Nguyễn Trãi (1380–1442) là nhân vật kiệt xuất của lịch sử văn hóa Việt Nam. Tư tưởng của ông được hình thành từ sự dung hợp hài hòa nhiều nguồn: các học thuyết phương Đông (Nho – Phật – Đạo) kết hợp với truyền thống tư tưởng dân tộc và được tôi luyện qua hoàn cảnh lịch sử cùng cuộc đời nhiều biến động. 

Nho giáo

Nho giáo là nền tảng tư tưởng đầu đời hình thành nên nhân cách và lý tưởng của Nguyễn Trãi. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng Nho học, ngay từ nhỏ Nguyễn Trãi đã được rèn cặp theo khuôn phép Nho giáo chính thống. Ông ngoại của ông là Trần Nguyên Đán – một quý tộc triều Trần – và cha ông là Nguyễn Phi Khanh đều là những người uyên thâm Nho học, đã truyền thụ cho ông tư tưởng đạo thánh hiền và lý tưởng “trung quân ái quốc, dĩ dân vi bản” từ rất sớm. Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh và từng làm quan dưới triều Hồ, thể hiện tài năng và chí hướng của một kẻ sĩ hết lòng vì xã tắc. Nho giáo vì vậy trở thành hệ quy chiếu tư tưởng chủ đạo trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị – văn hóa của ông.

Trọng tâm tư tưởng Nguyễn Trãi chính là chữ “nhân” và “nghĩa” theo quan niệm Nho giáo. Nhân nghĩa được Nguyễn Trãi nâng lên thành một lý tưởng chính trị – đạo đức cốt lõi, chi phối mọi suy nghĩ và hành động cứu nước, trị nước của ông. Ông quan niệm nhân nghĩa không chỉ trong đạo lý luân thường mà gắn liền với dân và nước, trở thành một đường lối thực tiễn “cứu nước và dựng nước” lấy dân làm gốc. Trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi khẳng định: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” - nhân nghĩa là đem lại cuộc sống yên ổn cho nhân dân, và xuất binh đánh dẹp trước hết phải lo trừ bọn bạo tàn. Quan niệm ấy thể hiện sâu sắc tư tưởng “ái dân” của Nho giáo: lấy hạnh phúc của muôn dân làm mục tiêu tối thượng của mọi hành động nhân nghĩa. Đồng thời, nó cho thấy Nguyễn Trãi đã vận dụng sáng tạo tư tưởng “dân vi bản” trong quản lý quốc gia – ông đề cao vai trò quyết định của nhân dân đối với sự thịnh suy của đất nước. Không những thế, nhân nghĩa theo Nguyễn Trãi còn bao hàm tinh thần yêu nước và khát vọng hòa bình, hướng tới xây dựng một xã hội lý tưởng thái bình thịnh trị như thời Nghiêu, Thuấn trong kinh điển Nho giáo. 

Bên cạnh tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của quan niệm Nho giáo về “mệnh Trời”. Ông tin Trời như bậc cha mẹ có lòng hiếu sinh, luôn muốn muôn dân được hạnh phúc, thái bình. Thuận theo mệnh Trời tức là thuận theo lòng dân, hợp ý Trời là hợp ý dân, sẽ chuyển nguy thành an; ngược lại, đi ngược mệnh Trời ắt rước lấy diệt vong. Những lập luận trong các bức thư ngoại giao và trong “Bình Ngô đại cáo” cho thấy Nguyễn Trãi luôn dùng hệ thống thiên mệnh luận của Nho giáo làm cơ sở tư tưởng để chính danh cho cuộc kháng chiến chống Minh, đồng thời kêu gọi kẻ thù “thuận Thiên” mà rút quân để tránh chuốc lấy thất bại thảm khốc.

Về mặt đạo đức – nhân sinh, Nguyễn Trãi đề cao việc tu thân theo các chuẩn mực Nho giáo. Ông luôn giữ lối sống trung dung, coi trọng thực hành tam cương ngũ thường, đặc biệt nhấn mạnh hai đạo trung và hiếu. Trong cuộc đời, Nguyễn Trãi đã nêu tấm gương sáng về lòng trung với sự nghiệp cứu nước của Lê Lợi, đồng thời vẫn làm tròn đạo hiếu với cha ông. Nguyễn Trãi đã chắt lọc tinh hoa Nho giáo để phụng sự mục tiêu cứu nước, an dân của mình, đồng thời làm giàu cho Nho giáo bằng chính trải nghiệm và trí tuệ của ông. Tư tưởng Nho giáo là sợi chỉ xuyên suốt, góp phần định hình nên nhân cách “ứng xử quân thần, phụ tử” mẫu mực và tấm lòng “ưu thời mẫn thế” ở vị khai quốc công thần đầy nhân nghĩa này.

Phật giáo

Ảnh hưởng của Phật giáo trước hết thể hiện ở tinh thần từ bi và hiếu sinh trong tư tưởng Nguyễn Trãi. Triết lý nhà Phật đề cao lòng thương người và hạn chế sát sinh đã thấm vào quan điểm chính trị của ông, hòa quyện với lý tưởng nhân nghĩa Nho giáo. Thật vậy, đường lối “nhân nghĩa hiếu sinh” của Nguyễn Trãi trong kháng chiến chống Minh là một minh chứng sống động cho ảnh hưởng Phật giáo. Khi nghĩa quân Lam Sơn thắng lớn, nhiều tướng lĩnh đề nghị tận diệt quân Minh để trả thù, nhưng Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi lại kiên quyết bảo vệ nguyên tắc nhân đạo, chấp nhận hòa giải để “nhân dân hai nước nghỉ sức”. Sử sách và chính “Bình Ngô đại cáo” đã ghi nhận quyết định đầy lòng từ bi ấy. 

Mặt khác, Phật giáo còn ảnh hưởng đến Nguyễn Trãi ở quan niệm về danh lợi và hạnh phúc. Thấm nhuần triết lý vô thường và “sắc không” của nhà Phật, ông nhìn nhận công danh phú quý chỉ là thứ phù du, tạm bợ. Các giá trị đạo đức, tinh thần mới là bền vững và đáng quý ở đời. Trong “Quốc âm thi tập”, Nguyễn Trãi từng bày tỏ trọng đức hơn trọng tài vật, danh lợi chỉ là “bóng mây” thoảng qua, còn điều thiện mới lưu lại muôn đời. Tư tưởng ấy khá gần với giáo lý nhân quả nghiệp báo của Phật giáo, đề cao việc làm điều thiện, tích đức để hướng tới an lạc lâu dài. Bản thân Nguyễn Trãi sống thanh đạm, giản dị, không màng xa hoa phú quý. Nhiều bài thơ của ông toát lên vẻ ung dung, tĩnh tại của một tâm hồn đã thấm đạo lý nhà Phật, biết buông xả những phiền não bon chen nơi trần tục.

Đôi khi, Nguyễn Trãi bày tỏ lòng hướng về cửa Phật, xem Thiền như điểm tựa tinh thần giữa thời cuộc nhiễu nhương. Dù không xuất gia, nhưng tinh thần Thiền đã thấm vào thơ văn ông, góp phần tạo nên chiều sâu triết lý về kiếp người vô thường và thái độ sống an nhiên trước được – mất.

Đạo giáo

Ảnh hưởng của Đạo giáo thể hiện rõ qua lối sống thanh cao ẩn dật, tình yêu thiên nhiên và thái độ xem nhẹ công danh ở Ức Trai tiên sinh. Ông biết rút lui về ở ẩn khi thời cuộc bất hòa, tìm niềm vui nơi non xanh nước biếc. Ông đón nhận triết lý “vô vi nhi vô bất vi” (làm mà như không làm) của Lão Tử như một cách giữ gìn sự tự tại trước biến động cuộc đời.

Lòng yêu thiên nhiên và cuộc sống nhàn tĩnh của Nguyễn Trãi là minh chứng cho ảnh hưởng của Đạo giáo. Khác với Nho giáo chú trọng hoạt động xã hội, Đạo giáo đề cao sự hòa mình vào tự nhiên, sống thuận theo tự nhiên. Nguyễn Trãi, sau khi hoàn thành đại nghiệp đánh đuổi giặc Minh, từng nhiều lần xin về trí sĩ, lui về núi Côn Sơn để tận hưởng thú “lâm tuyền” an nhàn. Trong những năm tháng ở ẩn, ông đã sáng tác nhiều vần thơ tuyệt đẹp ca ngợi cảnh núi rừng Côn Sơn với tấm lòng khoáng đạt, ung dung tự tại. Bài “Côn Sơn ca” nổi tiếng của ông chính là một áng thơ đượm tinh thần Lão – Trang, thể hiện sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên. 

“Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.”

Khung cảnh Côn Sơn hiện ra thật thanh u, tĩnh lặng với tiếng suối róc rách êm đềm. Ở đó, Nguyễn Trãi lặng lẽ lắng nghe tiếng suối như tiếng đàn cầm huyền diệu của tự nhiên, ngồi trên tảng đá phủ rêu êm ái chẳng khác gì đệm cỏ êm đềm. Hình ảnh “tiếng đàn cầm” và “chiếu êm” cho thấy ông đã tìm thấy nhạc điệu và sự thoải mái trong thiên nhiên. Đây chính là tư tưởng hợp nhất với thiên nhiên của Đạo giáo: thiên nhiên và con người chan hòa, không còn ranh giới. Nguyễn Trãi xem núi rừng, suối đá Côn Sơn như nhà, như bạn. Tâm hồn ông trở nên thong dong tự tại giữa chốn núi non: “Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm / ... Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”. “Nhàn” trong tư tưởng Nguyễn Trãi không chỉ là rảnh rang, mà còn là một lý tưởng nhân sinh: ung dung hòa điệu với tạo hóa, không vướng bận lợi danh. Triết lý “nhàn” này là điểm gặp gỡ giữa Nho – Phật – Đạo, nhưng đậm màu sắc Đạo giáo nhất, bởi nó gắn liền với quan niệm ẩn dật lánh đục tìm trong của Lão Tử.

Nguyễn Trãi đã trải qua đủ vinh hoa lẫn thăng trầm nơi quan trường, để rồi cuối đời nhận ra rằng “vạn chung, cửu đỉnh hà tất” – địa vị cao sang để làm gì, “cơm rau nước lã tùy phận đủ rồi”. Trong “Côn Sơn ca”, ông tự vấn mình: “Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?”. Lời thơ thấm đượm triết lý Lão giáo: trở về với tự nhiên mới là bến đỗ bình yên, còn hơn nửa đời lao tâm ở chốn trần tục bụi bặm. Ông cũng dẫn ra tấm gương các nhân vật xưa theo Lão giáo như Bá Di, Thúc Tề (nhịn đói trên núi để giữ khí tiết) để so sánh với hạng người tham lam như Đổng Trác, Nguyên Tái. Qua đó ngầm khẳng định sự lựa chọn của riêng mình: chọn lối sống ẩn dật thanh bần như Bá Di Thúc Tề, còn hơn làm giàu phú quý mà vô đạo. Rõ ràng, Nguyễn Trãi đã tiếp thu tinh thần “đạm bạc minh trí” (sống thanh đạm cho trí tuệ sáng suốt) của Lão Tử, coi thường những phù hoa, quyết giữ tâm hồn thanh cao. Ông sống đúng với lời dạy “Tri túc, tiện túc” (biết đủ là đủ) – tự bằng lòng với thú vui giản dị: uống nước suối, ăn rau rừng, ngâm thơ ngắm trăng. Nếp sống đó đậm màu tiên phong đạo cốt – phong thái của người xuất thế trong Đạo giáo.

Truyền thống dân tộc

Bên cạnh đó, tư tưởng Nguyễn Trãi còn được nuôi dưỡng và chi phối mạnh mẽ bởi truyền thống tư tưởng của dân tộc Đại Việt. Điều này thể hiện trước hết ở lòng yêu nước nồng nàn và ý thức độc lập dân tộc sâu sắc của ông. Sống vào thời đại đất nước bị giặc ngoại xâm đô hộ, Nguyễn Trãi đã kế thừa truyền thống yêu nước chống ngoại xâm vẻ vang từ thời Lý – Trần. Ông đặc biệt chịu ảnh hưởng tinh thần “dân tộc và thân dân” của các bậc tiền nhân. Ông ngoại Nguyễn Trãi – Trần Nguyên Đán – từng nuối tiếc vì chưa giúp ích được cho dân, còn cha ông – Nguyễn Phi Khanh – thì ôm hoài bão “thân này ví được như ống bễ, thổi ấm lòng người khắp chín châu”. Những tư tưởng đó chắc chắn đã hun đúc cho Nguyễn Trãi lòng thương dân sâu sắc và tinh thần trách nhiệm với nhân dân ngay từ thuở thiếu thời.

Khi đất nước rơi vào ách đô hộ nhà Minh, truyền thống yêu nước trỗi dậy mãnh liệt trong Nguyễn Trãi. Trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi đã tự hào tuyên bố những chân lý độc lập tự chủ của dân tộc trên nền tảng hàng ngàn năm lịch sử:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.”

Những lời tuyên ngôn đanh thép này kết tinh hàng loạt giá trị truyền thống dân tộc: ý thức về văn hiến lâu đời, chủ quyền lãnh thổ rạch ròi, phong tục tập quán riêng biệt, và lịch sử dựng nước giữ nước hào hùng qua các triều đại. Nguyễn Trãi khẳng định Đại Việt có nền văn hiến chẳng thua kém phương Bắc, có truyền thống dựng nước xưng đế song song với Trung Hoa, và đặc biệt là hào kiệt thời nào cũng có. Đây là sự tiếp nối trực tiếp tinh thần tự tôn dân tộc từ thời Lý. Tư tưởng dân tộc độc lập ấy ăn sâu trong Nguyễn Trãi, khiến ông trở thành một nhà tư tưởng yêu nước kiệt xuất, luôn đề cao chủ quyền và tự hào văn hóa dân tộc.

Cùng với lòng yêu nước là tư tưởng “thân dân” vốn cũng là một truyền thống chính trị tốt đẹp của dân tộc từ thời Lý – Trần. Nguyễn Trãi đã phát huy rực rỡ truyền thống này. Ông quan niệm mối quan hệ giữa dân với nước như nước với thuyền: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (lật thuyền mới biết dân như nước). Câu nói này, vốn bắt nguồn từ điển cố dân gian và tư tưởng Tuân Tử, được Nguyễn Trãi vận dụng như một chân lý: nước có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền. Vì vậy mọi vương triều muốn bền vững phải lấy dân làm gốc, chăm lo đời sống nhân dân. Tư tưởng thân dân của ông rất thiết thực qua những chính sách cụ thể. Sau thắng lợi chống Minh, khi triều Lê còn say men chiến thắng, chính Nguyễn Trãi đã nhiều lần dâng sớ nhắc nhở vua chú trọng dưỡng sức dân. Ông viết: “Lòng bậc thánh nhân muốn để dân yên nghỉ, rốt cuộc phải xây dựng thái bình bằng văn trị”. Ông chủ trương giảm sưu thuế, phục hồi sản xuất, nghiêm trị tham quan ô lại để dân được an cư lạc nghiệp. Tất cả thể hiện một tư tưởng vì dân, trọng dân nhất quán, tiếp nối truyền thống “khoan thư sức dân” trước đó. 

Truyền thống dân tộc còn ảnh hưởng Nguyễn Trãi ở góc độ văn hóa và ngôn ngữ dân tộc. Ông là một trong những người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm – thể hiện ý thức đề cao tiếng nói dân tộc. Nguyễn Trãi đã sáng tác “Quốc âm thi tập” bằng chữ Nôm, vừa mang tinh thần Nho gia, lại thấm nhuần tinh thần dân tộc khi ông sử dụng nhiều hình ảnh gần gũi với đời sống nhân dân lao động. Chẳng hạn, trong thơ ông xuất hiện cảnh “lao xao chợ cá”, cảnh sinh hoạt thôn quê rất chân thực. Điều đó cho thấy Nguyễn Trãi kế thừa truyền thống dân gian, xem những gì mộc mạc bình dị của quê hương cũng là chất liệu cho văn chương. Ông cũng tôn vinh những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt như lòng hiếu nghĩa, thủy chung.

Cuối cùng, một khía cạnh quan trọng của truyền thống dân tộc ảnh hưởng đến Nguyễn Trãi là sự hòa đồng Tam giáo trong đời sống tinh thần Đại Việt. Nguyễn Trãi hấp thu cả ba luồng tư tưởng để làm phong phú thêm thế giới quan của mình. Có thể nói, chính truyền thống bao dung, dung hợp văn hóa của dân tộc đã giúp Nguyễn Trãi trở thành một nhà tư tưởng đa dạng, không giáo điều.

Như vậy, truyền thống tư tưởng Việt Nam – từ lòng yêu nước thương dân, tinh thần nhân nghĩa, đến văn hóa ngôn ngữ – đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên Nguyễn Trãi, làm cho tư tưởng của ông mang đậm tính dân tộc và nhân văn. Nhờ đó, sự nghiệp của Nguyễn Trãi là sự tiếp nối vẻ vang truyền thống ngàn đời của cha ông trong công cuộc giữ nước an dân.

Hoàn cảnh lịch sử và cá nhân

Tư tưởng Nguyễn Trãi không chỉ hình thành từ các luồng học thuyết và truyền thống sẵn có, mà còn được định hình trực tiếp bởi hoàn cảnh lịch sử và cuộc đời cá nhân đầy biến động của ông. Nguyễn Trãi sinh ra và trưởng thành trong buổi giao thời lịch sử: nhà Trần suy vi, nhà Hồ ngắn ngủi rồi giặc Minh xâm lược tàn bạo. Chính những biến cố thời đại ấy đã hun đúc nên tư tưởng yêu nước, thương dân và nhãn quan chính trị sắc bén nơi ông.

Trước hết, kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống Minh có ảnh hưởng quyết định đối với tư tưởng Nguyễn Trãi. Chứng kiến tận mắt cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than dưới ách đô hộ, Nguyễn Trãi càng thấm thía giá trị của độc lập tự do và trọng trách cứu nước. Hoàn cảnh chiến tranh cũng giúp Nguyễn Trãi thử thách và kiểm nghiệm các giá trị tư tưởng của mình. Chẳng hạn, trước kia chữ “nhân” có thể chỉ đạo đức, nhưng trong kháng chiến nó trở thành nguyên tắc xử thế: nhân nghĩa đồng nghĩa với không giết hại bừa bãi. Kết cục thắng lợi “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo” đã chứng minh niềm tin của Nguyễn Trãi: sức mạnh quân sự phải đi đôi với sức mạnh đạo đức. Chiến tranh cũng cho ông thấy rõ vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Những hình ảnh “manh lệ chi đồ tứ tập” (đám mục đồng, dân quê bốn phương tụ họp dưới cờ nghĩa) được ông khắc họa trong “Bình Ngô đại cáo” cho thấy ông nhận thức dân là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi. Đây là nhận thức mà chỉ hoàn cảnh thực tế mới đem lại sâu sắc đến vậy.

Sau 1428, hoàn cảnh xây dựng quốc gia thời bình lại đặt ra những vấn đề mới định hướng tư tưởng Nguyễn Trãi. Là công thần khai quốc nhà Lê, Nguyễn Trãi ý thức rõ thời bình phải chăm lo gìn giữ thành quả, củng cố nền thái bình lâu dài. Ông viết “Bình Ngô đại cáo” như bản tuyên ngôn khẳng định nền độc lập và triết lý trị nước của triều Lê: đề cao nhân nghĩa, khoan hòa với kẻ thua trận, bắt tay xây dựng lại đất nước đổ nát. Sau đó, trong triều, ông liên tục có những đề xuất chính trị trọng dân. Hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh khiến ông chú trọng “vỗ về muôn dân” hơn bao giờ hết. Ông viết trong thư gửi Lê Thái Tông: “Quyền mưu vốn để trừ gian, nhân nghĩa mới giữ nước yên”, ý muốn nhấn mạnh thời bình phải lấy nhân nghĩa làm kế lâu dài, không thể dùng mãi biện pháp quyền mưu bạo lực. Suy nghĩ này chứng tỏ Nguyễn Trãi rất nhạy bén với sự chuyển đổi hoàn cảnh: từ chiến tranh sang hòa bình, ông kịp thời điều chỉnh trọng tâm tư tưởng từ “trừ bạo” sang “trị bình” bằng đức.

Bản thân thăng trầm cuộc đời cá nhân của Nguyễn Trãi cũng ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của ông. Nguyễn Trãi từng nếm trải những mất mát đau thương từ nhỏ. Những biến cố gia đình sớm rèn cho ông bản lĩnh kiên cường và tấm lòng trung hiếu vẹn toàn. Trong sự nghiệp, ông cũng trải qua những khúc quanh nghiệt ngã: từ đỉnh cao vinh quang khi giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc đến cảnh bị nghi kỵ chèn ép nơi triều đình, cuối cùng là thảm án Lệ Chi Viên cướp đi sinh mệnh cả gia tộc. Những trải nghiệm cay đắng ấy đã thấm vào thơ văn Nguyễn Trãi, tạo nên giọng điệu chiêm nghiệm, ưu thời mẫn thế rất sâu sắc. Chẳng hạn, sau khi bị thất sủng về Côn Sơn, ông đã tự vấn cuộc đời trong “Côn Sơn ca”: “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” – đầy tiếc nuối và thấu hiểu lẽ vô thường. Ông nhận ra công danh như giấc mộng, kiếp người ngắn ngủi “trăm năm rồi cũng như cỏ cây”. Những suy tư đó khiến tư tưởng Nguyễn Trãi càng thêm phần triết lý, sâu lắng. Nếu không trải qua bao thịnh suy, có lẽ ông đã không thể viết nên những câu thơ mang tầm khái quát triết học về đời người đến vậy.

Tóm lại, hoàn cảnh lịch sử – xã hội và cuộc đời riêng của Nguyễn Trãi là môi trường phôi thai và rèn luyện cho tư tưởng của ông. Từ những biến động lớn lao của thời đại, ông tìm thấy và khẳng định các chân lý về dân về nước. Từ những thăng trầm cuộc sống cá nhân, ông ngộ ra các lẽ vô thường, giữ vững khí tiết, để lại những suy tư triết lý thâm trầm. Có thể nói, nếu không có một thời đại đầy biến cố và một cuộc đời lắm éo le, có lẽ đã không có một Nguyễn Trãi tư tưởng phong phú đến như vậy.