao Khuê” và ca ngợi ông như một hiền tài lỗi lạc của đất nước.

Sự nghiệp chính trị và tư tưởng

Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi nổi bật với lý tưởng nhân nghĩa và tinh thần yêu nước nồng nàn, xem dân là gốc của nước. Ông quan niệm “phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, mà nhân nghĩa trước hết là yên dân, thương dân, giúp dân “trừ bạo”. Ngay trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi khẳng định: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” – coi việc đem lại thái bình cho muôn dân là mục tiêu cao nhất của đạo nhân nghĩa, và việc chinh phạt chỉ chính đáng khi nhằm diệt trừ bạo tàn áp bức. Lý tưởng nhân nghĩa của ông gắn liền với lòng khoan dung, ngay cả với kẻ thù đã thất thế. Sau chiến thắng, Nguyễn Trãi chủ trương tha chết, cấp lương thực, thuyền bè cho hàng vạn quân Minh hồi hương, “mở đường hiếu sinh” để thể hiện lòng nhân và mong muốn hòa bình lâu dài. Đó là tư tưởng nhân đạo lớn lao vượt trước thời đại. Nguyễn Trãi ý thức sâu sắc về vai trò quyết định của nhân dân trong lịch sử: ông ví sức dân như nước, có thể “chở thuyền” mà cũng có thể “lật thuyền” nếu triều đình không lo cho dân. Bởi vậy, đường lối trị quốc của ông nhất quán lấy dân làm gốc, dựa vào dân để xây dựng nền thái bình thịnh trị lâu dài. Những tư tưởng chính trị tiến bộ đó đã đặt nền móng cho triều Lê sơ sau khởi nghĩa và trở thành di sản tư tưởng quý báu cho các thế hệ sau.

Trong thực tiễn, Nguyễn Trãi vừa là nhà hoạch định chiến lược, vừa là nhà ngoại giao và nhà quản lý tài năng. Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ông được Lê Lợi tin cậy, trở thành vị quân sư “đầu não” vạch định kế hoạch đánh giặc. Sử sách ghi nhận đóng góp quyết định của ông trong việc đề xuất đường lối “đại đoàn kết dân tộc”, huy động sức mạnh toàn dân tham gia kháng chiến, khiến nghĩa quân “tụ họp bốn phương manh lệ, dưới trên một dạ cha con”. Ông cũng trực tiếp tham gia chỉ huy một số trận đánh lớn, cùng các tướng lĩnh “phá trận, diệt viện, vây thành” giành thắng lợi vang dội. Trên mặt trận ngoại giao, Nguyễn Trãi là kiến trúc sư của nghệ thuật “công tâm” như đã đề cập, với hàng loạt thư từ, hịch văn tuyệt xuất. Ông khéo léo sử dụng ngòi bút để lung lạc tinh thần địch và tuyên truyền chính nghĩa của ta, biến nhiều kẻ thù thành bạn, giảm tối đa tổn thất xương máu. Những văn thư ngoại giao tập hợp trong Quân trung từ mệnh tập cho thấy tư duy chính trị sắc sảo và tấm lòng nhân nghĩa cảm hóa lòng người của Nguyễn Trãi. Bước sang thời bình, với cương vị là đại thần nhà Lê, Nguyễn Trãi tiếp tục đề xuất nhiều chính sách an dân, xây dựng đất nước. Ông soạn thảo Chiếu và Biểu dâng lên vua, trong đó đề cao việc khoan thư sức dân sau chiến tranh, khuyến nông và dùng hiền tài để chấn hưng quốc gia. Đáng tiếc, nhiều trước tác về quản lý và luật pháp của ông (như Luật thư, Ngọc đường di cảo, Giao tự đại lễ…) đã bị thất truyền sau biến cố Lệ Chi Viên. Tuy nhiên, những tư tưởng “lấy dân làm gốc” và “nhân nghĩa khoan hòa” mà Nguyễn Trãi để lại đã ảnh hưởng sâu rộng tới triều đại Lê Thánh Tông sau này và trở thành khuôn mẫu lý tưởng cho các triều đại quân chủ Việt Nam trong việc trị nước, an dân.

Sự nghiệp văn chương

Nguyễn Trãi không chỉ là nhà chính trị kiệt xuất mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, để lại di sản văn chương đồ sộ có giá trị đặc biệt trong văn học trung đại Việt Nam. Khối lượng trước tác của ông rất phong phú, gồm nhiều thể loại từ văn chính luận (cáo, biểu, thư từ ngoại giao) cho đến thơ trữ tình. Tiêu biểu và có ảnh hưởng nhất phải kể đến “Quân trung từ mệnh tập”, “Bình Ngô đại cáo”, “Ức Trai thi tập”, “Quốc âm thi tập” và “Dư địa chí”, cùng một số tác phẩm khác.

Quân trung từ mệnh tập là tập hợp văn thư ngoại giao và quân sự do Nguyễn Trãi thảo ra trong kháng chiến Lam Sơn (1423–1427) nhân danh Lê Lợi gửi cho tướng giặc, cùng những bài hịch, thư răn dạy tướng sĩ. Tập sách này ban đầu có 49 bài, nhưng bản in năm 1868 chỉ còn 46 văn kiện. Nội dung Quân trung từ mệnh tập thể hiện rõ nghệ thuật viết hịch và kỹ năng thuyết phục độc đáo của Nguyễn Trãi, với lập luận sắc bén và tinh thần nhân nghĩa cảm động lòng người. Đây được coi là áng văn chính luận mẫu mực thời trung đại, góp phần khẳng định tài năng và tư tưởng chính trị lỗi lạc của ông.

Bình Ngô đại cáo (1428) là một kiệt tác văn chương và lịch sử, do Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết để công bố đại thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, bố cáo thiên hạ về nền độc lập của Đại Việt sau 20 năm bị giặc Minh đô hộ. Bài cáo được viết bằng văn xuôi biền ngẫu chữ Hán, nhưng giàu chất thơ và khí phách anh hùng. Với lời văn hùng hồn, lập luận chặt chẽ và lòng tự hào dân tộc sâu sắc, Bình Ngô đại cáo đã khái quát tội ác của giặc Minh, tôn vinh cuộc kháng chiến chính nghĩa và tuyên bố nền tự chủ của nước nhà. Tác phẩm này được hậu thế tôn vinh là bản “Tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc (sau Nam quốc sơn hà thời Lý) và là “thiên cổ hùng văn” – áng văn bất hủ ngàn đời. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi không chỉ tổng kết chiến công lẫy lừng của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn mà còn nâng tầm tư tưởng nhân nghĩa, chủ nghĩa yêu nước và niềm tự hào dân tộc lên đỉnh cao mới. Bài cáo vừa là một bản tổng kết lịch sử, vừa là áng văn tràn đầy tinh thần nhân văn và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Đến nay, Bình Ngô đại cáo vẫn được xem là một đỉnh cao của văn học chính luận Việt Nam, biểu tượng của khí phách và trí tuệ thời đại.

Về sáng tác thơ, Nguyễn Trãi có hai tập thơ lớn: Ức Trai thi tập (thơ chữ Hán) và Quốc âm thi tập (thơ chữ Nôm). Ức Trai thi tập gồm 105 bài, theo Lê Quý Đôn, tuyển tập này ban đầu chia thành 3 quyển, được Trần Khắc Kiệm thu thập, hiệu đính. Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi phần lớn mang nội dung trữ tình, triết lý, thể hiện tâm trạng thời thế và nhân sinh quan của một trí thức trải nhiều biến cố. Bên cạnh đó, Quốc âm thi tập gồm 254 bài, là tập thơ Nôm lâu đời nhất của Việt Nam còn lưu truyền đến ngày nay. Quốc âm thi tập được chia làm nhiều chủ đề như Vô đề, Thời lệnh môn (thơ về thời vụ, mùa màng), Hoa mộc môn (thơ vịnh hoa cỏ), Cầm thú môn (thơ vịnh chim muông), cho thấy tình yêu thiên nhiên, quê hương và cuộc sống bình dị của tác giả. Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã tiên phong sử dụng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác theo thể thơ Nôm Đường luật, đưa tiếng Việt trở thành ngôn ngữ văn chương bác học bên cạnh chữ Hán. Ông xứng đáng được coi là một trong những ông tổ của thơ Nôm dân tộc, mở đường cho sự phát triển rực rỡ của văn học tiếng Việt về sau.

Ngoài thơ và cáo, Nguyễn Trãi còn sáng tác các thể loại văn xuôi khác. Ông viết Phú núi Chí Linh ca ngợi cảnh đẹp và thể hiện hoài bão ẩn dật ở vùng núi Côn Sơn – Chí Linh, nơi ông lui về ở ẩn. Ông cũng soạn Văn bia Vĩnh Lăng (bia tại lăng Lê Lợi) nhằm ca ngợi công đức vua Lê, thuật lại cuộc khởi nghĩa gian khổ và chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Mặt khác, Nguyễn Trãi trước tác cuốn Dư địa chí, một sách địa lý – lịch sử ghi chép cương vực, sản vật, phong tục Đại Việt đầu thời Lê. Dư địa chí được đánh giá là công trình địa lý học lịch sử đầu tiên của Việt Nam, thể hiện kiến thức uyên bác của ông trên nhiều lĩnh vực. Tiếc rằng sách này từng bị thất lạc một phần sau vụ Lệ Chi Viên, mãi về sau mới sưu tầm phục dựng lại được. Nhìn chung, các tác phẩm của Nguyễn Trãi trải rộng trên nhiều thể loại nhưng nhất quán ở tấm lòng yêu nước thương dân, tư tưởng nhân nghĩa và tài năng nghệ thuật bậc thầy. Từ những áng văn chính luận hào hùng đến những vần thơ trữ tình sâu lắng, Nguyễn Trãi đã đóng góp những kiệt tác làm phong phú nền văn học trung đại và tư tưởng văn hóa dân tộc.

Tầm ảnh hưởng tư tưởng và văn hóa

Đóng góp của Nguyễn Trãi để lại ảnh hưởng lâu dài trong lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Trước hết, về phương diện tư tưởng chính trị, ông được tôn vinh như một nhà tư tưởng lớn của dân tộc. Các quan điểm “nhân nghĩa” và “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc) của Nguyễn Trãi đã trở thành một di sản tinh thần quý báu, được kế thừa và phát huy qua các thời đại. Ngay trong thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông và triều đình Lê sơ đã tiếp thu tư tưởng trị quốc an dân của Nguyễn Trãi để xây dựng một xã hội thịnh trị, lấy pháp luật và nhân nghĩa làm nền tảng. Sang các thế kỷ sau, hình ảnh Nguyễn Trãi luôn được nhắc đến như biểu tượng của lòng yêu nước thương dân và trí tuệ kiệt xuất, truyền cảm hứng cho nhiều văn thần, sĩ phu noi gương. Trong văn hóa chính trị Việt Nam, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được xem như đã “ăn sâu vào tâm trí dân tộc”, góp phần định hình truyền thống nhân đạo và ý thức dân tộc độc lập tự cường. Thời hiện đại, những lời bất hủ trong Bình Ngô đại cáo (như “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”) tiếp tục được dẫn dắt như chân lý phổ quát về sức mạnh chính nghĩa và tinh thần dân tộc. 

Về phương diện văn hóa và văn học, Nguyễn Trãi được suy tôn là danh nhân văn hóa kiệt xuất. Di sản văn chương của ông, đặc biệt là những tập thơ chữ Nôm và chữ Hán, đã trở thành mẫu mực kinh điển trong văn học trung đại. Thơ văn Nguyễn Trãi ảnh hưởng sâu rộng đến các thế hệ nhà nho, thi sĩ sau này về cả nội dung tư tưởng lẫn phong cách nghệ thuật. Chẳng hạn, tư tưởng trung quân ái quốc và thương dân trong thơ văn ông đã trở thành đề tài bất tận cho văn học yêu nước các thời kỳ Lê, Nguyễn. Phong cách thơ Nôm bình dị mà thâm thúy của ông mở đường cho dòng thơ Nôm phát triển qua các tác giả thế kỷ XVIII như Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan,... Các tác phẩm chính luận của ông cũng đặt nền tảng cho văn chính luận yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu XX (như thơ văn Phan Bội Châu, Phân Chu Trinh) với cùng tinh thần yêu nước và ý chí quật cường trước ngoại xâm.

Nguyễn Trãi còn là biểu tượng tiêu biểu trong giáo dục và văn hóa Việt Nam. Ông được liệt vào hàng “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới” – một danh hiệu cao quý mà UNESCO đã công nhận nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của ông (năm 1980). Tên tuổi Nguyễn Trãi được đặt cho nhiều trường học, đường phố trên khắp cả nước như sự tri ân và nhắc nhở các thế hệ về một tấm gương sáng ngời của lịch sử. Hình tượng Nguyễn Trãi với tài năng và nhân cách “tinh hoa dân tộc, tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam” đã đi vào thơ ca, kịch, tiểu thuyết hiện đại. Những vở kịch lịch sử, tiểu thuyết như “Lam Sơn tụ nghĩa”, "Thiên mệnh anh hùng" hay phim truyện về vụ án Lệ Chi Viên… đều lấy cảm hứng từ cuộc đời sóng gió của ông, qua đó truyền tải thông điệp về lẽ công bằng và đạo lý ở hiền gặp lành. Tại các địa danh gắn liền với Nguyễn Trãi như Côn Sơn (Hải Dương) hay Nhị Khê (Hà Nội) ngày nay đều có đền thờ, bia tưởng niệm ông, thu hút khách tham quan tìm hiểu về vị anh hùng văn hóa lỗi lạc này.

Có thể khẳng định, Nguyễn Trãi là một hiện tượng lịch sử – văn hóa hiếm có, hội tụ “những tinh hoa rạng rỡ nhất” của dân tộc ở thế kỷ XV. Ông đã “vươn tới đỉnh cao nhất” trong thời đại mình, hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một kẻ sĩ yêu nước thương dân, để lại tiếng thơm muôn đời. Hơn nửa thiên niên kỷ đã trôi qua, tấm gương Nguyễn Trãi và tư tưởng, sự nghiệp của ông vẫn sáng ngời trong lòng dân tộc. Mỗi người Việt Nam khi nhắc đến Nguyễn Trãi đều bày tỏ lòng khâm phục và tự hào sâu sắc. Di sản Nguyễn Trãi sẽ mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá, góp phần định hình bản sắc và truyền thống văn hóa Việt Nam xuyên suốt chiều dài lịch sử.