Tê-dê
(Trích Thần thoại Hy Lạp)
Ê-đi Ha-min-tơn (Edith Hamilton)[1] kể
Người anh hùng vĩ đại của người A-ten (Athens)[2] là Tê-dê. Chàng đã có nhiều cuộc phiêu lưu và tham dự trong nhiều sự kiện quan trọng đến nỗi ở A-ten người ta có câu “Không có việc gì mà không có Tê-dê”.
Chàng là con của vua Ê-giê (Aegeus) tại A-ten. Tuy nhiên thuở nhỏ chàng sống nơi quê mẹ, trong một thành phố phía nam Hy Lạp[3], Ê-giê quay trở về Hy Lạp lúc Tê-dê chưa sinh ra, nhưng trước khi đi ông có đặt một thanh kiếm và một đôi giày vào trong một cái hố và lấp lại bằng một tảng đá lớn. Ông làm việc này với sự chứng kiến của vợ và dặn rằng khi nào đứa con trai – nếu nàng sinh ra con trai – của họ lớn lên đủ mạnh để lăn hòn đá này đi và lấy những thứ cất ở bên dưới thì hãy cho nó đến A-ten nhận cha. Đứa bé sinh ra là con trai và khoẻ mạnh hơn các trẻ khác rất nhiều, thế nên khi mẹ cậu cuối cùng dẫn cậu đến nơi hòn đá thì cậu nhấc nó lên một cách dễ dàng. Bà bèn bảo cậu rằng đã đến lúc cậu đi tìm cha và đã có một chiếc thuyền được ông ngoại cậu dành sẵn cho cậu. Nhưng Tê-dê không muốn đi bằng đường thuỷ vì chuyến đi như thế quá an toàn và nhàn nhã. Ý nghĩ của chàng là sớm trở thành một đại anh hùng và an toàn dễ dãi không phải là cách để đạt tới điều đó. Chàng luôn luôn mơ tưởng được như Hê-ra-cờ-lét (Heracles) - vị anh hùng sáng chói nhất trong các anh hùng của người Hy Lạp, và chàng quyết hành động sao cho sáng chói như thế. Điều này hoàn toàn tự nhiên bởi vì hai người là anh em họ

Do đó chàng khăng khăng từ chối chiếc thuyền mà mẹ và ông ngoại chàng đã thuyết phục chàng sử dụng, chàng bảo rằng đi bằng thuyền như thế là sự lẩn trốn gian nguy một cách hèn hạ và chàng quyết tâm đi đến Aten bằng đường bộ. Đây là một chuyển đi dài và rất nguy hiểm vì bọn cướp đầy rẫy trên đường. Tuy nhiên, chàng đã tiêu diệt sạch bọn chúng, chẳng để sót lại một tên nào có thể quấy nhiễu các khách bộ hành tương lai. […]
Ta thể tưởng tượng là cả nước Hy Lạp đã rộn lên bao lời ca ngợi chàng thanh niên đã quét sạch khỏi đất nước này những đầu mối đau khổ cho khách bộ hành. Khi đó đến A-ten chàng đã là một vị anh hùng được tri ân, được nhà vua mời dự đại tiệc và dĩ nhiên ông không biết Tê-dê là con mình. Thực ra ông còn e ngại sự được lòng dân chúng rộng rãi của chàng trai này, cho rằng hắn có thể được dân chúng tôn lên làm vua, nên ông cho mời chàng ta tới với ý định đầu độc chàng. Âm mưu này không phải của ông mà là của Mê-đê (Medea), nhân vật nổi tiếng trong cuộc săn tìm bộ lông cừu bằng vàng, nàng ta đã biết được Tê-dê là ai, nhờ ở pháp thuật của mình, và đã gây được ảnh hưởng lớn với Ê-giê. Nàng không muốn vị thế của mình bị suy giảm vì sự xuất hiện của gã con trai này. Nhưng trong lúc nàng ta đưa chén thuốc độc mời Tê-dê thì Tê-dê vì muốn được cha mình tức khắc nhận ra mình nên rút thanh kiếm ra. Nhà vua nhận ngay ra thanh kiếm ấy và hất chén thuốc độc xuống đất. Mê-đê tẩu thoát như nàng vẫn luôn làm thế […].
Vua Ê-giê sau đó tuyên cáo khắp nước rằng Tê-dê là con trai và là người kế vị mình. Nhân vật thừa kế ngai vàng sau này ngay sau đó đã có cơ hội để tự mình làm cho người dân A- ten mến mộ.
Nhiều năm trước khi chàng đến A-ten, thành phố này đã trải qua một tai hoạ khủng khiếp. Mi-nô-xơ (Minos), vị vua đầy quyền lực của xứ Cơ-rét (Crete) đã bị mất đứa con trai duy nhất của mình là Ăng-đrô-giê (Androgeus) trong khi cậu ta đến thăm vua xứ A-ten. Ê-giê đã làm một điều mà không một người chủ nhà nào dám làm; ông bắt vị khách của mình thực hiện một cuộc viễn chinh hiểm nghèo - đi giết một con bò mộng nguy hiểm. Nhưng rồi con bò mộng đã giết chết chàng trai. Vua Mi-nô-xơ đem quân đánh chiếm A-ten và tuyên bố sẽ làm cỏ đất nước này nếu mỗi chín năm người dân ở đây không cống nạp cho ông một đoàn bảy thiếu nữ và bảy thanh niên. Một số phận khủng khiếp chờ đợi những con người này. Khi đến Cơ-rét họ sẽ bị đem cho quái vật Mi-nô-tơ (Minotaur) ăn thịt.
Mi-nô-tơ là một con quái vật một nửa hình bò mộng, một nửa hình người, con của Pa-đi-pha-ê (Pasiphae – vợ của Mi- nô-xơ) và một con bò mộng trắng tuyệt đẹp. Thần Pô-de-i-đông (Poseidon) đã tặng cho Mi-nô-xơ con bò mộng này để ông ta hiến tế cho thần nhưng Mi-nô-xơ không nỡ giết chết con bò và giữ lại cho mình. Để trừng trị Mi-nô-xơ, thần Pô-de-i-đông đã khiến cho Pa-đi-pha-ê say mê con bò này đến phát điên.
Khi Mi-nô-tơ được sinh ra, Mi-nô-xơ đã không giết nó. Ông truyền cho Đê-đan (Daedalus), một kiến trúc sư và nhà sáng chế đại tài, xây một chỗ để giam nhốt nó sao cho nó không thể thoát ra được. Đê-đan đã xây dựng nên Mê cung nổi tiếng khắp thế giới. Một khi đi vào trong ấy, người ta sẽ đi theo mãi những con đường ngoằn ngoèo của nó mà chẳng bao giờ tìm được lối ra. Những chàng trai cô gái thành A-ten sẽ lần lượt được đưa vào đây cho Mi-nô-tơ, không có đường nào để trốn thoát cả. Dù chạy hướng nào họ cũng sẽ đâm sầm vào con quái vật, còn nếu đứng yên thì nó sẽ từ trong Mê cung lao ra bất cứ lúc nào. Đấy là số phận đang chờ đợi mười bốn nam nữ thanh niên chỉ vài ngày sau khi Tê-dê đến A-ten. Đã sắp đến ngày giao nộp cống vật.
Tê-dê tức thời buớc tới tự nguyện làm một trong các nạn nhân. Tất cả mọi người đều mến yêu lòng tốt của chàng và khâm phục sự cao thượng của chàng – nhưng không ai có ý nghĩ rằng chàng tính chuyện đi giết con quái vật. Tuy nhiên, chàng đã nói với cha mình và hứa rằng nếu thành công thì lúc trở về chàng sẽ cho kéo chiếc buồm màu trắng lên thay cho chiếc buồm màu đen của chiếc thuyền chở cống vật, để cho vua Ê-giê biết tin sớm trước khi thuyền đến đất liền là con mình được bình an

Khi các nạn nhân trẻ tuổi được đưa đến Cơ-rét, họ phải diễu qua trước dân chúng trên đường đi tới Mê cung, A-ri-an (Ariadne), con gái vua Mi-nô-xơ, cũng ở trong số người đứng xem và khi mới nhìn thấy Tê-dê nàng đã đem lòng yêu chàng. Nàng cho mời Đê-đan và bảo ông phải chỉ cho nàng cách để thoát ra khỏi Mê cung, rồi nàng cho tìm gặp Tê-dê để bảo với chàng rằng nàng sẽ giúp chàng thoát ra nếu chàng hứa đưa nàng về A-ten và cưới nàng làm vợ. Như ta có thể đoán được, chàng đã sẵn sàng chấp nhận điều này và nàng đã chỉ cách mà Đê-đan đã nói với nàng, đó là một cuộn chỉ mà chàng sẽ buộc một đầu vào bên trong cánh cửa và sẽ trải dần ra trong lúc bước đi. Chàng đã làm thế và chắc chắn mình sẽ tìm được đường ra khi cần, chàng bèn mạnh dạn đi vào Mê cung để tìm con Mi-nô-tơ. Chàng thấy nó đang ngủ và lao vào ghìm chặt nó xuống đất rồi dùng nắm tay - chàng chẳng có vũ khí nào khác - đấm con quái vật cho đến chết. […]

Khi Tê-dê rời khỏi cuộc chiếu khủng khiếp thì cuộn chỉ vẫn còn ở đấy. Có cuộn chỉ trong tay, con đường đi ra thật là dễ dàng. Những người kia đi theo chàng rồi họ đón A-ri-an cùng lên thuyền vượt biển hướng về A-ten.
Trên đường về họ ghé vào đảo Na-xô-xơ (Naxos) và những gì xảy ra ở đây đã được kể lại khác nhau. Một truyện thì nói rằng Tê-dê đã bỏ rơi A-ri-an. Nàng ta ngủ quên và Tê-dê đã cho thuyền ra đi mà không có nàng, nhưng rồi thần Đi-ô-ni-dô-xơ (Dionysus – thần Rượu) đã tìm thấy và an ủi nàng. Một truyện khác thì nói nhẹ tội hơn cho Tê-dê. Nàng bị say sóng dữ dội, phải đưa vào bờ cho tỉnh lại, trong lúc Tê-dê quay trở về thuyền làm vài việc cần, một luồng gió mạnh đẩy chiếc thuyền ra biển và giữ ở ngoài đó một thời gian lâu. Khi quay trở lại thì A-ri-an đã chết và chàng vô cùng đau khổ.
Cả hai truyện trên đều giống nhau ở chỗ là khi về gần đến A-ten chàng đã quên căng cánh buồm màu trắng. Do quá vui mừng vì sự thành công của chuyến đi khiến họ không còn nhớ gì trong đầu hoặc do chàng quá buồn phiền vì chuyện A-ri-an. Từ nhiều ngày qua, vua Ê-giê đã từ trên đỉnh E-rô-pô-lít (Aeropolis) mỏi mắt trông chừng ra biển và rồi ông nhìn thấy cánh buồm màu đen, ông nghĩ đây là dấu hiệu con mình đã chết, nên ông đã gieo mình từ mỏm đá cao xuống biển. Vùng biển nơi ông đã chết từ đó gọi là biển Ê-giê.

Tê-dê trở thành vua xứ A-ten, vị vua sáng suốt nhất và liêm khiết nhất. Chàng tuyên bố với dân chúng rằng chàng không muốn cai trị họ, chàng muốn lập một chính quyền nhân dân trong đó mọi người đều bình đẳng. Chàng từ bỏ vương quyền và tổ chức một khối cộng đồng, lập một hội trường lớn để các công dân hội họp và biểu quyết. Chức vụ duy nhất mà chàng còn giữ lại cho mình là chức Tổng chỉ huy quân đội. Nhờ đó A-ten trở thành một thành phố hạnh phúc và thịnh vượng nhất trên Trái Đất, mái nhà duy nhất của nền tự do chân chính, một nơi trên Trái Đất mà người dân tự quản lí mình. Vì lí do này mà trong trận đại chiến của Bảy vị anh hùng chống xứ Te-bơ (Thebes) khi những người Te-bơ chiến thắng không chịu chôn xác quân địch đã chết thì những người bại trận đã quay sang nhờ Tê-dê và dân A-ten giúp đỡ, vì tin rằng những con người tự do dưới một nhà lãnh đạo như thế sẽ không bao giờ để cho người chết sa cơ phải chịu xử tệ. Họ đã nghĩ không sai. Tê-dê liền dẫn quân đi đánh xứ Te-bơ, chiến thắng quân Te-bơ và buộc họ phải để cho người chết được chôn cất. Nhưng khi đã là người chiến thắng chàng không bắt người dân Te-bơ phải chịu các thứ tội mà họ đã gây ra. Chàng tỏ ra vô cùng hào hiệp. Chàng không cho quân sĩ của mình vào thành phố để cướp bóc. Chàng đến đây không phải để xâm hại Te-bơ mà là để chôn cất những người đã chết, và sau khi làm xong nhiệm vụ này chàng dẫn quân trở về A-ten.

(Theo Ê-di Ha-min-tơn, Huyền thoại phương Tây, Chương Ngọc dịch, NXB Mỹ thuật, Hà Nội, 2004)
1. Thần thoại Hy Lạp là hệ thống những truyện kể thiêng liêng của người Hy Lạp cổ đại về nguồn gốc vũ trụ, các vị thần, loài người và những anh hùng mang sứ mệnh đặc biệt. Đối với người Hy Lạp xưa, thế giới không tồn tại một cách ngẫu nhiên hay vô nghĩa, mà được hình thành và vận hành dưới sự an bài của thần linh. Núi cao, biển rộng, bầu trời, ánh sáng, mùa màng, chiến tranh, tình yêu hay số phận con người đều gắn với quyền năng của các vị thần. Vì thế, thần thoại không chỉ là chuyện kể giải trí mà còn là cách con người cổ đại nhận thức vũ trụ, bày tỏ niềm kính ngưỡng đối với các đấng siêu nhiên và lí giải ý nghĩa của đời sống.
Trong thế giới thần thoại ấy, các vị thần hiện diện gần gũi với con người nhưng mang quyền năng lớn lao. Zeus là vị thần tối cao cai quản bầu trời và công lí; Poseidon ngự trị biển cả; Hades cai quản cõi âm; Athena tượng trưng cho trí tuệ; còn Apollo là thần ánh sáng, nghệ thuật và tiên tri. Các vị thần ấy sống trên đỉnh Ô-lim-pơ huyền thoại nhưng luôn dõi theo, can dự và dẫn dắt số phận nhân gian. Bên cạnh thần linh là những người anh hùng á thần mang sức mạnh và phẩm chất phi thường như Heracles, Theseus, Achilles hay Odysseus. Họ chiến đấu với quái vật, vượt qua thử thách, bảo vệ cộng đồng và thực hiện những sứ mệnh lớn lao mà thần linh hoặc định mệnh giao phó.
Thần thoại Hy Lạp hấp dẫn bởi trí tưởng tượng phong phú, màu sắc kì ảo và những cuộc phiêu lưu dữ dội, nhưng sâu xa hơn còn thể hiện khát vọng muôn đời của con người về công lí, tự do, cái đẹp, lòng dũng cảm và phẩm giá con người. Bên cạnh các vị thần có quyền năng vô hạn, con người trong thần thoại Hy Lạp không hoàn toàn nhỏ bé hay cam chịu mà luôn nỗ lực vươn lên, đối diện thử thách và khẳng định giá trị của mình. Chính vì vậy, thần thoại Hy Lạp không chỉ là di sản tinh thần của riêng người Hy Lạp cổ đại mà còn trở thành nền tảng quan trọng của văn học, triết học, nghệ thuật và văn minh phương Tây suốt hàng nghìn năm.
2. Theseus là một trong những vị anh hùng vĩ đại và được nhân dân A-ten tôn kính nhất trong Thần thoại Hy Lạp. Chàng là con của vua Aegeus và mang trong mình sứ mệnh bảo vệ cộng đồng, diệt trừ cái ác, đem lại công lí cho con người. Trong quan niệm của người Hy Lạp cổ đại, Tê-dê không chỉ là một chiến binh phi thường mà còn là người được thần linh và số mệnh lựa chọn để thực hiện những công việc lớn lao vì dân chúng.
Chiến công nổi tiếng nhất của chàng là tiêu diệt quái vật Minotaur trong mê cung ở đảo Crete, giải cứu thanh niên A-ten khỏi tục cống nạp tàn khốc. Hình tượng Tê-dê vì thế trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, trí tuệ và tinh thần hi sinh vì cộng đồng. Không chỉ mạnh mẽ trong chiến đấu, chàng còn được ca ngợi là vị vua sáng suốt, yêu tự do và tôn trọng quyền của nhân dân. Qua nhân vật này, thần thoại Hy Lạp thể hiện niềm tin rằng con người chân chính, khi sống theo công lí và chính nghĩa, sẽ nhận được sự nâng đỡ của thần linh và lưu danh muôn đời.
3. Edith Hamilton (1867–1963) là nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá cổ điển nổi tiếng của Hoa Kì, đặc biệt được biết đến qua những công trình giới thiệu văn minh và thần thoại Hy Lạp – La Mã đến đông đảo bạn đọc hiện đại. Bà có vốn hiểu biết sâu rộng về lịch sử, văn học và tư tưởng cổ đại phương Tây, đồng thời sở hữu lối viết trong sáng, giàu sức truyền cảm nên các tác phẩm của bà vừa mang giá trị học thuật vừa hấp dẫn như những câu chuyện văn chương.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là Mythology, được dịch ở Việt Nam với tên Huyền thoại phương Tây. Trong cuốn sách này, Edith Hamilton đã kể lại hệ thống thần thoại Hy Lạp và La Mã bằng giọng văn sinh động, giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp thiêng liêng, hùng tráng và nhân văn của thế giới cổ đại. Qua các câu chuyện về thần linh và anh hùng như Theseus, Heracles hay Odysseus, bà không chỉ tái hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa mà còn cho thấy những suy tư sâu sắc của con người về số phận, công lí và phẩm giá.

[1] Ê-đi Ha-min-tơn (Edith Hamilton, 1867 – 1963) là nhà giáo dục và nhà văn hóa cổ điển nổi tiếng người Mỹ. Bà được toàn thế giới công nhận nhờ các tác phẩm xuất sắc giúp văn học và thần thoại Hy Lạp – La Mã cổ đại trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn với độc giả đại chúng.
[2] A-ten (Athens) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Hy Lạp. Với hơn 3.000 năm lịch sử, đây được coi là "cái nôi của nền văn minh phương Tây", nổi bật với sự ra đời của nền dân chủ cổ đại, triết học và nghệ thuật.
[3] Hy Lạp (tên chính thức: Cộng hòa Hy Lạp) nằm ở Đông Nam Châu Âu, được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh phương Tây. Đất nước này là cội nguồn của triết học, nền dân chủ, văn học phương Tây và là nơi khai sinh ra Thế vận hội Olympic.



Bình luận