Hàng chục ngàn thanh niên tại Bắc Kinh, Thượng Hải và Thâm Quyến đang đồng loạt mặc áo khoác long bào hoàng đế đến công sở và tự xưng là Trẫm để chống lại chế độ tăng ca 996. Khi đối chiếu hiện tượng này với quy luật Phục Yêu trong sách Hán Thư và lời sấm truyền 600 năm trước của Lưu Bá Ôn trong Thiêu Bánh Ca, một bức tranh lịch sử và nhân sinh đầy chấn động đã lộ diện.
🐉 Giải mã hiện tượng Phục Yêu trong Hán Thư: Vì sao dân thường bỗng nhiên mặc trang phục đế vương lại là điềm báo trật tự xã hội đảo lộn? 📜 Sự ứng nghiệm kỳ lạ của câu sấm "Quý tiện đồng phục, nhân nhân tự xưng vương" trong Thiêu Bánh Ca của Lưu Bá Ôn ngay giữa lòng công sở hiện đại. 🎭 Từ trào lưu mặc đồ giả trang cười cợt tại kinh thành Biện Kinh cuối thời Bắc Tống đến những nghi thức tự giễu nhại chua xót của giới trẻ ngày nay. 🟡 Ý nghĩa sắc vàng phản kháng trong lịch sử Trung Hoa và lời cảnh báo từ sách Lễ Ký khi sợi dây cung áp lực xã hội bị kéo căng đến cực hạn. ⏳ Lật hồ sơ Khởi Cư Chú và Hoàng Đế Nội Kinh: Nghịch lý làm vua thời xưa và nhân viên thời nay đều bị vắt kiệt nguyên khí đến mức đột tử. 🌿 Bí quyết Thập nhị thiểu của Dược Vương Tôn Tư Mạo sống thọ 101 tuổi giúp con người hiện đại giữ vững chân khí giữa thời cuộc biến động. ---
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Thưa quý vị, một cảnh tượng kỳ lạ đang xuất hiện tại các ga tàu điện
ngầm chật kín người và những tòa cao ốc sáng đèn thâu đêm ở Bắc Kinh,
Thượng Hải, Hàng Châu, Thâm Quyến.
Giữa dòng người áo xám đen vội vã, nhiều thanh niên sinh sau năm 1995
khoác trước áo vàng rực in hình rồng, giống hệt long bào của Hoàng đế.
Họ quẹt thẻ chấm công, ngồi xuống bàn làm việc
như thế đó là chuyện bình thường nhất trên đời.
Theo nhiều bài viết và video lan truyền trên mạng xã hội Trung Quốc,
họ đùa nhau sưng chẫm, gọi công việc là phê tấu chương,
dán biển Thái Thượng Hoàng lên bàn. Có người đặt cả chiếc ấn ngọc nhựa
cạnh bàn phím để tự đóng dấu phê chuẩn cho mình được tan ca đúng giờ.
Vì sao lại là chậm? Vì sao ở nhiều đô thị lớn,
văn hóa làm thêm giờ 9-9-6, nghĩa là làm từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối,
6 ngày mỗi tuần, trong khi giá nhà thì quá xa tầm tay,
và tuổi 35 đã lấp ló bóng dáng xa thải, họ không xuống đường,
không hô khẩu hiệu, họ chọn cách lặng lẽ, và kỳ quặc hơn nhiều,
mặc áo long bào của vua đi làm, nhưng 2.000 năm trước, các sử gia
Trung Hoa từng chứng kiến cảnh người thường mặc áo trái thân phận.
chiếc áo của điểm bất thường và họ cẩn thận chép lại,
đặt tên là Phục Yêu.
Vậy chiếc áo Long Bào hôm nay,
rốt cuộc là một trò đùa công sở hay là có điểm báo gì của thời đại?
Chào mừng quý vị quay trở lại với kênh Dòng chảy Thời sự.
Trong chương trình hôm nay,
Thủy Miên xin mời quý vị cùng giải mã hiện tượng kỳ lạ này.
Thưa quý vị, chiếc áo chưa bao giờ chỉ là dùng để che thân.
Người xưa từ Đông sang Tây chỉ cần nhìn màu áo kiểu mũ hoa văn
người ta biết ngay người kia đứng ở thứ bậc nào trong xã hội,
được phép làm gì và không được phép làm gì.
Vì thế mặc gì không phải là chuyện của sở thích mà là chuyện của lễ
chế, tức là hệ thống phép tắc giữ cho trật tự xã hội không bị đảo lộn.
Chính vì hiểu như vậy, các sử gia xưa đã dành riêng
một chuyên mục để chép những chuyện ăn mặc bất thường.
Trong bộ Hán Thư có phần ghi lại những
hiện tượng được cho là báo hiệu biến động
Xuất hiện một khái niệm Phục Yêu,
chữ phục là quần áo, chữ yêu là điều quái dị
Ghép lại đó là lối ăn mặc kỳ dị,
trái với thân phận mà người xưa tin là điểm báo cho chuyện chẳng lành
Điển tích sớm nhất thường được nhắc đến
nằm trong sách tả chuyện thời Xuân Thu
Nước Trịnh có một đại phu tên là Tử Tăng,
rất thích đội mũ cắm lông chim thúy
Vốn là kiểu mũ không hợp với thân phận của ông
Người đời sau bàn về chuyện ấy dẫn một câu nổi tiếng
Phục chi bất trung, thân chi tai giã
Dịch nghĩa là ăn mặc không hợp với thân phận của mình
Ấy là mầm tai họa cho chính bản thân
Về sau Tử Tăng quả nhiên gặp họa
Chiếc mũ ấy có phải là nguyên nhân hay
không thì không ai chứng minh được
Nhưng người xưa đã chọn tích chuyện đó như một lời cảnh báo
Trong Hậu Hán Thư cũng ghi lại những chuyện dưới thời Hán Linh Đế,
vị vua nổi tiếng nhất với việc bán chức
quan công khai ngay tại kinh đô Lạc Dương.
Nhà vua ưa mặc trang phục kiểu người Hồ, bày biện đồ đạc kiểu Hồ,
khiến giới quý tộc kinh thành đua nhau bắt chước.
Có đoạn còn chép chuyện ông cho chó đội mũ quan,
đeo dây thao như một viên quan thật, rồi đem ra làm trò vui.
Các sử gia xếp tất cả vào loại phục yêu,
dấu hiệu của một triều đình đã coi thường lễ chế.
Và rồi chỉ ít lâu sau, Đông Hán rơi vào đại loạn
Người xưa không cho rằng chiếc áo gây ra tai họa
Họ coi chiếc áo là tấm gương phản chiếu
Khi một xã hội bắt đầu nhìn việc mặc đúng thân phận như chuyện nhỏ
Ấy là lúc niềm tin và trật tự đã lung lay từ bên trong
Thời Hán, phục yêu thường do chính tầng lớp bề trên bày ra
Vua thích Hồ phục, vua cho chó đội mũ quan
Còn lần này, hiện tượng đi theo chiều ngược lại
Những người đứng ở bậc thấp nhất trong cơ cấu công ty,
những nhân viên mới ra trường lại tự khoác lên
mình tấm áo của người đứng trên cùng thiên hạ.
Khi người ở dưới mặc áo của người ở trên,
họ không còn chỉ đang bắt trước, họ đang nói lên một điều rất rõ.
Nếu thân phận chỉ là một chiếc áo,
thì chúng tôi cũng có quyền chọn một chiếc áo khác.
Dĩ nhiên, ngày nay không còn ai tin chiếc áo báo điểm trời.
Khái niệm phục yêu chỉ còn là cái lăng kính của người xưa.
Điều đáng suy ngẫm không phải là áo vàng báo điểm gì,
mà là vì sao vào đúng lúc này,
hàng loạt người trẻ lại cùng một lúc chọn biểu tượng của
quyền lực tối cao để nói về nỗi bất lực của chính mình.
Câu trả lời có lẽ nằm ở chỗ họ cảm thấy mình chẳng nắm quyền
gì trong những chuyện quan trọng nhất của đời mình, giờ giấc,
thu nhập, nhà ở, tương lai, khi quyền thật không có trong tay,
con người ngầm thể hiện nó bằng biểu tượng.
Chiếc áo vàng vì thế chỉ là câu nói đùa nhưng
ẩn bên dưới là một lời đòi hỏi nghiêm túc.
Tôi cũng là một con người và tôi có quyền làm chủ cuộc sống của mình.
Điều kỳ lạ nhất trong trào lưu công sở này không
chỉ nằm ở chiếc áo mà ở cách xưng hô đi kèm.
Tại các khu công nghệ cao ở Thâm Quyến và Hàng Châu, nhiều bạn
trẻ nói chuyện với nhau trong giờ nghỉ trưa đều tự xưng là trẫm.
Công việc hàng ngày của họ được gọi đùa là phê tấu chương.
Trên các nhóm chat công việc, mỗi khi nhận yêu cầu làm thêm vào cuối
tuần, có người dùng phần mềm ghép ảnh tạo ra một tờ, thánh chỉ.
Trên đó, đại ý, trẫm thấy long thể bất an,
truyền lệnh cho bá quan văn võ giải tán về nhà nghỉ ngơi.
Nghe đến đây, nhiều người chợt nhớ đến một câu sấm.
Dân gian vẫn lưu truyền câu này gắn với tác phẩm Thiêu Bính Ca,
tương truyền là của Lưu Bá Ôn, vị quân sư lừng danh thời đầu nhà Minh.
Câu sấm ấy như sau
Thượng hạ bất phân, quý tiện đồng phục, nhân nhân tự xưng vương
Dịch nghĩa là trên dưới không còn phân biệt được nữa
Sang hèn mặc chung một thứ áo và người người đều tự xưng là vua
Suốt nhiều thế kỷ, câu sấm ấy vẫn nằm yên như một hình ảnh phi lý
Làm sao người quyền quý và kẻ thấp hèn lại mặc chung một thứ áo
Làm sao người người đều tự xưng là vua
Vậy mà bước vào văn phòng ở Bắc Kinh và Thượng Hải hôm nay,
hình ảnh ấy lại hiện ra gần như từng chữ.
Người làm thuê lương thấp khoác áo thiên tử,
người người gọi nhau là trẫm.
Vậy tại sao người ta lại chọn cách phản kháng bằng trò tự xưng làm vua?
Nhà xã hội học Zygmunt Bauman trong cuốn Hiện đại lỏng
xuất bản năm 2000 mô tả một xã hội mà các thiết chế
không còn mang lại cảm giác vững chắc cho cá nhân.
Mọi thứ trở nên lỏng lẻo, bất định và mỗi người phải tự lo thân mình.
Đặt ý tưởng ấy vào câu chuyện hôm nay, ta thấy một logic rất rõ.
Khi thanh niên nhận ra làm việc đến 996 vẫn chưa chắc mua nổi nhà
và mới 35 tuổi đã sợ bị đào thải, họ thôi trông cậy vào hệ thống.
Họ tự dựng lên một vương quốc của riêng mình.
Vương quốc ấy rất nhỏ, chính là cơ thể và quỹ thời gian của họ.
Xưng trẫm là cách tuyên bố rằng ít nhất phần giang sơn này họ phải
giữ cho bằng được. Lập luận ấy không hề xa lạ với truyền thống Nho gia.
Trong sách Mạnh Tử có viết, dân vi quý, xã tắc thứ chi,
quân vi khinh, dịch nghĩa là dân là quý nhất,
rồi đến đất nước, còn ngôi vua là nhẹ nhất.
Ở thời của Mạnh Tử, đó là một câu cực kỳ táo bạo,
vì nó đặt con người lên cao hơn cả ngai vàng.
Đặt câu ấy cạnh trào lưu hôm nay, ta thấy một sự gặp gỡ khá thú vị,
khi một xã hội quên mất rằng giá trị của người
lao động bình thường mới là điều quan trọng nhất.
Thì chính những người bình thường ấy sẽ tìm một cách nhắc lại
Bằng một chiếc áo in hình rồng
Thông điệp của họ rất giản dị
Sinh mạng của mỗi con người cũng quý ngang bậc đế vương
Công bằng mà nói sẽ có người phản biện rằng đừng suy diễn quá nhiều
Đây chỉ là trò đùa vô hại của tuổi trẻ
Và mặc áo long bào cũng chẳng thay đổi được điều gì
Điều đó có phần đúng
Một chiếc áo không sửa được luật lao động,
cũng không đẩy lùi được giờ tan ca. Nhưng ngay cả khi chỉ là trò đùa,
việc nó lan nhanh đến vậy cho thấy nó đã chạm
đúng vào một nỗi niềm chung của rất nhiều người.
Khi nhìn vào những đoạn video ngắn quay cảnh nhân viên văn phòng mặc
long bào nhảy múa bên trước máy in, chúng ta dễ bật cười. Nhưng người
xưa từng dạy rằng hãy lắng nghe thật kỹ tiếng cười của một xã hội.
Khi người dân thôi than vãn,
chuyển sang cười cợt chính cảnh ngộ của mình, đó có thể là
lúc nỗi chán trường đã đi vào rất sâu trong tâm thức xã hội,
những năm niên hiệu Tuyên Hòa, khoảng từ năm 1119 đến 1125,
dưới thời vua Tống Huy Tông, ngay trước khi nhà Bắc Tống sụp đổ.
Các sử liệu như bộ Tống Sử và cuốn bút ký Đông Kinh
Mộng Hoa Lục của Mạnh Nguyên Lão vẽ nên một Biển Kinh,
tức thành phố khai phong ngày nay, hết sức rực rỡ.
Phố xá tấp nập suốt ngày đêm, hội hè nối tiếp,
quán xá và dạp diễn đông vui như không bao giờ tắt đèn,
nhưng bên dưới vẻ phồn hoa ấy là một gánh nặng khủng khiếp.
Triều đình Huy Tông với sự điều hành của quyền thần Thái Kinh thực
hiện chiến dịch gọi là Hoa Thạch Cương, thu gom những tảng đá cảnh
và cây quý ở vùng Giang Nam để trở về Kinh Đô xây vườn thượng uyển.
Người dân bị trưng thu, nhiều nơi phải dỡ nhà,
phá cầu để các đoàn thuyền chở đá đi qua.
Thuế má và phu dịch chồng chất,
nhiều gia đình làm cuồn cuột quanh năm vẫn không đủ nộp.
Năm 1120, Phương Lạp nổi dậy ở vùng Chiết Giang và theo nhiều sử liệu,
ngọn lửa bất mãn ấy lan rộng khắp vùng Đông Nam.
Trong khi đó, tại các khu chợ và khu giải trí của Biển Kinh,
nghệ thuật tạp kịch lại cực kỳ thịnh hành.
Đó là những màn diễn ngắn, pha trò dí dỏm và trong đó
không thể thiếu những tiếng cười châm chọc quan lại.
Hai sự thật ấy cùng tồn tại trong một kinh thành
Một bên là gánh nặng sưu dịch đè nặng lên vai người dân
Một bên là tiếng cười mỉa mai vang lên từ nơi thị tứ
Rồi biến cố ập đến nhanh hơn bất kỳ ai tưởng
Năm 1126, quân Kim tiến xuống bao vây Biên Kinh
Sang năm 1127, kinh thành thất thủ
Cả vua Huy Tông lẫn vua Khâm Tông bị bắt đi
Nhà Bắc Tống chấm dứt
Nhiều sử gia cho rằng một triều đình đã bòn rút sức dân,
quan lại tham nhũng, lòng người đã rời rã từ bên
trong thì khó có thể đứng vững trước ngoại xâm.
Lịch sử dĩ nhiên có nhiều nguyên nhân chồng lên nhau,
nhưng đó là một nhận định có căn cứ.
Vậy vì sao tiếng cười lại mang sức nặng đến thế?
Nhà nghiên cứu người Nga Mikhail Bakhtin sống dưới chế độ Liên Xô,
nơi người dân không được phép phản kháng công khai.
Trong công trình về nhà văn Rabelais xuất bản năm 1665,
đã phân tích sức mạnh của tiếng cười trong các lễ hội hóa trang thời
Trung Cổ châu Âu là cho phép người dân đảo lộn trật tự quyền lực
trong chốc lát, kẻ thấp hèn được làm vua, còn vua thì bị diễu nhại.
Đó là cách dân thường giành lại một chút quyền
làm chủ giữa một đời sống đầy ràng buộc.
Mục đích thực sự của Mikhail Bakhtin là mượn chuyện xưa để
phê phán chế độ độc tài toàn trị Liên Xô dưới thời Stalin.
Giới trẻ Trung Quốc hôm nay sống dưới chế độ kiểm duyệt của Đảng
Cộng sản Trung Quốc cũng không thể xuống đường biểu tình nên
phải dùng chính màn hóa trang mặc long bào để diễu nhại hệ thống.
Mỗi trò đùa là một cách nói lên điều mà họ không thể nói thẳng thành
lời. Khi con người không còn than khóc mà chuyển sang cười cợt
chính cảnh ngộ của mình, nỗi chán chường ấy đã chạm đáy rất sâu.
Một thế hệ đang ở độ tuổi sung sức nhất mà
phải dùng tiếng cười thay cho tiếng nói.
Liệu những người điều hành xã hội có lắng nghe không?
Nhưng trên chiếc áo ấy có một chi tiết nhỏ, tưởng không đáng chú ý,
lại là chi tiết mang nhiều bí mật nhất trong lịch sử Trung Hoa.
Đó là màu vàng tươi rực rỡ, màu mà người xưa gọi là minh hoàng sắc,
thay vì những gam màu trầm đen hay xanh thẫm.
Trong học thuyết ngũ hành của phương Đông giải thích
vạn vật qua 5 yếu tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Màu vàng thuộc hành thổ,
nằm ở vị trí trung tâm và tượng trưng cho quyền làm chủ.
Vì vậy, sang thời nhà Đường,
triều đình ban hành lệnh cấm thường dân mặc áo hoàng thổ.
Các sử liệu thường nhắc đến mốc năm 669, dưới triều Đường Cao Tông,
từ đó màu vàng trở thành màu riêng của hoàng gia suốt nhiều triều đại.
Nhưng điều lạ lùng là mỗi khi xã hội bị dồn đến đường cùng,
màu vàng bị cấm ấy lại bất ngờ bùng lên trong
dân gian như một biểu tượng phản kháng.
Ví dụ rõ nhất là cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng cuối thời
Đông Hán năm 184 được Hậu Hán Thư của Phạm Diệp ghi lại.
Lúc ấy, vua Hán Linh Đế mở cửa bán chức quan công khai ở Lạc Dương.
Quan lại các nơi tăng thuế,
bắt dân đi lao dịch xây cung điện không biết ngày về.
Hạn hán và dịch bệnh kéo đến,
nhiều người rơi vào cảnh làm cũng đói mà ngừng làm cũng đói.
Chính trong khoảnh khắc sợi dây chịu đựng bị kéo căng đến tột cùng ấy,
ở vùng cự lộng thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay,
Trương Giác truyền đi khẩu hiệu làm rung chuyển cả đế chế.
Thương thiên dĩ tử, hoàng thiên đương lập,
tuế tại giáp tí, thiên hạ đại cát.
Dịch nghĩa là trời xanh đã chết, trời vàng sẽ lên,
năm giáp tí là năm thiên hạ được điều lành.
Hàng chục vạn người dân khắp nhiều châu quận đồng thời quấn
khăn vàng lên đầu, khoác sắc vàng lên người, tạo nên một
làn sóng khiến triều đình Đông Hán phải dốc toàn lực đàn áp.
Tất nhiên, hai câu chuyện này khác nhau rất xa.
Quân Khăn Vàng cầm vũ khí,
còn người trẻ hôm nay chỉ mặc một chiếc áo và không ai đang nổi dậy cả.
Nhưng có một sợi chỉ biểu tượng xuyên suốt, màu vàng,
vốn là màu của kẻ đứng trên cùng, lại thường được những người
ở dưới cùng để nói lên điều mà họ không thể nói bằng lời.
Ở chỗ làm hôm nay, áp lực ấy mang hình dạng rất cụ thể.
Người ta nhắc đến hiện tượng nội quyền, tức cuộc cạnh tranh tiêu
hào mà mọi người cùng giúp sức nhưng không ai thật sự được lợi.
Người ta kể về việc phải ngồi lại công ty đến khuya,
bị theo dõi bằng phần mềm chấm công, thậm chí nghe đồn có nơi
còn dùng cả cảm biến để biết nhân viên có rời ghế hay không.
Trong bối cảnh ấy, họ chọn một kiểu bất tuân dân sự mềm, mặc chiếc áo
vàng trói lọi giữa văn phòng xám xịt như một bảng tuyên ngôn câm lặng.
Giới nghiên cứu xã hội đã bàn nhiều về việc
giới trẻ Trung Quốc từ trạng thái nằm thẳng,
tức âm thầm rút lui, giảm ham muốn, giảm chi tiêu,
sang những cách bày tỏ thái độ, mang tính, biểu tượng hơn.
chiếc áo vàng có thể xem là một bước như thế, không còn chỉ
im lặng lùi bước mà bắt đầu mang một thông điệp ra bên ngoài.
Người ta vẫn thường nghĩ bậc đế vương nắm
quyền sinh sát nên được hưởng thụ, thỏa thích.
Nếu mở những hồ sơ ghi lại cuộc sống thật của họ,
chúng ta sẽ thấy nhiều vị hoàng đế thực ra bị
chính hệ thống quyền lực ấy vắt kiệt sinh mệnh.
Hồ sơ mang tên Khởi Cư Chú, cuốn nhật ký ghi lại hoạt động của nhà vua
mà phần lớn hiện do Cục Lưu trữ Lịch sử số 1 của Trung Quốc lưu giữ.
Chế độ làm việc của các hoàng đế nhà Thanh khắc nghiệt hơn nhiều
so với một nhân viên văn phòng bình thường,
mà điển hình nhất là hoàng đế Ung Chính.
Ung Chính trị vì từ năm 1722 đến năm 1735, khoảng 13 năm,
ông nổi tiếng chăm chỉ đến mức hiếm có trong lịch sử các triều đại.
Theo ghi chép, ông dậy từ rất sớm, tiếp các đại thần,
rồi ngồi hàng giờ tại điện Dưỡng Tâm để đọc và phê duyệt tấu chương,
tức các bản báo cáo gửi về từ khắp các tỉnh.
Ông tự tay viết lời phê bằng mực đỏ,
nhiều bản dài và chi tiết đến kinh ngạc.
Theo ước tính của các nhà nghiên cứu, ông phê duyệt hàng
chục nghìn bản tấu chương mỗi ngày làm việc hơn 10 tiếng,
gần như quanh năm không có ngày nghỉ.
Rồi năm 1735, vị Hoàng đế quyền tột đỉnh ấy qua đời ở tuổi 57,
và nhiều người cho rằng nguyên nhân sâu xa là sự kiệt sức,
con số ấy còn đau lòng hơn khi đặt vào bức tranh chung.
Nhiều thống kê thường được trích dẫn cho thấy tuổi thọ trung
bình của các Hoàng đế Trung Hoa chỉ vào khoảng dưới 40 tuổi.
Còn số này đã thay đổi tùy cách tính,
nhưng điểm chung là rất thấp so với thân phận cao quý của họ.
Ngai vàng, hóa ra không phải là trốn thảnh thơi,
nó là chiếc lồng bằng lụa, đẹp, sang nhưng vẫn là một chiếc lồng.
Và theo các nghiên cứu y tế công cộng của Trung Quốc,
mỗi năm đất nước này có hơn nửa triệu ca đột tử do tim,
và giới chuyên gia liên tục cảnh báo về mối liên hệ giữa thức khuya,
làm việc quá sức với nguy cơ tim mạch.
Một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế năm
2021 cho biết, những người làm việc từ 55 giờ trở lên mỗi tuần có nguy
cơ tử vong vì đột quỵ cao hơn khoảng 35% và vì bệnh tim thiếu máu cục
bộ cao hơn khoảng 17% so với người làm từ 35 đến 40 giờ mỗi tuần.
Y học cổ truyền phương Đông cũng đã nói về điều này từ rất lâu.
Trong bộ Hoàng đế Nội Kinh, các thầy thuốc xưa nêu nguyên lý,
thiên nhân tương ứng, nghĩa là cơ thể
con người phải vận hành hòa nhịp theo ngày đêm của trời đất.
Theo cách nhìn ấy, khung giờ đêm từ 11h đến 3h sáng, tức giờ Tý
và giờ Sửu, là lúc cơ thể cần nghỉ ngơi để gan và mật thanh lọc.
Nếu cứ thức khuya liên tục, người xưa cho rằng can hỏa sẽ bốc lên,
làm hao tổn nguyên khí, tức là nguồn sinh lực gốc của con người.
Trong thiên Thượng cổ thiên chân luận, cổ nhân than rằng người đời
sau coi việc làm việc quá độ, hao tổn tinh lực là chuyện thường,
cho nên chưa đến tuổi 50 cơ thể đã suy yếu.
Câu khép lại của đoạn ấy là, cố bán bách nhi suy giã,
nghĩa là vì thế mà mới nửa trăm tuổi đã suy.
Hãy thử so sánh, ông chính có quyền lực tối cao thiên hạ nhưng không
có giấc ngủ trọn vẹn. Chàng trai trẻ mặc áo vàng ở văn phòng hôm nay
có chiếc áo vàng của vua nhưng cũng chưa chắc có nổi một giờ nghỉ.
Dù là bậc quân vương ngồi trên ngai vàng thật hay người thanh
niên khoác áo long bào giả, một khi đã làm trái nhịp sống cơ thể
mình thì chiếc áo lộng lẫy nhất cũng không che được sự mệt mỏi.
Vậy nếu long bào không cứu được ai, còn con đường nào khác hay không?
Thưa quý vị, hiện tượng giới trẻ Trung Quốc mặc áo vua đi làm chính
là tiếng thở dài của một hệ thống đang bị kẹt giữa một bên là guồng
máy cạnh tranh nặng nề và một bên là khát vọng rất đỗi bình thường,
được sống, được nghỉ ngơi, được giữ lấy phẩm giá của một con người.
Thế nhưng, nếu chỉ dùng tiếng cười hay chiếc áo vua để đối phó
qua ngày, con người vẫn chưa thể tìm thấy sự tự do thật sự.
Chiếc áo làm ta nhẹ lòng được một chút,
nhưng sáng mai chúng ta vẫn phải đối diện với chiếc bàn làm việc ấy.
Vậy khi đứng giữa những thời đại đầy biến động và áp lực,
ta nên chọn cách ứng xử như thế nào? Trong lịch sử văn hóa Trung Hoa,
câu trả lời nổi tiếng nhất gắn liền với Đào Uyên Minh,
bậc danh sĩ sống vào thời Đông Tấn, năm 405, vì gia cảnh túng thiếu,
ông nhận chức huyện lệnh ở Bành Trạch, nhưng chỉ sau hơn 80 ngày
làm việc trong guồng máy quan trường đầy những thủ tục rình mích.
Khi một quan thanh tra cấp trên đến thị sát và yêu cầu ông phải
chỉnh sửa áo quan bào thật trang trọng để ra cúi đầu nghênh đón,
Đào Uyên Minh đã thở dài rồi nói một câu để đời, ta không thể vì năm
đấu gạo lương bổng mà phải khom lưng uốn gối trước kẻ tiểu nhân.
Ngày ngày hôm đó, ông cởi trả chiếc áo quan bào,
viết bài, quy khứ lai từ để trở về quê nhà cày ruộng,
giữ trọn vẹn phẩm giá và sự thanh thản cho tâm hồn.
Tuy nhiên, bi kịch của giới trẻ Trung Quốc ngày nay nằm ở chỗ họ không
còn cả cánh đồng quê yên bình để lui về như Đào Uyên Minh thời xưa
Trách nhiệm cốt lõi đằng sau sự bế tắc này thuộc về
chính mô hình cai trị của giới cầm quyền Bắc Kinh
Suốt nhiều thập niên, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã duy trì
một nền kinh tế dựa trên việc bóc lột sức lao động giá rẻ
Đẩy giá bất động sản lên cao ngất ngưởng để thu ngân sách,
nhưng lại làm ngơ trước tình trạng các doanh nghiệp trà đạp luật
lao động bằng chế độ tăng ca 996, khi nền kinh tế suy thoái và hàng
chục triệu sinh viên ra trường thất nghiệp, thay vì cải tổ hệ thống
an sinh xã hội hay bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động,
Bắc Kinh lại chỉ tung ra những khẩu hiệu tuyên
truyền kêu gọi thanh niên tự giác chịu khổ,
đồng thời siết chặt kiểm duyệt mọi tiếng nói phản biện.
Như nhà kinh tế học Joseph Stiglitz,
người đoạt giải Nobel năm 2001 trong cuốn People,
Power and Profits xuất bản năm 2019 đã chỉ ra rằng một chính
quyền chỉ chăm chăm chạy theo những con số tăng trưởng bề nổi
để củng cố quyền lực mà vắt kiệt đời sống thực sự của người
dân thì tất yếu sẽ tạo ra một xã hội rệu rã từ bên trong.
Sức mạnh của một quốc gia không thể xây trên những tòa cao ốc sáng
đèn lúc nửa đêm của những người trẻ đang kiệt sức và tuyệt vọng.
Đứng trước một hệ thống vừa vắt kiệt sức lực, vừa bịt kín lối thoát ấy,
mỗi cá nhân càng phải tự giữ lấy danh giới sinh tồn cuối cùng của mình.
Vậy rốt cuộc, ai mới là vị hoàng đế thực sự có
quyền cho phép chúng ta được nghỉ ngơi và bình an?
Trong thiên Giải Ấp của bộ sách Tuân Tử, cổ nhân đã đúc kết
đạo lý ấy bằng một câu sánh trực diện với ngôi vị đế vương.
Tâm giả, hình chi quân giả, thần minh chi chủ giả, xuất lệnh nhi vô sở,
thụ lệnh, dịch nghĩa là cái tâm của mỗi người chính là một vị quân
vương cai quản thân thể, là bậc chúa tể của toàn bộ tinh thần.
Tâm là người ban ra mệnh lệnh cho cuộc đời mình,
chứ không phải khuất phục trước sự sai khiến mù quáng của ngoại vật.
Người xưa gọi tâm là vị vua của thân thể để nhắc nhở rằng mỗi
người vốn đã có sẵn một ngai vàng ở ngay trong lồng ngực mình.
Khi tâm còn bị những khẩu hiệu tuyên truyền,
nỗi sợ hãi đào thải hay những cuộc chạy đua hình thức điều khiển,
thì dù ngoài thân có khoác áo long bào theo dòng,
ta vẫn chỉ là kẻ làm thuê kiệt sức.
Ngược lại, khi tâm biết nhìn thấu thực tại,
biết đặt ra giới hạn cho chữ đủ để bảo vệ xương mạng và phẩm giá,
thì dù chỉ mặc chiếc áo bình dị nhất,
ta đã là vị hoàng đế tự tại của chính cuộc đời mình.
Giữa dòng chảy đầy biến động của thời cuộc hôm nay,
đánh thức được vị vua trong tâm để biết dừng lại đúng lúc,
biết giữ gìn nguồn năng lượng thiện lương,
sức khỏe cho bản thân và hơi ấm cho gia đình mới chính
là tấm áo bảo hộ mệnh bền vững nhất của mỗi con người.
Quý vị nghĩ thế nào về trào lưu mặc long bào của giới trẻ Trung Quốc?
Rất mong nhận được những ý kiến bình luận của quý vị.
Chương trình hôm nay xin được kết thúc tại đây.
Cảm ơn sự yêu mến và đồng hành của quý vị.
Kính chúc quý vị và gia đình sức khỏe và bình an.
Thùy Miên hẹn gặp lại quý vị trong những chương trình tiếp theo.