Lễ cấp sắc của người Dao ở Lào Cai

Di sản Văn hóa Lào Cai
51 người theo dõi
21 Lượt xem video·14 thg 11, 2024
Lễ cấp sắc hay còn gọi là lễ lập tịch của người Dao ở Lào Cai là nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành của mỗi người con trai dân tộc Dao.
Lễ cấp sắc thường được tổ chức từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 hàng năm. Đây được coi là thời gian nông nhả nhất của người Dao.
Lễ cấp sắc mang ý nghĩa to lớn đối với người đàn ông trong gia đình cũng như cộng đồng dân tộc Dao.
Khi người đàn ông được cấp sắc đồng nghĩa với việc họ có thể làm cúng, tham gia vào những hoạt động tín hướng của chung cộng đồng và của gia đình.
Đồng thời lễ cấp sắc còn nhu đẩm dấu ấn tộc người, dấu ấn của mỗi nhóm ngành Dao.
Lào Cai có 3 nhóm Dao sinh sống, Dao họ, Dao tuyển và Dao đỏ.
Cư trú tại 455 làng của 85 xá thuộc 7 huyện là Sapa, Văn Bản, Bảo Thắm, Bát Sát, Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Yên và thành phố Lào Cai.
Trong đó người Dao đỏ cư trú ở các xá của huyện Sapa, Bảo Thắng, Văn Bản, Bát Sát, Bảo Yên, Bắc Hà, thành phố Lào Cai.
Người Dao tuyển cư trú ở các xá của huyện Bảo Yên, Bảo Thắng, Mường Khương, Bát Sát.
Người Dao họ cư trú ở các xá của huyện Bảo Thắng, Bảo Yên và Văn Bản.
Tùy nghị thức và nội dung tổ chức lễ của mỗi ngành Dao có những đặc điểm khác nhau,
nhưng đều mang một ý nghĩa chung là lễ trưởng thành cho những người đàn ông trong gia đình.
Tùy theo từng dòng họ mà người Dao có thể tổ chức lễ cấp sắc cho người con trai Dao ở cấp độ 3 đèn, 7 đèn, 22 đèn.
Cấp độ nhiều ít của đèn được cấp tương đương với số âm binh được cấp và sự cao thấp của thanh hề người làm thầy sau này.
3 đèn tương đương 36 quan âm binh, 7 đèn tương đương 72 quân âm binh, 12 đèn tương đương 120 quân âm binh.
Thời gian diễn ra có thể kéo dài từ 2 đến 7 ngày.
Riêng nhóm Dao Đỏ khi người đàn ông đã có vợ thì đó mới làm cấp sắc.
Lúc này, người vợ cũng được cấp sắc 60 quân âm binh.
Tuy nhiên âm binh đối với người phụ nữ Dao Đỏ chỉ có ý nghĩa bảo vệ mình và con cái,
chứ không thể làm thầy cấp sắc cho người khác và những việc cúng cho cộng đồng.
Ngày tổ chức lễ cấp sắc là ngày tập trung đông đủ thầy nhất.
Có thể tùy theo cấp bậc được cấp mà mời từ 6 đến 18 thầy hành lễ chia làm 2 phái.
Đạo giáo, thầy truyền dạy văn, đạo lý.
Sư giáo, thầy dạy về võ, sức mạnh và đông đảo họ hàng, bà con dân làng, đến sự.
Do vậy, ngoại nghĩa linh thiên gia, lễ cấp sắc còn là ngày hội tụ của gia đình, họ hàng và cộng đồng người Dao trong vùng.
Để thực hiện được nghi lễ cấp sắc,
các gia đình đều phải thực hiện quá trình chuẩn bị hết sức trung thu tỉ mỉ.
Từ xem trận ngày, trận mời thầy đến chuẩn bị các lễ vật cần thiết để thực hiện nghi lễ.
Trong nghi lễ cấp sắc của người Dao họ,
nghi thức đầu tiên là mời đón thầy cúng vào khoảng giờ thiền ngày thứ nhất.
Thầy Tam Nguyên cùng đồ đệ đánh chương gói chúng, mối nghi lễ tiến vào ngó chủ nhà lập tịch.
Đi đầu là một thầy phụ Tam Nguyên mặc áo đỏ, tay cầm dao gỗ.
Một thầy phụ mặc áo vàng hoặc nâu, tay cầm kiếm vỗ vừa đi vừa múa theo điệu mở đường.
Tiếp theo là hai người múa vạn phù, cầm giải vải đỏ, phó tu múa theo điệu trừ tà.
Nổi bật là người đeo vặt nạ, ông sán cô, biểu tượng của người khai thiên lập địa,
múa các điệu mang tính chất vui hoặc có tính chất phồn thực, làm động tác giao cấu với đất trời.
Đê giữa là thầy chính Tam Nguyên ôm sách và cầm đũa phép, cái lanh, lệnh bài.
Cùng một vài học cho gánh sách, đạo cụ, đánh trống, thanh la.
Khi đoàn thầy cúng vào đến ngó, đứa trẻ lập tịch phải chạy ra vái trào, gánh sách cho thầy.
Đoàn thầy cúng Tam Thanh do thầy cà dẫn đầu, tay cầm kiếm phép, tay cầm sách, đem lán cúng bắt tuyết, làm phép thuật.
Khi vào lán hai đoàn thầy cúng Tam Nguyên và Tam Thanh, dựng bàn thờ treo thanh, treo bài vị tờ sở.
Bên phải là đàn thờ Tam Nguyên, bên trái là đàn thờ Tam Thanh.
Đặc biệt theo chiều dọc của lán thờ, các thầy cúng có dựng bốn khối cọc thẳng nhau theo nắp lán.
Mỗi khối có nhiều ống tre bó nhỏ lại, và các khối được sán kín bằng các giấy bùa.
Đó là nơi đốt ma.
Khi làm lễ, các thầy cúng sẽ làm phép thuật, đọc lời chú, dán bùa xuôi đổi ma, nhốt ma, làm trâu sạch lán thờ.
Song song với việc đón thầy vào nhà là những công việc tranh trí đàn chay bàn thờ, trừ đổi ta ma,
và chuẩn bị những thứ cần thiết của thầy, chuẩn bị cho nghi lễ chính thức sắp diễn ra.
Trước khi lễ chính diễn ra tại đàn chay, là những lễ đầu hết sức quan trọng, mang tính chức khai trường cho công việc cấp sắc.
Đó là các nghi lễ dứt tổ tiên về dự lễ trưởng thành của con cháu, lễ ăn thất cúng báo thần linh thần sấm, tổ sư thầy cúng,
ông tổ nghề mộc, lễ thỉnh thần linh về đổi hết ta ma, mời quan đưa tin đi mời ngọc hoàng, các vị thần trên trời, mặt đất và sông suối.
Lễ tẩy chay là hình thức dùng ca làm phép khuất sạch những điều không tốt, không lành để việc cấp sắc diễn ra đã được mong muốn cho đứa trẻ.
Tiếp đó là lễ bắt cầu, lễ phạt mộc dựng đàn chời, lễ dậy kín để các thầy đưa đứa trẻ được cấp sắc vào dậy những điều thầm kín.
Lễ cuối cùng trong sự chuẩn bị để chuyển sang lễ cấp thất cúng đó là lễ tam nguyên thụ giới cho người được cấp sắc.
Các thầy tam nguyên tam thanh giới đứa trẻ bước ban đầu về thế giới trời đất âm khổ con người.
Lễ lập tịch của người giao họ còn có giá trị lịch sử. Một số nghiên lễ diễn sướng diễn tả lịch sử hình thành vũ trụ, múa của ông sáng cô, lịch sử hình thành con người,
người ngồi trong bào thay mẹ bao bọc bởi lưới chanh, ngồi trung ương thế bó gối, khom lưng, cắt dây rốn và tái sinh.
Lễ lập tịch mang giá trị nhân văn sâu sắc, dăn dậy người được lập tịch, nhất là các lời dăn dậy làm người tốt, cách đối nhân sự thế, yêu thân con người.
Bên cạnh các giá trị lịch sử nhân văn, lễ lập tịch còn sâu giá trị nghệ thuật. Ở mỗi nghiên lễ, mỗi hành động đều mang tính biểu tượng cao.
Nghệ thuật diễn sướng phong phú, nếu tính riêng về múa, đã nhiều điều múa khác nhau, múa gà, múa canh, múa rồng, múa kiếm.
Nghệ thuật tạo hình dân gian được thể hiện đậm nét ở hệ thống tranh thở, tranh cắt giấy, cắt chữ, đều khác mặt nạ sáng cô.
Nghệ thuật ngôn từ và những yếu tố diễn sướng dân gian với sự thể hiện hết sức phong phú thông qua các bài cúng đọc trong sách cúng,
cách thức diễn sướng của các ông thầy và những người làm lễ.
Hệ thống thần thoại cổ tích, câu đố tục ngữ, dân ca, nghị lễ chữ đựng trong sách cúng khá nhiều.
Sau những nghị lễ đón đứa trẻ tại đàn trời như vừa được sinh ra từ trời đất, là những việc đón đứa trẻ về đàn dạy bảo, những phép tác làm thầy.
Kết thúc là việc làm lễ tống thánh, tiến đưa những vị thần trợ giúp về trời, đốt đàn chay.
Sau đó đứa trẻ phải kiên cựu trong một trong những ngày đầu và từ đó trở đi đứa trẻ lại trở thành thầy để đã đầu cấp sắc cho những đứa trẻ khác.
Nhìn lễ cấp sắc người sao tuyển tồn tại ở những hình thức tổ chức to nhỏ khác nhau.
Cấp to nhất tương đương với lễ cấp sắc 12 đèn của người sao đỏ là lễ Hồng ơn Đại hội.
Trong lễ này ra chủ phải mời tới 6 thầy chính cấp to, 3 thầy bên ta nguyên, 3 thầy bên tam thanh.
6 thầy phụ, thầy cấp trung bình và 6 đồ đệ là những người mới làm thầy nhưng cũng có khả năng trợ giúp các thầy chính những việc cần thiết.
Chuẩn bị cho việc lễ, các thầy tập trung viết chữ, thư ý trình ngọc hoàng, sư tổ thầy cúng, tổ tiên và các vị thần khác.
Một bộ phần thì trang trí chay đàn, cắt giấy trang trí, viết các câu đối và dàn dựng trong nhà tại gian chính giữa để tiến hành các nghi chính của lễ cấp sắc.
Đứa trẻ được cấp sắc phải đội nón ở trong nhà không được ra ngoài trời, nếu có đi phải đội nón và che kín mặt.
Trong thời gian ở trong bốn như vậy, thầy cũng lập một đàn chay nhỏ đứa trẻ nằm ở đó.
Đến giờ thầy chính sẽ dạy đứa trẻ đọc sách, phù phép để thụ giới trước lúc thực hiện các nghi lễ.
Tại đây thầy châm hương phù phép đọc sách và đánh trống, làm tẩy huế cho đứa trẻ thanh tịnh, chuẩn bị được phong chức,
đi được sang thế giới tâm linh để sáng giả mình và làm những việc tốt cho cộng đồng.
Thầy chính độ phải lên một tờ danh sách các thần linh và gia tiên tiên tuổi của các cụ đã mất,
như thiên công địa mẫu, gia tiên, hương hỏa, thần nhà, đế mẫu, bàn vương, lôi vương, ngọc hoàng, tam giới, bàn sư, đầu đế, thổ địa.
Công việc viết lách trong kênh đàn song xuôi, nhà chủ sắp một mâm cúng cho thầy.
Cúng sư tổ tam thanh đại đạo, với ý nghĩa là bắt đầu việc dẫn dắt học trò tụng kinh niệm Phật,
cầu các thầy tam thanh trợ pháp, trợ giáo cho học trò thành đạt việc tụng kinh.
Bữa cơm này, đứa trẻ được ăn thịt sau có mỡ, từ các bữa sau đứa trẻ phải khiêng thịt mỡ.
Khi cơm rượu xong, ông thầy thắp hương lên bàn thờ và dạy đứa trẻ lệ vái thần nhà, lệ vái cha mẹ anh em,
với ý nghĩa xin phép cha mẹ vui lòng cho phép đứa trẻ cùng thầy lên Nong Hổ Sơn học đạo tụng kinh, tức vào buồng tụng kinh.
Trong khi một số thầy chính trực tiếp hướng dẫn và làm lễ thụ giới cho đứa trẻ,
thì một số thầy phụ vào rừng lấy cây rừng, về đan thành vóng chuẩn bị làm giá đỡ đứa trẻ từ đàn trời,
với ý nghĩa mọi thứ đứa trẻ được sinh ra từ trời đất.
Một số thầy thì làm ngôi nhà lầu để khi mời thần thánh tổ tiên về có nơi cư ngụ,
đồng thời cũng là ngôi nhà mà con chó tặng cho tổ tiên khi kết thúc lễ để các cụ đem đi,
mong các cụ được bình an đầy đủ ở thế giới bên kia nhằm phụ hộ cho gia đình và đứa trẻ mới trưởng thành.
Khai khởi kinh đàn họ hy cánh đàn, mở màn cho đầu cho mọi nghi lễ diễn ra tại chính đàn.
Một thầy niệm quyền huyền bí, một thầy vừa đọc quyền kinh đàn qua vừa đánh chống vó triêng
và đứa trẻ mặc áo đạo phục diễn sướng trước kinh đàn.
Người niệm huyền bí này được gọi là Mao Pei là ông thầy chính độ sư.
Còn người đọc sách theo tiết tấu cho tiếng chống và tiếng triêng hòa vào nhau
thành một âm thanh mịn màng riêng biệt đan sen vào âm điệu của người đọc sách như ca và nhạc khi bổng khi chầm.
Để đứa trẻ nhảy nhót theo các khúc điệu của người đọc sách thật ăn khớp.
Tiết mục khai khởi kinh đàn với ý nghĩa thỉnh tới tứ trực công tàu,
báo mời các thần thánh có tên trong thần mục xuống kinh đàn chứng kiến học trò tụng kinh niệm vật.
Đệ tử tụng kinh dạy thi giam cánh.
Tiết mục này nhà chủ sắp lấy một cái kinh bồn, xính bồn.
Kinh bồn được sắp bằng vuông vải trắng chạy lên một cái sàng loại sàng gạo
và đổi vào trong cái sàng vải ấy khoảng một bát gạo và 36 đồng su đen đồng tiền kém,
một bát khương, một chiếc đèn, một chén nước, một bó cuống cỏ chanh,
một hai tiệp giấy vàng bạc.
Ông thầy thắp khương cắm vào bát khương trong kinh bồn rồi đọc sách Đội nhân Đạo trường.
Su đen đào tràng.
Nội dung quyển sách ngóng về đón kinh thư.
Quái ý tui cánh thủy, đón 28 quyển đại thừa kinh
từ nơi kho quỹ thần Phật xuống kinh bồn cho đỡi trẻ tụng kinh.
Chiếc sàng tượng trưng cho nguyệt phủ, nhột vù, cung trăng.
Vuông vải tượng trưng cho phần trắng trong cung trăng.
Bạc phiến.
Gạo tượng trưng cho vô lượng ngọc thập, bùi nhàng như dạy.
Bó cỏ chanh tượng trưng cho trổi vàng trổi bạc, trăm thao ngăn thao.
Kinh bồn đặt ở trước kinh thàn, người niệm huyền bí.
Người đọc sách và đứa trẻ ngồi quanh bên bồn.
Theo huyền bí thì kinh bồn được bưng đặt trên cung trăng, nơi sáng sủa và sạch sẽ.
Ông thầy lấy ba tờ giấy vàng bạc, cuốn vào một bó cuống cỏ chanh cho đệ tử đứa trẻ,
cầm và dạy đệ tử cách tụng kinh.
28 quyền kinh thư lần lượt lật dở từng trang.
Đứa trẻ tay cầm bó cỏ chanh cứ quyết lên trang kinh thư,
từ phải sang trái, hết trang này, dở sang trang khác,
hết quyền này, lại sang quyền khác, cho hết bộ kinh thư.
Như trong huyền bí điều dẫn là đứa trẻ tay cầm trổi vàng trổi bạc,
quyết lấy trang kinh thư bao nhiêu chữ nghĩa,
sẽ chiết ra bao nhiêu là vàng bạc châu báo, vô lượng ngọc thập,
loại thóc gạo thần tiên và bao công nghĩa thành áng hào quang,
so sọi tâm trí con người dựa tội lỗi của âm dương
và các ổ ế phần độc của nghề toàn tục Sotan Mata Dịch Bệnh Thị Phi.
Sau nhiều những nghi lễ cúng cầu, ban phép, ban sức mạnh, ban đạo lý cho đứa trẻ,
mọi việc đã được thầy trị bảo trực tiếp và sự trợ giúp của các vị thần thánh,
đứa trẻ như đứa bé trong bụng đầy tháng chuẩn bị được sinh ra.
Các thầy đưa đứa trẻ từ nhà ngũ Đài Sơn
để chuẩn bị những nghi lễ đứa trẻ được sinh ra từ trời đất.
Những thầy phụ đóng vai là những người thợ săn kỳ cựu đánh đuổi thú dữ dưới chân đàn
với nghĩa để đứa trẻ được sinh ra một cách an toàn.
Khi đứa trẻ ngã xuống vóng, vừa được sinh ra,
thầy chính sẽ đóng dấu vào gầm bàn chân thể hiện đứa trẻ đã chính thức là người được cấp sắc,
được sinh ra trong thế giới tâm linh và thầy chính sẽ đặt cho đứa trẻ một cái tên mới.
Cái tên này có giá trị trong việc sau này làm thầy
và khi trở về thế giới bên kia gặp thánh thần và tổ tiên.
Sau khi từ đàn về, đứa trẻ được thầy dạy đọc sách, đánh chống phù phép, múa bát quái
như là miếng võ cuối cùng thầy truyền cho trò
để sau này trò có thể làm việc như thầy giúp ích cho người khác.
So với các nhóm giao khác,
thì trình diễn tổ chức lễ cấp sắc của người giao đỏ có quy mô số lượng thầy
cũng như nhiều nghi lễ độc đáo và khác lạ.
Người giao đỏ chỉ cấp sắc theo trường phái tam thanh.
Hình ảnh giới thiệu trong đoạn nội dung này
là trình diễn tổ chức lễ cấp sắc 12 đèn của người giao đỏ tổ chức tại Sapa
đại diện cho nhóm giao đỏ trên đại bàn toàn tỉnh Lào Cai.
Mở đầu là lễ đón thầy.
Đây là nghi lễ thể hiện sự tôn trọng của học trò đối với các thầy đến nằm lễ cấp sắc.
Ngoài cổng chính vào nhà cấp sắc là chủ viết giấy và cắm ở cổng.
Trên giấy có ghi nơi đón thầy.
Khi thầy cả đến, trò trưởng đồng thời là người trưởng họ
làm huynh trưởng của các trò nam dẫn đầu từ trong nhà ra đến cổng
xếp thành một hàng dài.
Các trò mặc trang phục dân tộc truyền thống
đầu cuốn khăn vại đỏ, hai tay cầm nạo bạt.
Ông Tục đón thầy của người giao đỏ bao giờ cũng phải có đội nhạc chống,
chiêng và kèn thổi đón tiếp rất làm trọng.
Lễ trình báo đón tổ tiên mời thần thánh về chứng kiến sự lễ cấp sắc.
Lễ vật dân cúng gồm có thịt lợn, rượu và cơm.
Mâm lễ được bày trước bàn thờ tổ tiên của dòng họ.
Đến giờ làm lễ, thầy cúng chính thỉnh gọi mời các thần thánh,
tổ tiên, ma làng, ma đất, ma ngoài
để chứng kiến lễ cấp sắc của các cặp họng trò.
Vừa đạp cúng, thầy vừa gieo vẻ âm chương bằng gốc chút
để xin phép thần thánh.
Nếu một giấc một ngựa là các thần đã đồng ý.
Để tiến hành lễ này, đội nhạc gồm chống, chiêng, kèn
Tổ tiên về thụ hưởng lễ và chứng giám lòng thành của thầy và trò.
Bảo vệ trai trở cho thầy và trò.
Hoàn tất các thủ tục cấp sắc mời hai đèn cho các trò.
Lễ trình diện của các học trò được thu lễ
và nhiều ghi lễ khác được tiến hành theo trình tựu.
Thầy chính đã đặt ra.
Đồng thời tuân thủ quy luật mời nước mời ăn.
Sau đó nhờ các vị thánh thành trợ giúp công việc.
Múa thỉnh mời nộp hàng xuống chứng kiến.
Trong lúc đó, tại khu vực hành lễ cấp sắc,
thầy phụ trách chống theo nhiệm vụ đã phân công cùng với thầy cả.
Đồng thời hành lễ trước bàn thờ tổ tiên dòng họ của gia đình làm lễ cấp sắc.
Thầy làm phép ăn chay, ngủ chay cho toàn thể học trò và toàn thể người tên tham gia.
Vào lúc canh ba của ngày thứ ba,
các thầy cống tiến hành làm phép ăn chay, ngủ chay.
Lúc này tất cả các học trò đem theo hành lý,
quân tư trang vào khung nhà trang trí, dán giấy mẫu.
Họ đem theo đôi nạo bạc,
thẻ gỗ tượng trưng cho các ông bà,
ông cụ tổ tiên đã mất mà chưa được cấp sắc,
được con cháu mang theo bên mình để cùng được cấp sắc.
Lễ trình diện tổ tiên,
thầy xem sách đọc cúng trình báo danh sách các học trò,
báo cáo tổ tiên bàn thờ được biết
và phù hợp cho các học trò để được làm lễ cấp sắc được tốt.
Lễ xin treo tranh nổi.
Khi các thầy tiến hành lễ treo tranh,
các trò đứng theo thứ tự,
tay cầm nạo bạc có liên hội theo nhịp chống,
ba người gỗ trống trương và thổi trèn,
bao giờ cũng tống nhạc mỗi khi các thầy hành lễ.
Khi thực hiện lễ này,
cờ nhà phải được đóng kín với ý nghĩa thiên liên,
chỉ có thầy trò và thần thánh biết.
Tiến sau đó là việc thầy trình báo tổ tiên
cho các trò đồ thích ăn chơi người Trây,
từ đó đến hình hàn thành lễ.
Rồi trống trèn tống nhạc,
các trò vừa gỗ nạo bạc,
vừa muối theo nhịp trống trương,
khi muối các trò tầm nạo bạc tổ
và cuối người lệ ba lệ đối với thầy cúng.
Khi cúng xong,
thầy phát cho mỗi trò một tấm khăn trắng
để ngày cấp sát chính các trò làm đẹp.
Một cái lễ quan trọng khác
đó là đón thầy để thầy đến thụ lễ,
truyền phép, cấp giấy chứng nhận.
Trong lễ đón thầy,
hay còn gọi là lễ dứt cha,
đón đủ 12 thầy và 6 đồ đệ của thầy mo,
thầy to nhất được đón trước,
lần lượt theo thứ tự,
đón từ thầy cao đến thầy nhỏ.
Cách đón dứt thầy cũng giống như
lễ đón thầy hôm đầu tiên,
nhưng đón thầy lần này có khác những ngày hôm trước
là các trò ngoài cầm nạo bạc,
còn được các thầy học Việt
giúp phát cho mỗi người một thanh kiếm cổ,
một lá cờ chuối.
Thanh kiếm cổ đã được trang trí dán giấy màu
trông rất đẹp mắt cầm trên tay
ra múa đón thầy vào nhà.
Sau khi đón các thầy vào đến cửa nhà,
các thầy cũng phải thủy lệ
và làm lễ xin danh để được vào nhà.
Mỗi thầy khi đi qua bằng dây sách dán ở ngoài cửa,
phải bọc một ít giấy dán che bên ngoài
làm lộ tên mình ra,
rồi mới được vào nhà.
Vào nhà, thầy báo cáo bàn thờ cổ tiên
dòng họ xin khép
đến để lưu trú lại vài ngày
làm cấp sắc cho các trò
nghi lễ truyền thống của dân tộc.
Sau đó, các trò Nam
theo thế tự lần lượt bước vào nhà.
Chùa bếp chuẩn bị nước chè, rượu
và thuốc để mời các thầy.
Họ chuẩn bị một đĩa
bốn chén đựng chè, rượu
đi mời lần lượt từ thầy cao
đến thầy thấp mới đủ 11 thầy.
Khi đến đây, chỉ có 3 thầy to nhất
đầu cuốn phân xanh, đỏ
để phân biệt với các trò và thầy nhỏ.
Khi thực hiện, thầy trưởng
làm lễ phát lương, còn gọi là
lễ giao quân âm binh trong nhà thầy ca
và thầy hai, mỗi người cầm một giá gạo
và bên cạnh có một người
giúp cầm danh sách ghi toàn bộ
các hậu trò Nam và Nữ dở ra
để đọc điểm danh.
Tiếp theo, thầy ca cùng thầy thứ hai
làm lễ phát lương, hay còn gọi là
lễ giao quân âm binh cho trò.
Mỗi người được phát một nắm gạo
rồi thầy thứ hai tiến hành
lễ liên hương.
Lễ liên hương, khi thầy giao quân âm binh
thầy trên vai trái vẫn đeo bọc tranh
ảnh thờ, tay trái vừa cầm gậy phép
lại vừa cầm giá gạo.
Các thầy đọc danh sách rồi nhú
một ít gạo ném xuống các trò Nam
chia vặt áo phải để hướng lấy gạo
quân âm binh lần đầu. Thầy ném lần lượt
cho từng cặp vợ chồng một, bắt đầu
từ cặp sống một cho đến hết.
Nữ giới chia vặt áo dài bên phải
để hướng lấy quân âm binh.
Sau khi các thầy cắp âm binh xong
các trò lấy túi vài nilon
để đựng số gạo hướng được
cắt ký trong túi áo, gọi là giữ quân âm binh
bên mình để bảo vệ.
Qua rất nhiều các lễ nhỏ
liên tiếp nhau, mỗi lễ mang
một nội dung và ý nghĩa sâu sắc cho việc cắp sách.
Thầy làm cầu nối dẫn trò
đi lên dương xuống âm.
Lễ cắp sách 12 đền của Ngài Giao
mang ý nghĩa vô cùng ton đớn đối với những người
Nam giới trong cộng đồng.
Những trò múa quanh đàn trời
dẫn dắt quanh chân cột để đánh đuổi
thú dữ, đánh đuổi cái xấu
để các học trò được sinh ra an toàn tròn vẹn.
Những động tác múa kiếm, múa giao khúc,
múa cờ hòa theo
nhịp điệu chống chiêng rộn giá
chính là những hình ảnh tiến thánh về trời
kết thúc lễ cắp sách Người Giao Đỏ.
Nghi lễ này mang đậm sát thái văn hóa
độc linh.
Tùy mỗi ngày sao có những nghi lễ và cách thức
thể hiện khác nhau nhưng đều mang một ý nghĩa
sâu sắc, đó là sự trưởng thành
của những người đàn ông trong cộng đồng
của người sao xưa nay, tạo ra một xã hội
một cộng đồng người sao hiểu biết về
đạo lý làm người, chết lý nhân văn
sống và một thế giới tâm linh
đầy áp những giá trị về đạo lý làm người.
