Trong hình dung của bạn, nhà thơ phải là người như thế nào? Bạn có cho rằng việc làm thơ gắn liền với những phút cao hứng, “bốc đồng”.
Gợi ý:
Theo em, nhà thơ trước hết phải là người có tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc và biết rung động trước con người, thiên nhiên, cuộc sống. Đồng thời, họ cũng cần có vốn hiểu biết, khả năng quan sát tinh tế và sự lao động nghệ thuật nghiêm túc để biến những cảm xúc ấy thành những vần thơ có giá trị.
Em không cho rằng việc làm thơ chỉ gắn liền với những phút cao hứng hay “bốc đồng”. Cảm hứng có thể là khởi đầu của một bài thơ, nhưng để tạo nên một tác phẩm hay, nhà thơ còn phải suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa từng câu, từng chữ. Nhiều bài thơ nổi tiếng là kết quả của quá trình lao động bền bỉ và công phu chứ không chỉ nhờ cảm xúc nhất thời. Vì vậy, theo em, thơ là sự kết hợp giữa cảm hứng sáng tạo và sự khổ luyện trong nghệ thuật ngôn từ.
Bạn nhớ hoặc thích định nghĩa nào về thơ, nhà thơ hay công việc làm thơ?
Gợi ý:
- Em rất tâm đắc với quan niệm của Lê Quý Đôn: "Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được." Theo em, câu nói này cho thấy thơ không chỉ cần cảm xúc mà còn cần vốn sống, vốn văn hóa và sự từng trải. Một nhà thơ muốn sáng tạo những tác phẩm có giá trị phải không ngừng học hỏi, quan sát và tích lũy tri thức từ cuộc sống.
- Em rất thích quan niệm của Nguyễn Đình Thi: "Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống." Theo em, định nghĩa này giúp hiểu rằng thơ bắt nguồn từ những rung động chân thành và mãnh liệt của con người trước cuộc đời. Khi cảm xúc đạt đến độ sâu sắc, nó sẽ tự tìm đến hình thức biểu đạt cô đọng, giàu hình ảnh và nhạc điệu là thơ.
TÌM HIỂU CHUNG
Lê Đạt (1929–2008), tên thật là Đào Công Đạt, quê ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại, nổi bật với tinh thần đổi mới nghệ thuật và những tìm tòi sâu sắc về ngôn ngữ thơ. Sau thời gian dài lặng lẽ sáng tạo, ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị như các tập thơ Bóng chữ, Ngó lời, U75 từ tình,… cùng tập tiểu luận – phê bình Đối thoại với đời & thơ. Quan niệm đề cao lao động chữ nghĩa của ông đã trở thành một tư tưởng có ảnh hưởng trong nghiên cứu và sáng tác, khẳng định vai trò của lao động nghệ thuật và sức sáng tạo của ngôn từ trong thơ ca.

Chữ bầu lên nhà thơ là một bài tiểu luận tiêu biểu của Lê Đạt, được in trong tập Đối thoại với đời & thơ (NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011). Bài viết thể hiện những suy ngẫm sâu sắc của tác giả về bản chất của thơ ca và lao động sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt nhấn mạnh vai trò quyết định của chữ trong việc làm nên giá trị của một bài thơ và khẳng định tài năng của nhà thơ. Với hệ thống lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng phong phú và cách diễn đạt giàu hình ảnh, văn bản góp phần làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật độc đáo của Lê Đạt: thơ không chỉ là cảm hứng mà trước hết là kết quả của quá trình lao động ngôn từ bền bỉ, nghiêm túc và sáng tạo.

KHÁM PHÁ VĂN BẢN
Chữ bầu lên nhà thơ
(trích)
Lê Đạt
Tôi xin phép được nhắc lại tóm tắt một số ý kiến cần thiết đã được phát biểu tại cuộc Hội thảo Văn Miếu và trong tập Bóng chữ:
- Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn tại”.
- Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa.
- Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ.
- Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, súc gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ.
Nói như Va-lê-ri, chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị. [...]
Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.
Nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú.
Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.
Tôi rất biết những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.
Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời.
Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hoá.
Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ.
Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.
Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.
Mà trời tuy là kho vô tận, thường khi cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả những người “cho” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu là hào phóng vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày.
Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi,Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì.
Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ.
Pi-cát-xô có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.”
Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét: Chữ bầu lên nhà thơ.
Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ.
Tôi không nhớ Gít-đơ hay Pét-xoa – nhà thơ lớn Bồ Đào Nha – đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Vích-to Huy-gô.
Vích-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô.
Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ.
Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả.
Ta có thể nói con đường thơ chính là số phận của một nhà thơ.
Nhưng, dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tuỵ đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ.
(Lê Đạt, Đối thoại với đời & thơ, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr. 86 – 88)
1. Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản này là gì?
Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản là bản chất của lao động sáng tạo thơ ca và vai trò quyết định của "chữ" đối với nhà thơ.
Qua đó, Lê Đạt khẳng định rằng thơ không chỉ được tạo nên bởi cảm hứng hay tài năng thiên bẩm mà còn là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật công phu, kiên trì, trong đó nhà thơ phải không ngừng trau dồi, tìm tòi và sáng tạo ngôn ngữ. Chính "chữ" là yếu tố làm nên giá trị của bài thơ và cũng là thước đo tài năng của người làm thơ, đúng như quan niệm: "Chữ bầu lên nhà thơ."
2. Hãy tìm trong văn bản một câu có thể nêu bật được ý cốt lõi trong quan niệm về thơ của tác giả.
Câu văn nêu bật ý cốt lõi trong quan niệm về thơ của tác giả là: "Dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tụy đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ."
Câu văn đã khẳng định quan niệm nhất quán của Lê Đạt: làm thơ trước hết là lao động nghệ thuật với ngôn ngữ. Nhà thơ phải miệt mài sáng tạo, trau chuốt từng con chữ để biến ngôn ngữ chung của cộng đồng thành ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, góp phần làm giàu và làm đẹp tiếng Việt. Đây cũng là ý tưởng xuyên suốt của văn bản và là cơ sở cho quan niệm "Chữ bầu lên nhà thơ."
3. Ở phần 2 của văn bản, tác giả đã tranh luận với hai quan niệm khá phổ biến:
- Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, “bốc đồng”, làm thơ không cần cố gắng.
- Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
Những lí lẽ và bằng chứng mà tác giả nêu lên đã thực sự thuyết phục chưa? Hãy nói rõ ý kiến của bạn.
Theo em, những lí lẽ và bằng chứng mà tác giả đưa ra khá thuyết phục.
Trước hết, tác giả khẳng định những câu thơ hay có thể đến từ sự "kì ngộ", nhưng đó không phải là sự may mắn ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình lao động bền bỉ, đắm đuối và kiên trì. Ông dùng những hình ảnh giàu sức gợi như "đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ", "lực điền trên cánh đồng giấy" để nhấn mạnh sự nhọc nhằn của công việc sáng tạo thơ ca.
Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra nhiều dẫn chứng tiêu biểu. Ông nhắc đến Leo Tolstoy và Gustave Flaubert để chứng minh rằng những nhà văn lớn đều rất công phu trong việc sửa chữa, cân nhắc từng câu chữ. Đồng thời, ông dẫn chứng các nhà thơ lớn như Lý Bạch, Johann Wolfgang von Goethe, Rabindranath Tagore vẫn sáng tác những tác phẩm xuất sắc khi tuổi đã cao, qua đó bác bỏ quan niệm cho rằng thơ chỉ là kết quả của tài năng thiên bẩm hay cảm hứng nhất thời.
- Em đồng tình với quan điểm của tác giả, bởi trong bất cứ lĩnh vực nghệ thuật nào, cảm hứng chỉ là điểm khởi đầu; để tạo nên một tác phẩm có giá trị, người nghệ sĩ phải không ngừng học tập, tích lũy vốn sống và lao động sáng tạo nghiêm túc. Điều đó cũng phù hợp với chính quan niệm của Lê Đạt: "Chữ bầu lên nhà thơ."
- Em chưa hoàn toàn đồng tình với những lí lẽ của tác giả. Đúng là làm thơ cần sự lao động nghiêm túc, trau dồi học vấn và công phu gọt giũa ngôn từ, nhưng không thể vì thế mà xem nhẹ vai trò của cảm hứng và năng khiếu. Thực tế, nhiều bài thơ nổi tiếng được sáng tác trong những khoảnh khắc cảm xúc mãnh liệt, chẳng hạn bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử hay Tây Tiến của Quang Dũng đều mang đậm dấu ấn của cảm xúc. Bên cạnh đó, năng khiếu cũng là một yếu tố quan trọng, bởi không phải ai chăm chỉ rèn luyện cũng có thể trở thành nhà thơ. Theo em, thơ hay là kết quả của sự kết hợp giữa năng khiếu, cảm hứng và lao động nghệ thuật. Vì vậy, lập luận của Lê Đạt có sức thuyết phục ở chỗ đề cao lao động sáng tạo, nhưng sẽ toàn diện hơn nếu nhìn nhận hài hòa vai trò của cả ba yếu tố trên. Theo em, cảm hứng và năng khiếu là điều kiện quan trọng để bắt đầu sáng tạo thơ ca, nhưng để tạo nên một tác phẩm có giá trị lâu bền, nhà thơ vẫn phải lao động nghệ thuật nghiêm túc và không ngừng trau dồi vốn sống, học vấn.
4. Tác giả không trực tiếp định nghĩa khái niệm chữ. Dựa vào “ý tại ngôn ngoại” của văn bản, bạn hãy thử thực hiện công việc này.
Nếu đọc theo tinh thần “ý tại ngôn ngoại” mà Lê Đạt gợi ra, có thể hiểu khái niệm “chữ” trong văn bản không chỉ là đơn vị ngôn ngữ đơn thuần.
“Chữ” trước hết là từ ngữ trong đời sống ngôn ngữ chung, nhưng khi đi vào thơ ca, nó không còn giữ nguyên nghĩa “tiêu dùng” như trong từ điển. “Chữ” trở thành một đơn vị nghệ thuật sống, mang theo nhiều lớp giá trị: âm thanh, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, khả năng gợi hình, gợi cảm và cả những liên tưởng vượt ra ngoài nghĩa trực tiếp.
Vì vậy, có thể hiểu “chữ” trong quan niệm của Lê Đạt là vật liệu trung tâm của thơ ca, đồng thời cũng là đối tượng lao động sáng tạo của nhà thơ. Nhà thơ không chỉ dùng chữ để diễn đạt ý, mà còn phải “làm việc với chữ”: lựa chọn, tổ chức, gọt giũa để tạo nên những rung động thẩm mĩ mới. Mỗi “chữ” trong thơ vì thế mang một “hóa trị” riêng, có khả năng tạo nghĩa trong quan hệ với các chữ khác trong câu thơ, chứ không tồn tại đơn lẻ.
Nói ngắn gọn, “chữ” trong văn bản là ngôn ngữ đã được nghệ thuật hóa, là nơi hội tụ giữa âm thanh – hình ảnh – cảm xúc – tư duy, và là yếu tố quyết định bản sắc của thơ cũng như vị trí của nhà thơ.
5. Bạn có ý kiến gì về luận điểm: “Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ”? Nếu tán đồng với tác giả Lê Đạt, hãy đưa ra một ví dụ để minh họa.
Em tán đồng với luận điểm của tác giả. Theo em, trong thơ, chữ không chỉ mang nghĩa thông thường mà còn có âm điệu, hình ảnh, nhịp điệu và sức gợi cảm trong mối quan hệ với cả câu thơ, bài thơ. Vì vậy, nhà thơ không chỉ dùng chữ để diễn đạt ý tưởng mà còn sáng tạo, lựa chọn và tổ chức chữ để tạo nên giá trị nghệ thuật.
Chẳng hạn, trong câu thơ của Nguyễn Khuyến: Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Chữ "vèo" vốn chỉ là một từ tượng thanh, nhưng trong câu thơ lại gợi được cả chuyển động nhẹ mà nhanh của chiếc lá thu, đồng thời làm nổi bật không gian tĩnh lặng và vẻ thanh sơ của bức tranh mùa thu. Nếu thay chữ "vèo" bằng "bay", "rơi" hay "vòng", câu thơ vẫn đúng nghĩa nhưng sẽ mất đi âm hưởng và sức gợi đặc biệt. Điều đó cho thấy giá trị của chữ trong thơ không chỉ nằm ở "nghĩa tiêu dùng" mà còn ở âm thanh, nhạc tính và khả năng gợi lên những cảm xúc, liên tưởng tinh tế. Đây cũng chính là điều Lê Đạt muốn khẳng định khi cho rằng nhà thơ làm thơ bằng chữ chứ không chỉ bằng ý.
6. Bài viết của Lê Đạt đã giúp bạn hiểu thêm gì về hoạt động sáng tạo thơ ca?
Qua bài viết của Lê Đạt, em hiểu rằng sáng tạo thơ ca không chỉ dựa vào cảm hứng hay năng khiếu thiên bẩm mà còn là một quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc và bền bỉ. Nhà thơ phải không ngừng học hỏi, tích lũy vốn sống, trau dồi học vấn và đặc biệt là lao động với từng con chữ. Mỗi chữ trong thơ không chỉ mang nghĩa thông thường mà còn có âm hưởng, nhịp điệu, hình ảnh và sức gợi riêng, góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm. Vì thế, một bài thơ hay là kết quả của sự kết hợp giữa cảm xúc chân thành, tư duy sáng tạo và công phu gọt giũa ngôn ngữ. Quan niệm "Chữ bầu lên nhà thơ" giúp em nhận ra rằng tài năng của nhà thơ được khẳng định không phải bằng danh tiếng hay cảm hứng nhất thời, mà bằng những tác phẩm được tạo nên từ sự lao động nghiêm túc, sáng tạo và giàu trách nhiệm với tiếng Việt.

KẾT NỐI ĐỌC – VIẾT
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ về một nhận định mà bạn thấy tâm đắc trong văn bản Chữ bầu lên nhà thơ của Lê Đạt.
- Trong những nhận định của Lê Đạt, em ấn tượng nhất với câu: “Chữ bầu lên nhà thơ.” Theo em, câu nói này muốn nhấn mạnh rằng danh tiếng hay tài năng của một nhà thơ không phải là điều có sẵn, mà được khẳng định qua từng tác phẩm. Mỗi bài thơ là một lần nhà thơ đối diện với thử thách của sáng tạo, phải tìm được những con chữ chính xác, giàu sức gợi và mang dấu ấn riêng. Vì thế, không ai có thể trở thành nhà thơ lớn chỉ nhờ cảm hứng nhất thời hay năng khiếu bẩm sinh. Quan niệm của Lê Đạt cũng nhắc nhở người sáng tác phải luôn khiêm tốn, không ngừng học hỏi và lao động nghệ thuật. Em cho rằng điều này không chỉ đúng với thơ ca mà còn đúng với mọi lĩnh vực của cuộc sống: chỉ có sự nỗ lực bền bỉ và tinh thần cầu tiến mới tạo nên những giá trị bền vững.
- Trong văn bản Chữ bầu lên nhà thơ, em tâm đắc nhất với nhận định: “Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ.” Theo em, câu nói này khẳng định vai trò quyết định của ngôn ngữ trong sáng tạo thơ ca. Ý tưởng hay chỉ là điểm khởi đầu, còn giá trị của bài thơ được tạo nên từ cách nhà thơ lựa chọn, sắp xếp và gọt giũa từng con chữ. Mỗi chữ trong thơ không chỉ mang nghĩa thông thường mà còn chứa đựng âm điệu, hình ảnh, nhịp điệu và sức gợi cảm riêng. Vì vậy, làm thơ không phải là ghi lại cảm xúc một cách tự phát mà là quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, đòi hỏi tài năng, vốn sống và sự kiên trì. Quan niệm của Lê Đạt giúp em hiểu rằng một nhà thơ chân chính luôn biết trân trọng tiếng Việt, không ngừng sáng tạo để mỗi bài thơ đều mang một vẻ đẹp độc đáo và có sức lay động lòng người.



Bình luận