KHỞI ĐỘNG
Có không ít câu chuyện thú vị về việc vua chúa hay lãnh đạo đất nước muốn chiêu mộ hiền tài ra gánh vác trọng trách quốc gia. Hãy chia sẻ một câu chuyện mà bạn biết.
Gợi ý trả lời:
Em nhớ đến câu chuyện Lưu Bị ba lần đến lều cỏ để mời Gia Cát Lượng ra giúp mình. Dù là người đứng đầu một thế lực, Lưu Bị vẫn nhiều lần đích thân đến thăm, thể hiện sự khiêm nhường và lòng thành. Cuối cùng, Gia Cát Lượng cảm động trước tấm lòng ấy nên nhận lời giúp sức. Theo em, câu chuyện cho thấy muốn có được người tài thì người lãnh đạo phải thật sự biết trân trọng và chân thành với hiền tài.
Em biết câu chuyện vua Quang Trung ban Chiếu cầu hiền, giao cho Ngô Thì Nhậm soạn thảo. Sau nhiều năm đất nước chiến tranh, nhiều người tài còn lánh đời hoặc chưa muốn ra làm quan. Nhà vua đã ban chiếu để bày tỏ mong muốn tập hợp hiền tài, khuyến khích mọi người tiến cử hoặc tự tiến cử, miễn là có tài và có lòng giúp nước. Theo em, điều đáng quý là Quang Trung rất coi trọng nhân tài và hiểu rằng một người không thể gánh vác hết việc nước, nên cần quy tụ trí tuệ của nhiều người để xây dựng đất nước.
TÌM HIỂU CHUNG
Vua Quang Trung (1753–1792), tên thật là Nguyễn Huệ, là vị hoàng đế sáng lập triều Tây Sơn và là một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XVIII. Ông nổi bật với tài năng quân sự, đặc biệt là chiến thắng quân Thanh đầu xuân năm Kỉ Dậu (1789), đồng thời có nhiều chủ trương nhằm ổn định đất nước sau nhiều năm nội chiến. Một trong những chính sách quan trọng của ông là trọng dụng nhân tài để xây dựng chính quyền mới. Chiếu cầu hiền được ban bố theo ý chỉ của vua Quang Trung và do Ngô Thì Nhậm chấp bút. Văn bản thể hiện mong muốn quy tụ những người có tài, kể cả các sĩ phu từng phục vụ triều Lê, cùng gác lại hiềm khích để góp sức khôi phục và phát triển đất nước trong buổi đầu của triều đại Tây Sơn.

Ngô Thì Nhậm (1746–1803) là nhà văn, nhà chính trị và học giả tiêu biểu của Việt Nam cuối thế kỉ XVIII. Ông đỗ tiến sĩ dưới triều Lê, từng làm quan cho triều Lê – Trịnh, sau đó ra giúp nhà Tây Sơn và trở thành một cộng sự quan trọng của vua Quang Trung trong việc hoạch định chính sự và ngoại giao. Ngô Thì Nhậm để lại nhiều tác phẩm có giá trị về chính trị, văn học và triết học. Chiếu cầu hiền được ông soạn theo ý chỉ của vua Quang Trung, thể hiện tư tưởng trọng dụng nhân tài và khát vọng quy tụ hiền tài để xây dựng đất nước sau thời kì chiến tranh, đồng thời cho thấy tài năng lập luận và nghệ thuật văn chính luận đặc sắc của ông.

Cầu hiền chiếu thuộc thể chiếu – thể văn nghị luận chính trị do nhà vua ban bố để truyền đạt chủ trương, mệnh lệnh hoặc kêu gọi thần dân. Văn bản ra đời vào năm 1788, trong bối cảnh triều đại Tây Sơn vừa được thiết lập, đất nước còn nhiều khó khăn sau thời gian dài chiến tranh và rất cần nhân tài để ổn định, phát triển. Vì vậy, bản chiếu được ban bố nhằm kêu gọi những người có tài năng, đức độ ra giúp nước, góp phần xây dựng chính quyền và đem lại cuộc sống thái bình cho nhân dân. Với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục và tư tưởng trọng dụng hiền tài tiến bộ, Chiếu cầu hiền được xem là một trong những văn bản chính luận đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam.
Chiếu cầu hiền
(Cầu hiền chiếu)
Ngô Thì Nhậm
Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng. Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời. Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng? Kìa như, trời còn tăm tối, thì đấng quân tử phải trổ tài. Nay đương ở buổi đầu của nền đại định, công việc vừa mới mở ra. Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan. Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi. Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh. Nghĩ cho kĩ thì thấy rằng: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình. Suy đi tính lại trong vòm trời này, cứ cái ấp mười nhà ắt phải có người trung thành tín nghĩa. Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?
Chiếu này ban xuống, các bậc quan viên lớn nhỏ, cùng với thứ dân trăm họ, người nào có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sớ tâu bày sự việc. Lời nói nào có thể chọn dùng được, thì cất nhắc không kể thứ bậc; chỗ nào không dùng được thì gác lại, không vì lời nói sơ suất vu khoát mà bắt tội. Còn người có nghề hay nghiệp giỏi, có thể cống hiến cho đời, thì cho phép các quan văn, quan võ được tiến cử, nhưng vẫn dẫn vào đợi ra mắt, tuỳ tài lục dụng. Hoặc người nào từ trước đến nay tài năng còn bị che kín, chưa được người đời biết đến, thì cũng cho phép dâng sớ tự tiến cử, chớ hiềm vì mưu lợi mà phải bán rao.
Này! Trong khoảng trời đất, hiền tài còn ẩn náu, trước đây thì nên như thế. Nay trời trong sáng, đất thanh bình, chính là lúc người hiền gặp hội gió mây, những ai có tài có đức hãy cùng cố gắng lên, ghi tên tại triều đình, cùng nhau cung kính, cùng nhau hưởng phúc lành tôn vinh.
Vậy bố cáo gần xa để mọi người đều biết.
(Theo Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004).
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Cầu hiền chiếu được ban bố với lí do và mục đích gì?
Lí do ban bố Chiếu cầu hiền:
- Đất nước vừa trải qua thời kì chiến tranh, triều đại Tây Sơn mới được thành lập, còn nhiều khó khăn trong việc ổn định và xây dựng đất nước.
- Nhiều hiền tài, đặc biệt là các sĩ phu Bắc Hà từng phục vụ nhà Lê, vẫn ở ẩn hoặc chưa chịu ra cộng tác với triều đình mới.
- Vua Quang Trung nhận thấy việc trị nước không thể chỉ dựa vào sức của một người mà cần có sự chung tay của những người tài đức.
Mục đích ban bố Chiếu cầu hiền:
- Kêu gọi những người hiền tài, nhất là các sĩ phu Bắc Hà, ra cộng tác với triều đại Tây Sơn.
- Xóa bỏ sự nghi ngại, mặc cảm và khuyến khích người tài được tiến cử hoặc tự tiến cử.
- Quy tụ nhân tài để cùng vua Quang Trung xây dựng đất nước, đem lại cuộc sống thái bình, thịnh trị cho nhân dân.
2. Văn bản hướng tới đối tượng nào trong xã hội lúc bấy giờ? Khi vâng mệnh vua Quang Trung soạn chiếu này, Ngô Thì Nhậm đối diện với những khó khăn gì trong việc thuyết phục các đối tượng đó ra gánh vác việc nước?
Văn bản hướng tới các sĩ phu Bắc Hà, đặc biệt là những người có học, có tài, từng làm quan hoặc gắn bó với triều Lê – Trịnh nhưng chưa ra cộng tác với triều đại Tây Sơn. Ngoài ra, bản chiếu cũng hướng đến các quan lại và những người có tài trong dân gian, khuyến khích họ tiến cử hoặc tự tiến cử.
Khi vâng mệnh vua Quang Trung soạn Chiếu cầu hiền, Ngô Thì Nhậm phải đối diện với nhiều khó khăn:
- Thuyết phục các sĩ phu vượt qua tư tưởng trung quân: Nhiều người vẫn giữ quan niệm "trung thần bất sự nhị quân" (trung thần không thờ hai vua), nên chọn ở ẩn hoặc không hợp tác với triều đại mới.
- Xóa bỏ tâm lí lo sợ: Những người từng phục vụ nhà Lê e ngại sẽ bị nghi ngờ, thanh trừng hoặc không được trọng dụng nên không dám ra giúp nước.
- Giải tỏa sự nghi ngờ đối với triều Tây Sơn: Do Tây Sơn là một triều đại mới, chưa được nhiều sĩ phu coi là chính thống, nên họ còn dè dặt, thiếu niềm tin.
Vì vậy, Ngô Thì Nhậm không chỉ kêu gọi hiền tài mà còn phải khéo léo dùng lí lẽ và tấm lòng của vua Quang Trung để thay đổi nhận thức, tạo niềm tin và khích lệ họ gác bỏ hiềm khích, ra gánh vác việc nước.
3. Văn bản có mấy phần? Phân tích mối quan hệ giữa nội dung các phần.
Văn bản có 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến "...không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy."): Nêu quan niệm về vai trò, sứ mệnh của người hiền. Tác giả khẳng định người hiền sinh ra phải ra giúp vua, giúp nước; nếu có tài mà ẩn dật thì trái với lẽ trời.
- Phần 2 (tiếp theo đến "...há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?"): Phân tích thực trạng và bày tỏ sự mong mỏi hiền tài. Tác giả nêu nguyên nhân khiến người hiền chưa ra giúp nước, đồng thời chỉ rõ tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, rất cần người tài chung sức với triều đình.
- Phần 3 (phần còn lại): Đưa ra lời kêu gọi và chính sách cầu hiền. Nhà vua khuyến khích người có tài dâng sớ, tự tiến cử hoặc được người khác tiến cử; đồng thời bày tỏ niềm tin, kì vọng vào sự xuất hiện của hiền tài.
Mối quan hệ giữa các phần:
Ba phần có mối quan hệ chặt chẽ, tạo thành một lập luận logic và thuyết phục:
- Phần 1 nêu cơ sở lí luận (người hiền phải ra giúp đời).
- Phần 2 nêu cơ sở thực tiễn (đất nước cần hiền tài, nhà vua tha thiết cầu hiền).
- Phần 3 đưa ra giải pháp và lời hiệu triệu (mở đường cho người tài ra giúp nước).
→ Cách triển khai theo trình tự từ lí lẽ → thực tiễn → hành động giúp lời chiếu có sức thuyết phục cao, vừa đánh thức ý thức trách nhiệm của hiền tài, vừa tạo niềm tin để họ sẵn sàng cộng tác với triều đại mới.
4. Nghệ thuật lập luận thể hiện như thế nào qua việc dùng lí lẽ và bằng chứng, phối hợp với các yếu tố biểu cảm, thuyết minh?
Nghệ thuật lập luận trong Chiếu cầu hiền rất chặt chẽ và giàu sức thuyết phục.
- Về lí lẽ và bằng chứng: Tác giả mở đầu bằng quan niệm quen thuộc của Nho giáo: người hiền sinh ra phải ra giúp đời, từ đó khẳng định việc ẩn dật là không hợp với đạo trời. Tiếp theo, tác giả nêu thực trạng đất nước sau chiến tranh còn nhiều khó khăn, triều đình rất cần hiền tài, đồng thời chỉ ra thực tế nhiều người tài vẫn chưa ra giúp nước. Những lí lẽ ấy được triển khai theo trình tự hợp lí, vừa có cơ sở đạo lí, vừa dựa trên hoàn cảnh thực tế.
- Về yếu tố biểu cảm: Bản chiếu bộc lộ rõ tấm lòng khiêm nhường, chân thành và tha thiết của vua Quang Trung qua những lời tự vấn ("Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng?"), những lời bày tỏ nỗi lo việc nước và niềm mong mỏi có người tài chung sức. Điều đó tạo sự đồng cảm và làm tăng sức lay động.
- Về yếu tố thuyết minh: Tác giả trình bày rõ chủ trương cầu hiền của triều đình: cho phép tiến cử, tự tiến cử, cất nhắc người có tài không kể xuất thân, không bắt tội người góp ý chưa đúng. Những chính sách cụ thể giúp người đọc hiểu rõ cách thức thực hiện việc cầu hiền và thấy được sự rộng mở, trọng dụng nhân tài của triều đình.
=> Sự kết hợp hài hòa giữa lí lẽ sắc bén, bằng chứng thực tế, yếu tố biểu cảm chân thành và yếu tố thuyết minh rõ ràng đã tạo nên sức thuyết phục lớn cho Chiếu cầu hiền, góp phần khích lệ hiền tài gạt bỏ mặc cảm, nghi ngại để ra giúp nước.
5. Theo bạn, điều gì tạo nên sức thuyết phục của Cầu hiền chiếu?
Theo em, sức thuyết phục của Chiếu cầu hiền được tạo nên bởi nhiều yếu tố:
- Lập luận chặt chẽ, hợp lí: Tác giả đi từ đạo lí (người hiền sinh ra phải giúp đời), đến thực trạng đất nước đang cần nhân tài, rồi đưa ra những chính sách cụ thể để thu hút hiền tài.
- Thái độ chân thành, khiêm nhường của vua Quang Trung: Nhà vua không tự đề cao mình mà bày tỏ sự lo lắng trước việc nước, tự nhận còn nhiều điều chưa làm được và tha thiết mong người tài chung sức.
- Chính sách cầu hiền cởi mở, tiến bộ: Triều đình khuyến khích cả tiến cử và tự tiến cử, trọng dụng người tài không phân biệt xuất thân, không trách phạt những ý kiến chưa phù hợp. Điều đó thể hiện tinh thần thực sự coi trọng nhân tài.
- Sự kết hợp hài hòa giữa lí trí và tình cảm: Bản chiếu vừa có lí lẽ sắc bén, vừa có lời lẽ tha thiết, giàu cảm xúc, khiến người đọc dễ đồng tình và tin tưởng.
=> Chính tư tưởng trọng dụng hiền tài, tấm lòng vì đất nước của vua Quang Trung cùng nghệ thuật lập luận khéo léo đã làm nên sức thuyết phục bền vững của Chiếu cầu hiền.
6. Viết Cầu hiền chiếu trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, tác giả đã gửi gắm khát vọng lớn lao nào đối với đất nước?
Theo em, viết Chiếu cầu hiền trong hoàn cảnh đất nước vừa trải qua nhiều biến động, Ngô Thì Nhậm đã gửi gắm khát vọng xây dựng một đất nước thống nhất, thái bình và hưng thịnh bằng sức mạnh của hiền tài.
Ông mong muốn xóa bỏ những định kiến và chia rẽ giữa triều đại cũ với triều đại mới, quy tụ mọi người có tài năng, đức độ cùng chung tay gánh vác việc nước. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tin rằng nhân tài là nền tảng của quốc gia, chỉ khi biết trọng dụng hiền tài thì đất nước mới sớm ổn định, nhân dân được yên vui và xã hội phát triển bền vững.
=> Chiếu cầu hiền thể hiện khát vọng lớn lao của vua Quang Trung và Ngô Thì Nhậm: đoàn kết hiền tài, quy tụ trí tuệ của toàn dân để xây dựng một quốc gia hùng mạnh, thịnh trị và lâu bền.
KẾT NỐI ĐỌC VIẾT
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ của bạn về ý kiến: Người có tài cần phát huy tài năng của mình để đóng góp cho cộng đồng.
Người có tài cần phát huy tài năng của mình để đóng góp cho cộng đồng, bởi tài năng không chỉ là món quà dành cho cá nhân mà còn là nguồn lực quý giá của xã hội. Khi biết đem năng lực của mình phục vụ mọi người, mỗi cá nhân sẽ tạo ra những giá trị tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống. Lịch sử đã ghi nhận nhiều tấm gương như Nguyễn Trãi, Quang Trung, hay thời hiện đại là những nhà khoa học, bác sĩ, thầy giáo đã cống hiến trí tuệ vì lợi ích chung. Ngược lại, nếu chỉ giữ tài năng cho riêng mình hoặc sử dụng nó vì mục đích ích kỉ thì tài năng ấy khó phát huy hết ý nghĩa. Tuy nhiên, xã hội cũng cần biết trân trọng, tạo điều kiện và sử dụng đúng người, đúng việc để người tài có cơ hội cống hiến. Mỗi người trẻ hôm nay cần không ngừng học tập, rèn luyện và nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm, để khi có năng lực sẽ sẵn sàng góp sức xây dựng cộng đồng và đất nước



Bình luận