LÝ THUYẾT
1. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
Lặp cấu trúc là biện pháp tu từ trong đó người viết lặp lại một kiểu cấu tạo ngữ pháp ở các câu hoặc dòng thơ nhằm tạo sự liên kết, nhịp điệu và nhấn mạnh nội dung biểu đạt.
Biện pháp tu từ lặp cấu trúc được sử dụng phổ biến trong văn bản văn học, nhất là trong thơ, có những tác dụng chủ yếu sau:
- Tạo nhịp điệu: Làm cho câu văn, dòng thơ có nhịp điệu hài hòa, cân đối, tạo âm hưởng riêng cho lời văn, lời thơ.
- Nhấn mạnh nội dung: Làm nổi bật hình ảnh, sự vật, cảm xúc hoặc tư tưởng mà tác giả muốn biểu đạt.
- Tăng sức biểu cảm: Góp phần thể hiện rõ nét tâm trạng, cảm xúc và thái độ của người viết; tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc.
Ví dụ:
“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta”
(Nguyễn Đình Thi, Đất nước)
Hai dòng thơ có cấu trúc tương ứng: “... đây là của chúng ta”. Sự lặp lại cấu trúc tạo nên nhịp điệu mạnh mẽ, hào sảng, đồng thời nhấn mạnh ý thức làm chủ và niềm tự hào về đất nước của nhân dân.
2. Biện pháp tu từ đối
Đối là biện pháp tu từ sử dụng các từ ngữ, cụm từ hoặc vế câu có sự tương ứng về cấu tạo, thường đi đôi với nhau về ý nghĩa, nhằm tạo sự cân xứng, hài hòa và tăng sức biểu đạt cho lời văn, lời thơ.
Các yếu tố đối thường có sự tương đồng về từ loại, cấu trúc ngữ pháp, số lượng tiếng và có thể tương phản hoặc bổ sung cho nhau về ý nghĩa.
Biện pháp tu từ đối có những tác dụng chủ yếu sau:
- Tạo vẻ đẹp cân xứng, hài hòa: Làm cho lời văn, lời thơ có kết cấu chặt chẽ, nhịp nhàng, giàu tính nghệ thuật.
- Làm nổi bật hình ảnh và ý nghĩa: Đặt các sự vật, hiện tượng hoặc ý tưởng trong mối quan hệ tương ứng, tương phản, qua đó làm rõ đặc điểm của từng đối tượng.
- Tăng sức biểu cảm: Góp phần thể hiện cảm xúc, thái độ và tư tưởng của tác giả; tạo ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
Biện pháp tu từ đối có thể được sử dụng trong một cụm từ, giữa hai vế câu hoặc giữa hai câu thơ.
Ví dụ 1: Đối giữa hai vế câu
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.”
(Đặng Trần Côn, Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm (?) dịch)
Hai vế “cùng trông lại” và “cùng chẳng thấy” có cấu trúc tương ứng, đồng thời tạo nên sự tương phản giữa mong muốn gặp gỡ và thực tế chia lìa. Cách diễn đạt ấy góp phần nhấn mạnh nỗi buồn xa cách, sự bất lực của người chinh phụ trước khoảng cách mênh mông.
Ví dụ 2: Đối giữa hai câu thơ
“Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.”
(Bà Huyện Thanh Quan, Qua Đèo Ngang)
Hai câu thơ có cấu trúc tương ứng: trạng thái – vị trí – sự vật – số lượng. Các từ ngữ “lom khom” – “lác đác”, “dưới núi” – “bên sông”, “tiều vài chú” – “chợ mấy nhà” tạo nên phép đối hài hòa, cân xứng. Qua đó, cảnh vật hiện lên thưa thớt, vắng vẻ, góp phần thể hiện nỗi cô đơn, tâm trạng buồn man mác của nhân vật trữ tình.
LUYỆN TẬP
1. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong các đoạn thơ dưới đây (trích Truyện Kiều):
a. Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng reo quanh ghế ngồi.
Biện pháp tu từ lặp cấu trúc: Cụm từ “Buồn trông” được lặp lại ở đầu bốn cặp câu thơ, tạo nên kiểu cấu trúc cú pháp tương ứng.
Tác dụng:
- Tạo nhịp điệu trầm buồn, da diết, góp phần liên kết các hình ảnh thiên nhiên trong đoạn thơ.
- Nhấn mạnh nỗi buồn triền miên, chồng chất; tâm trạng cô đơn, lo âu và tuyệt vọng ngày càng tăng của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
- Qua mỗi lần lặp lại, cụm từ “Buồn trông” mở ra một cảnh vật khác nhau, đồng thời thể hiện những dự cảm bất an của Kiều về thân phận lênh đênh, vô định và tương lai đầy sóng gió. Thiên nhiên vì thế trở thành hình ảnh phản chiếu thế giới nội tâm đầy đau khổ của nhân vật.
b. Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
Nghĩ mình mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Biện pháp tu từ lặp cấu trúc: Cấu trúc câu hỏi tu từ với từ “sao” được lặp lại trong các câu thơ: “Khi sao phong gấm rủ là”, “Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”, “Mặt sao dày gió dạn sương”, “Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?”.
Tác dụng:
- Tạo nhịp điệu day dứt, xót xa, đồng thời liên kết các câu thơ thành dòng độc thoại nội tâm đầy đau đớn của Thúy Kiều.
- Nhấn mạnh sự đối lập giữa quá khứ êm đềm, sung túc với hiện tại tủi nhục, ê chề của Kiều; qua đó khắc sâu nỗi đau đớn, bẽ bàng khi nàng ý thức sâu sắc về sự đổi thay của số phận.
- Thể hiện tâm trạng tự thương thân, xót phận và sự đau đớn đến tuyệt vọng của Kiều trước cảnh đời bị vùi dập. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận bất hạnh và phẩm giá bị chà đạp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
c. Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho cho hại cho tàn cho cân
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!
Biện pháp tu từ lặp cấu trúc: Cấu trúc “Đã…”, “Làm cho…”, “Sao cho…” được lặp lại trong các câu thơ; đặc biệt, từ “cho” xuất hiện liên tiếp trong câu thơ “Làm cho cho hại cho tàn cho cân”.
Tác dụng:
- Tạo nhịp điệu dồn dập, nặng nề; giọng điệu day dứt, đay nghiến góp phần diễn tả nỗi đau đớn, uất ức và lời than trách đầy cay đắng của Thúy Kiều.
- Nhấn mạnh sự vùi dập tàn nhẫn, liên tiếp mà số phận dành cho người phụ nữ mang phận “hồng nhan”. Các từ ngữ “hại”, “tàn”, “sỉ nhục” khắc sâu những bất hạnh mà Kiều phải chịu đựng.
- Thể hiện ý thức sâu sắc của Kiều về thân phận đau khổ, đồng thời bộc lộ lời oán trách đối với thế lực đã đẩy nàng vào cảnh đời bất hạnh. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện niềm thương cảm đối với người phụ nữ tài sắc và thái độ lên án những thế lực chà đạp con người trong xã hội phong kiến.
2. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đối trong các đoạn thơ dưới đây (trích Truyện Kiều).
a. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.
Dưới dòng nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thiết tha.
Biện pháp tu từ đối:
- Đối trong một cụm từ hoặc một vế câu:
- “Xuân lan / thu cúc”: hai hình ảnh được đặt trong thế đối ứng, gợi vẻ đẹp riêng của Thúy Kiều và Thúy Vân.
- “Người quốc sắc / kẻ thiên tài”: “người – kẻ” tương ứng với nhau, “quốc sắc – thiên tài” bổ sung cho nhau, khẳng định vẻ đẹp và tài năng của Kim Trọng, Thúy Kiều.
- “Tình trong như đã / mặt ngoài còn e”: “tình trong” đối với “mặt ngoài”, “như đã” đối với “còn e”, thể hiện sự tương phản giữa tình cảm đã nảy nở bên trong và vẻ e thẹn, dè dặt bên ngoài.
- “Rốn ngồi chẳng tiện / dứt về chỉn khôn”: hai vế câu có cấu trúc tương ứng, diễn tả tâm trạng lưu luyến, dùng dằng của Kim Trọng khi muốn ở lại nhưng không tiện.
- “Khách đà lên ngựa / người còn ghé theo”: “khách” đối với “người”, “đà lên ngựa” đối với “còn ghé theo”, làm nổi bật sự tương ứng trong hành động của Kim Trọng và Thúy Kiều khi chia tay.
- Đối giữa một cặp câu thơ:
“Dưới dòng nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thiết tha.”
Hai câu thơ có cấu trúc tương ứng: “Dưới dòng” – “Bên cầu”, “nước chảy” – “tơ liễu”, “trong veo” – “thiết tha”. Các hình ảnh được sắp xếp cân xứng, tạo nên bức tranh thiên nhiên hài hòa, giàu chất thơ.
Tác dụng:
- Tạo vẻ đẹp cân xứng, hài hòa cho lời thơ, góp phần làm nổi bật nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển của thể thơ lục bát.
- Khắc họa vẻ đẹp riêng của Thúy Kiều, Thúy Vân và sự tương xứng giữa Kim Trọng với Thúy Kiều, qua đó thể hiện sự trân trọng, ngợi ca của Nguyễn Du đối với những con người tài sắc.
- Làm nổi bật những trạng thái tình cảm tinh tế của Kim Trọng và Thúy Kiều: sự rung động kín đáo, nỗi lưu luyến và tâm trạng bối rối trong buổi đầu gặp gỡ, khi tình yêu vừa chớm nở.
- Góp phần khắc họa vẻ đẹp của cảnh vật trong buổi chiều xuân, nơi thiên nhiên hòa quyện với tâm trạng con người, tạo nên dư vị trữ tình, man mác của mối tình đầu.
b. Một mình nương ngọn đèn khuya,
Áo đầm giọt lệ tóc se mái sầu:
“Phận dầu dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi,
Vì ta khăng khít cho người dở dang.
Biện pháp tu từ đối:
- “Áo đầm giọt lệ / tóc se mái sầu”: Hai vế câu có cấu trúc tương ứng, với các hình ảnh “áo – tóc”, “giọt lệ – mái sầu”, gợi tả dáng vẻ tiều tụy, đau khổ của Thúy Kiều.
- “Vì ta khăng khít / cho người dở dang”: Hai vế câu có cấu trúc tương ứng, đồng thời tạo sự tương phản giữa “khăng khít” và “dở dang”, làm nổi bật sự đối lập giữa tình cảm gắn bó của Kim Trọng và mối duyên dang dở mà Thúy Kiều cho rằng mình đã gây ra.
Tác dụng:
- Tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ, góp phần làm nổi bật nhịp điệu và tăng sức biểu cảm.
- Khắc họa dáng vẻ tiều tụy, tâm trạng đau khổ, day dứt, mặc cảm có lỗi của Thúy Kiều khi nghĩ về mối tình dang dở với Kim Trọng.
- Nhấn mạnh nỗi xót xa, mặc cảm phụ bạc và sự giằng xé trong lòng Kiều: nàng trân trọng tình nghĩa sâu nặng của Kim Trọng nhưng đau đớn vì hoàn cảnh khiến mối duyên không thể trọn vẹn. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với bi kịch tình yêu và số phận bất hạnh của Thúy Kiều.
c. Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.
Biện pháp tu từ đối:
- “Người về chiếc bóng năm canh / Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”: Cặp câu thơ có cấu trúc tương ứng: “người về” – “kẻ đi”, “chiếc bóng năm canh” – “muôn dặm một mình xa xôi”, làm nổi bật sự chia lìa và hoàn cảnh cô đơn của Thúy Kiều, Thúc Sinh.
- “Nửa in gối chiếc / nửa soi dặm trường”: Hai vế thơ có cấu trúc tương ứng, với các hình ảnh “gối chiếc” – “dặm trường”, “in” – “soi”, gợi sự chia đôi của vầng trăng, đồng thời tượng trưng cho đôi lứa đang phải sống trong cảnh xa cách.
Tác dụng:
- Tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ, làm nổi bật nhịp điệu và tăng sức biểu cảm.
- Nhấn mạnh sự tương đồng trong tâm trạng cô đơn lưu luyến, nhớ nhung, khắc khoải của Thúc Sinh và Thúy Kiều khi phải xa cách, chia lìa.
- Qua hình ảnh vầng trăng bị chia đôi, diễn tả nỗi nhớ thương, khắc khoải và sự cách trở trong tình yêu; đồng thời thể hiện niềm cảm thương của Nguyễn Du trước những cảnh đời phải chịu cảnh chia lìa, dang dở.



Bình luận