Trước nỗi sợ bị "khóa van" nguồn cung đất hiếm, chất bán dẫn và năng lượng, các nước phương Tây đang gấp rút mở những "đường máu" chiến lược qua hai cuộc gặp cấp cao tại Atlanta (Hoa Kỳ) và Montréal (Canada) cuối tháng 10 năm 2026. Tuy nhiên, khả năng thực thi thực tế của các thỏa thuận này ra sao, và việc Đông Nam Á bất ngờ được gọi tên sẽ mở ra cơ hội tỷ đô hay tiềm ẩn cái bẫy rác thải công nghệ?
⚔️ Phần 1: Nghịch lý thế giới vừa đối đầu vừa bắt tay, bài học Hợp Tung - Liên Hoành thời Chiến Quốc và nhận định của Lord Palmerston. 🤝 Phần 2: Cuộc gặp Bộ tứ QUAD tại Atlanta, thượng đỉnh Canada - EU tại Montréal, bài học Cộng đồng Than Thép 1951 và khoảng cách từ cam kết đến thực thi. 🏛️ Phần 3: Thử thách vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ nhìn từ Kế hoạch Marshall, Liên minh Delos của Athens và khủng hoảng kênh đào Suez 1956. 💎 Phần 4: Nỗi sợ bị "khóa van" khi một nước nắm hơn 90% chế biến đất hiếm, ký ức cú sốc dầu mỏ 1973 và bài học "muối và sắt" trong Diêm Thiết Luận, thành ngữ "Đầu thử kỵ khí". ❄️ Phần 5: Nga, những rạn nứt phương Tây tại hội nghị G20 ở Atlanta và giới hạn "Đồng sàng dị mộng" trong mối liên kết Nga - Trung. 🌏 Phần 6: Bốn rào cản thực thi của các thỏa thuận quốc tế, bài toán Đông Nam Á trước cơ hội tỷ đô hay bẫy rác thải công nghệ, và dấu ấn từ liên minh Xích Bích, Hòa ước Thiền Uyên.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Thưa quý vị, có một nghịch lý đang diễn
ra trên chính trường quốc tế hiện nay.
Trong khi chiến tranh ở nhiều khu vực vẫn chưa có hội kết,
những điểm nóng an ninh tiếp tục căng thẳng,
tranh chấp thương mại gia tăng,
các quốc gia áp đặt thuế quan và những
biện pháp hạn chế kinh tế đối với nhau,
thì ở một chiều hướng khác, các cuộc gặp cấp cao vẫn liên tục diễn ra.
Những cái bắt tay, những thỏa thuận hợp tác và
các sáng kiến liên minh mới vẫn được công bố.
Thế giới dường như đang bị chia rẽ bởi cạnh tranh quyền lực,
bởi khác biệt lợi ích và những xung đột ngày càng phức tạp.
Mặt khác, trước nỗi sợ bị khóa van, nguồn cung đất hiếm,
chất bán dẫn hay năng lượng bất cứ lúc nào, các nước phương
Tây buộc phải gấp rút mở những đường máu chiến lược mới.
Đặc biệt, trong cuộc họp cấp cao vừa qua tại Hoa Kỳ,
khu vực Đông Nam Á bất ngờ được các nước lớn trực tiếp gọi tên trong kế
hoạch tái cấu trúc chuỗi cung ứng và thu hồi khoáng sản từ chất thải.
Vậy những cái bắt tay ấy có phải là dấu hiệu cho thấy
thế giới đang tìm lại tinh thần hợp tác hay chỉ là những
cam kết trên giấy tờ khó lòng thực thi đạt kết quả?
Và việc Đông Nam Á được gọi tên sẽ mở ra câu hỏi đón dòng vốn tỷ đô
la hay tiềm ẩn nguy cơ biến khu vực
thành nơi tiếp nhận rác thải công nghệ?
Trong chương trình hôm nay,
chúng ta sẽ giải mã các vấn đề vì sao liên minh nào cũng có vết nứt,
ai đang sợ bị quá van và Đông Nam Á đang đứng ở đâu?
Chào mừng quý vị đã quay trở lại với
kênh Dòng chảy thời sự cùng Thủy Miên.
Rất vui khi gặp lại quý vị.
Trước khi bắt đầu chương trình rất mong quý vị hãy nhớ đăng ký kênh
để ủng hộ cho chương trình phát triển và đầu tư chất lượng tốt hơn.
Và Thủy Miên trình bày ngay sau đây.
Thưa quý vị, câu chuyện hôm nay bắt đầu từ 2 cuộc
gặp diễn ra ruồn dập vào cuối tháng 10 năm 2026.
Một cuộc ở Montreal, Canada.
Một cuộc ở Atlanta, Hoa Kỳ.
Nhìn bên ngoài, đây chỉ là hai sự kiện ngoại giao quen thuộc,
nhưng đặt cạnh nhau, chúng cho thấy các
nước đang vẽ lại bản đồ liên minh của mình.
Hãy bắt đầu từ Montreal. Trong hai ngày 29 và 30 tháng 10,
Canada và Liên minh châu Âu tổ chức hội nghị thượng định lần thứ 21.
Hai bên công bố một sáng kiến mang tên Liên minh vì tương lai,
hợp tác từ thương mại số, siêu máy tính,
khoáng sản chiến lược cho đến năng lượng và quốc phòng.
Nói đơn giản, đó là lời tuyên bố rằng hai bờ
đại Tây Dương muốn gắn bó với nhau chặt hơn.
Ngay sau đó, vào ngày 31 tháng 10, ngoại trưởng bốn nước Hoa Kỳ,
Úc, Ấn Độ và Nhật Bản gặp nhau tại thành phố Atlanta trong khuôn
khổ đối ngoại an ninh bốn bên, thường được gọi là nhóm Quad.
Chủ đề chính là an ninh kinh tế, khoáng sản chiến lược,
công nghệ và an ninh hàng hải ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Đáng chú ý, họ nhắc đến việc hợp tác với
các nước Đông Nam Á trong khối ASEAN.
2 cuộc gặp gỡ tại 2 địa điểm khác nhau,
thành phần khác nhau, mục tiêu cụ thể cũng khác nhau
nhưng cả 2 đều xuất phát từ chung một nỗi
lo mà tôi sẽ gọi là nỗi sợ bị khóa van
Khóa van ở trường hợp này là khi một nguồn cung thiết yếu như đất hiếm,
chip bán dẫn hay năng lượng
có thể bị cắt giảm bất ngờ để gây sức ép,
khi nguyên liệu có thể đứt gãy, công nghệ trở thành công cụ cạnh tranh
và các cam kết thương mại thay đổi tùy theo chính quyền tại vị
Những cái bắt tay tại hai cuộc gặp gỡ diễn
đàn diễn ra lúc căng thẳng chưa nghề hạ nhiệt
Thế quan vẫn được áp lên nhiều mặt hàng
Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu vẫn được xiết lại từ nhiều phía
Chiến tranh ở nhiều nơi vẫn tiếp diễn
Nghĩa là các nước không bắt tay vì thế giới đã yên ổn
Họ bắt tay vì thế giới đang bất ổn
Và họ muốn tìm chỗ dựa trước khi sóng gió kế tiếp ập đến
Tình thế ấy khiến tôi nhớ đến thời chiến
quốc ở Trung Hoa cách đây hơn 2.000 năm
Khi nước Tần trỗi dậy mạnh mẽ ở phía Tây, sống nước phương Đông là Hàn,
Triệu, Nguy, Sở, Yên, Tề, nghe theo miêu sĩ Tô Tần,
cách thành một mặt trận dọc từ Bắc xuống Nam để chống Tần.
Người ta gọi đó là hợp tung.
Ngược lại, Trương Nghi, người giúp nước Tần tung ra đòn liên hoành,
ông không đánh vào cả khối, ông đến từng nước riêng lẻ, dùng lợi
ích kinh tế và những cam kết song phương để lôi kéo họ về phía Tần.
Mặt trận chống Tần nhanh chóng dặn nước từ bên trong.
Bài học ấy cho thấy liên minh nào cũng có hai lực kéo.
Một là mối đe dọa chung khiến các nước xích lại gần nhau. Hai là lợi
ích riêng khiến mỗi nước tính đường đi nước bước của riêng mình.
Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại cũng nhận xét tương tự.
Các nước thường liên kết với nhau chủ yếu để đối phó với mối đe dọa gần
nhất. Vì vậy, câu nói nổi tiếng gắn với Thủ tướng Anh Lord Palmerton
vẫn còn nguyên sức nặng. Quốc gia không có đồng minh vĩnh viễn,
cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn.
Thưa quý vị, nếu nhìn qua lăng kính lợi ích ấy,
những cái bắt tay ở Montreal và Atlanta sẽ hiện ra rõ hơn nhiều.
Trước hết, hãy nhìn kỹ hơn vào Atlanta, nhóm quốc khởi nguồn từ hoạt
động phối hợp cứu trợ sau thảm họa sóng thần năm 2004 đến năm 2017.
Bốn nước khôi phục nhóm này thành một diễn đàn đối thoại chiến lược,
và quốc không phải là NATO phiên bản châu Á.
Nhóm này không có điều khoản phòng thủ tập thể,
nghĩa là không nước nào bị buộc phải mang quân đi
tham chiến nếu một thành viên khác bị tấn công.
Tại Atlanta, bốn vị ngoại trưởng nhấn mạnh việc xây dựng chuỗi cung
ứng đáng tin cậy và phản đối những hạn chế xuất khẩu tùy tiện.
Hoa Kỳ công bố khoảng cam kết 10 triệu đô la để thu hồi
khoáng sản thiết yếu từ chất thải ở Ấn Độ và các nước ASEAN.
Ngoài ra còn có một sáng kiến về bán dẫn và một gói hơn 85 triệu đô
la cho chương trình công nghệ của nhóm.
Có một chi tiết đáng chú ý là Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio
còn nói rõ nhóm quốc không phải liên minh chống Trung Quốc.
Lý do không khó hiểu, nếu ta nhìn thành từng thành viên,
Ấn Độ vốn có truyền thống giữ được độc lập chiến lược,
không muốn bị gắn với bất kỳ khối nào.
Úc xuất khẩu rất nhiều khoáng sản sang Trung Quốc,
Nhật Bản có quan hệ kinh tế sâu với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ.
Vì thế, khi tuyên bố chung không nêu tên Trung Quốc,
đó không chỉ là câu ngữ ngoại giao, đó là phản ánh một thực tế.
Bốn nước cần nhau và vừa cần Bắc Kinh.
Còn ở Montreal, hai bên cho biết thương mại Canada, châu Âu đạt
khoảng 130 tỷ euro trong năm 2025, tăng hơn 80% so với năm 2016.
Đó là nền tảng để họ nói chuyện về một mối liên kết sâu hơn.
Hai bên đồng ý sẽ xác định một mô hình hợp
tác gần gũi hơn trước thực định năm 2027.
Họ vừa kết thúc đàm phán một hiệp định thương mại số và đang
nghiên cứu khả năng đưa khí đốt hóa lỏng của Canada sang châu Âu.
Nhưng cả hai đều còn ở giai đoạn đầu.
Một số nhà phân tích gọi xu hướng này
là chủ nghĩa đa phương theo nhóm nhỏ
Khi các tổ chức toàn cầu quá công cành, khó đạt đồng thuận
Các nước tự lập những nhóm nhỏ thực dụng
để giải quyết từng bài toán sống còn
Quad là một nhóm như vậy
Liên minh Canada châu Âu cũng vậy
Nhóm nhỏ thì nhanh nhưng cũng dễ thay đổi
Hôm nay họ cùng chung nỗi lo, ngày mai lợi ích có thể khác
Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy những nhóm
nhỏ đôi khi mọc lên những thể chế bền vững
Năm 1950, Ngoại trưởng Pháp đề nghị đặt ngành than với
thép của Pháp và Tây Đức dưới một cơ quan quản lý chung.
Đó là cách để hai kẻ thủ cũ không thể dễ dàng gây chiến với nhau nữa,
vì vũ khí cần nguyên liệu, mà nguyên liệu đã được dùng chung.
Năm 1951, cộng đồng than thép châu Âu ra đời,
và đó chính là tiền thân của Liên minh châu Âu ngày nay.
Canada và châu Âu hôm nay cũng dùng năng
lượng và khoáng sản làm chất keo kết gắn.
Theo một logic tương tự, gắn lợi ích lại với nhau để giảm bớt nỗi sợ.
Nhưng khoảng cách từ một bàn tuyên bố đến một
nhà máy sản xuất thật lại là một chuyện khác.
Tôi sẽ quay lại vấn đề này ở phần cuối. Còn bây giờ, có một nhân vật
đứng sau cả hai cuộc gặp này mà chúng ta chưa nhắc nhiều, đó là Hoa Kỳ.
Với Montreal, Hoa Kỳ là đối tác lớn nhất của Canada,
và cũng là lý do khiến Canada muốn đa dạng hóa.
Với Atlanta, Hoa Kỳ là nước chủ nhà.
Vậy vai trò của Hoa Kỳ trong trật tự này là gì?
Thưa quý vị, nhìn cách Canada và châu Âu chủ động xích lại gần nhau,
nhiều người sẽ hỏi, vậy Hoa Kỳ là người anh cả của
phương Tây suốt 8 thập niên qua, đang đứng ở đâu?
Trở lại năm 1945, châu Âu tan hoang, nhiều thành phố,
nhà máy, cảng điện và đường sắt bị phá hủy.
Trong khi đó, Hoa Kỳ nổi lên với sức mạnh công nghiệp vượt trội.
Họ có thể chọn thu mình lại, nhưng họ chọn con đường khác.
Năm 1948, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall,
biện trợ không hoàn lại 13,3 tỷ đô la vào Tây Âu trong
4 năm để phục hồi sản xuất và ổn định các nền dân chủ.
Năm 1949, Hoa Kỳ cùng Canada và các nước Tây Âu lập nền khối NATO,
đặt nền tảng cho cơ chế phòng thủ tập thể xuyên đại Tây Dương.
Vài trò của người anh cả ấy không chỉ dựa vào quân sự,
nó đến từ khả năng cung cấp nguồn lực,
mở rộng thị trường và thiết lập các quy tắc chung.
Nhiều học giả cho rằng một cường quốc đứng đầu chỉ giữ được liên
minh lâu dài khi biết tự kiềm chế quyền lực của chính mình.
Nhưng lịch sử cũng cho thấy khi bên dẫn đầu và các thành
viên nhìn lợi ích khác nhau, vết nứt bắt đầu xuất hiện.
Trở về năm 478 trước công nguyên ở Hy Lạp cổ đại, khi ấy các
thành bang lập lên liên minh Delos để cùng chống đế quốc Ba Tư.
Ngân cối chung đặt trên đảo Delos và Athens đứng đầu.
Công bằng mà nói, Athens là bên bò giao
phần lớn hạp đội để bảo vệ cả liên minh.
Nhưng chỉ vài chục năm sau, mọi chuyện đã đổi khác.
Khi có thành viên muốn rút lui, Athens dùng vũ lực buộc họ ở lại.
Dù khoảng năm 454 trước công nguyên,
ngân khối chung được rời từ Delos về thẳng Athens, đồng minh dần nhận
ra mình không còn là đối tác bình đẳng mà đang trở thành người nộp cống
Sự ra Thucydides khi chép lại cuộc chiến Peloponnesus cho thấy
rõ điều này, Athens càng siết chặt, đồng minh càng quán hận
Ông còn cho rằng nguyên nhân sâu xa nhất của cuộc chiến là
sự lớn mạnh của Athens và nỗi sợ mà nó gây ra cho Sparta
Bết dặn nước từ bên trong ấy đã góp phần
đẩy Hy Lạp vào cuộc đại chiến với Sparta
Ở thời hiện đại,
cuộc khủng hoảng Canh đào Suez năm 1956 cũng là một ví dụ
Khi Anh và Pháp hối hợp với Israel mở chiến dịch quân sự tại Ai Cập
Hoa Kỳ không ủng hộ vì lo đồng minh đẩy thế giới ả đập về phía Liên Xô
Washington gây ra sức ép buộc hai đồng minh
thân cận nhất phải ngừng bắn và rút quân
Với Hoa Kỳ, đó là bảo vệ lợi ích chiến lược lớn hơn. Với Anh và Pháp,
đó là bài học đau xót về giới hạn quyền tự quyết trong một liên minh.
Những bài học ấy không chỉ nằm trong sách sử.
Hiện ngay Canada xuất hàng xuất khẩu 70% sang Hoa Kỳ.
Khi chính sách thuế quan từ Washington biến động,
Canada và châu Âu tìm cách bớt lệ thuộc hơn.
Nhưng đó là chuyện giảm rủi ro chứ không phải chuyện chia tay.
Về phía Hoa Kỳ, Washington cũng có lý lẽ của mình
Theo NATO, năm 2025,
Hoa Kỳ vẫn chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu quốc phòng của cả phối
Tháng 6 năm 2025, sau nhiều năm bị Washington thúc ép,
các đồng minh đã đồng ý nâng mục tiêu chi tiêu lên 5% GDP vào năm 2035
Châu Âu và Canada quả thật đã tăng chi tiêu đáng kể,
nhưng Washington vẫn cho rằng gánh nặng chưa được chia đều
Đại sứ Hoa Kỳ tại NATO cũng nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không
rút khỏi liên minh, chỉ muốn đồng minh làm nhiều hơn.
Cho nên đây không phải là chuyện ai đúng ai sai.
Đây là hai nỗi lo, cả hai đều có lý của mình.
Bài họp từ Athens năm xưa là liên minh nào cũng cần cả hai triệu.
Bên đứng đầu cần giữ chữ tín và sự ổn định.
Bên đồng hành cần đóng góp xứng đáng.
Thiếu một trong hai, liên minh sẽ giãn nứt.
Và khi liên minh giãn nứt,
người ta tìm cách bảo vệ mình bằng cách tìm nguồn cung và đối tác khác.
Đó chính là câu chuyện của phần tiếp theo.
Thưa quý vị, nếu những biến động từ Washington khiến
các đồng minh tìm cách phân tán rủi ro thương mại,
thì Trung Quốc là nhân tố khiến nỗi
lo về chuỗi cung ứng trở nên gai gắt nhất.
Suốt nhiều thập niên toàn cầu hóa,
Trung Quốc trở thành công sưởng lớn nhất thế giới
và tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau với hầu hết các nền kinh tế lớn.
Nhưng khi cạnh tranh chiến lược leo thang,
sự phụ thuộc ấy bị nhìn nhận khác đi.
Các học giả gọi hiện tượng này là vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau.
Khi một nước nắm vị trí then chốt trong mạng lưới thương mại hay
công nghệ, họ có thể biến vị trí ấy thành công cụ gây sức ép.
Và cả hai bên đều làm vậy.
Hoa Kỳ siết kiểm soát xuất thầu các loại chip tiên
tiến dùng cho trí tuệ nhân tạo và quốc phòng.
Trung Quốc thì kiểm soát xuất khẩu gallium,
germanium, than chỉ và đất hiếm.
Cụ thể tháng 4 năm 2025,
Bắc Kinh thêm một số nguyên tố đất hiếm vào danh sách kiểm soát.
Đến tháng 10, họ mở rộng sang cả công nghệ khai thác,
tinh luyện và sản xuất nam châm.
Con số đáng chú ý là Trung Quốc chiếm hơn
90% công suất chế biến đất hiếm toàn cầu.
Công bằng mà nói, Bắc Kinh có cách nhìn khác.
Họ khẳng định các biện pháp này hợp pháp, không phải là lệnh cấm xuất
khẩu và giấy phép vẫn được cấp cho các hồ sơ dân sự đủ điều kiện.
Một số nhà phân tích còn cho rằng Trung Quốc đang làm giống như
quy tắc kiểm soát xuất khẩu chip mà Hoa Kỳ áp dụng trước đó.
Nhưng với các nước phụ thuộc vào nguồn cung này,
câu hỏi không phải là ai đúng mà là nếu Phan bị xiết, mình sẽ ra sao?
Nỗi sợ ấy gợi lại ký ức về cú sốc dầu mỏ vào tháng 10 năm 1973.
Khi đó, các nước xuất khẩu Ả Rập quyết định cấm vận dầu mỏ đối với
Hoa Kỳ và một số nước ủng hộ Israel trong cuộc chiến Trung Đông.
Giá dầu thế giới tăng gấp 4 lần chỉ trong vài tháng.
Ở Hoa Kỳ, người ta phải xếp hàng dài trước các chạm xăng.
Ở một số nước châu Âu, chính phủ phải cấm lái
xe vào ngày Chủ nhật để tiết kiệm nhiên liệu.
Nên kinh tế các nước công nghiệp trao đảo vì quá
quen với nguồn năng lượng giá rẻ từ bên ngoài.
Nếu năm 1973 chiếc van ấy là dầu mỏ, thì năm 2026 chiếc van
khiến nhiều nước lo lắng nhất là đất hiếm và khoáng sản làm pin.
Hơn 2.000 năm trước, Triều Hán từng tranh luận rất gây gắt
về chuyện nhà nước có nên độc quyền muối và sắt hay không.
Cuộc tranh luận ấy được ghi lại trong sách Diêm Thiết Luận.
Có người ủng hộ vì muối và sắt là nguyên
liệu thiết yếu của cả đời sống lẫn quân đội.
Có người phản đối vì cho rằng nhà nước can thiệp quá sâu.
Dù đúng sai thế nào, cuộc tranh luận ấy cho thấy từ rất xưa,
người ta đã coi nguyên liệu thiết yếu là chuyện quốc gia đại sự.
Ngày nay, nhiều nhà hoạch định chính sách ở phương Tây cho rằng
việc chuyển phần lớn khâu chế biến nặng nhọc sang Trung
Quốc suốt nhiều thập niên là một sai lầm chiến lược.
Vì thế, Quads ở Atlanta cùng Canada và châu Âu ở Montreal
đều đang cố mở đường máu, tức là tìm nguồn cung mới từ
việc kết hợp vốn châu Âu với tài nguyên Canada đến thu
hồi khoáng sản từ rác thải điện tử ở Ấn Độ và Đông Nam Á.
Tuy nhiên, giảm rủi ro không đồng nghĩa với tách rời hoàn toàn.
Ngay như Úc, phần lớn quạng lithium thô của
họ vẫn được đưa sang Trung Quốc để chế biến.
Sách Hán Thư có thành nữ, đầu thử kỵ khí,
nghĩa là muốn ném con chuột nhưng sợ làm bỡ trước bình quý bên cạnh.
Câu ấy tả đúng thế kẻ thiện này, các nước lớn vừa muốn kiềm chế
đối thủ, vừa sợ làm đứt luôn dây chuyền sản xuất của chính mình.
Thưa quý vị, nếu Trung Quốc là bài toán cạnh tranh dài hạn về kinh
tế và công nghệ, thì Nga là bài toán an ninh trực diện của châu Âu.
Cuộc chiến ở Ukraine đã đảo lượn tư duy phòng vệ của cả lục địa.
Sau khi nguồn khí đốt qua đường ấm từ Nga bị cắt giảm mạnh,
châu Âu hiểu rõ thế nào là bị khóa van bằng chính chức
van của mình từng tin cậy. Họ tìm nguồn năng lượng khác,
trong đó có việc nghiên cứu nhập khí hóa lỏng từ Canada.
Họ tăng mạnh ngân sách quốc phòng,
lập các cơ chế chung để mua sắm vũ khí.
Và Phần Lan cùng Thụy Điển đã gia nhập NATO,
làm thay đổi cấu trúc an ninh ở Bắc Âu.
Tuy vậy, ngay trong nội bộ phương Tây,
cách nhìn về Nga cũng hoàn toàn không trùng khớp.
Với các nước nằm sát biên giới Nga,
cuộc chiến ở Ukraine là mối đe dọa hiện hữu mỗi ngày.
Còn Hoa Kỳ là cường quốc toàn cầu,
phải chia nguồn lực quân sự cho nhiều mặt trận cùng lúc,
châu Âu, Trung Đông và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Không bên nào vô lý, mỗi bên đang nhìn từ vị trí của mình.
Sự lệch nhịp này lộ rõ ở một sự kiện khác cùng
diễn ra ở Atlanta vào cuối tháng 10 năm 2026.
Đó là cuộc họp ngoại trưởng các nhóm gần 20.
Theo các bản tin quốc tế,
hội nghị khép lại mà không có thông cáo chung,
chỉ có tuyên bố của chủ tọa vì các nước bất
đồng sâu sắc về những vấn đề an ninh lớn.
Có một chi tiết hậu trường khá thú vị,
bức ảnh chụp chung truyền thống của các ngoại trưởng đã bơi hủy
sau khi một số đại diện châu Âu phản đối việc đứng chung
trong khung hình với ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov.
Nghe thì như chuyện nghi thức, nhưng nó cho thấy hai cách tiếp cận
Hoa Kỳ muốn giữ kênh đối thoại thực
dụng với Moscow trong khuôn khổ gần 20
Còn nhiều nước châu Âu cho rằng không thể thể hiện quan hệ bình thường
chừng nào chiến tranh ở Ukraine chưa chấm dứt
Một bên muốn giữ đối thoại luôn mở
Một bên không muốn bình thường hóa quan hệ khi tiếng súng vẫn nổ
Cả hai đều có logic riêng
Trong khi phương Tây còn bất đồng với nhau,
Nga và Trung Quốc ngày càng gắn bó hơn.
Hai nước tăng cường hợp tác về thương mại, năng lượng,
ngoại giao và cả quân sự. Cuối tháng 6 năm 2026,
máy bay quân sự của hai nước đã cùng tuần tra chiến lược trên
vùng biển Nhật Bản, biển Hoa Đông và phía Tây Thái Bình Dương.
Sự phối hợp này ngày càng thực chất,
khiến các nước láng giềng không thể xem nhẹ.
Nhưng nhiều chuyên gia nhận xét rằng đây giống như một
mối quan hệ tiện lợi hơn là một liên minh thống nhất.
Nga ưu tiên phá thế bao vây ở châu Âu và
giữ ảnh hưởng ở không gian hậu Soviet,
Trung Quốc thì đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế và công nghệ,
và vẫn cần giao thương ổn định với chính trị các thị trường phương Tây.
Trong dân gian có câu thành ngữ đồng sàng dị mộng, nghĩa là nằm
cùng chung một chiếc giường nhưng mỗi người mơ một giấc mơ riêng.
Chúng ta sẽ cùng theo dõi là hai nước phối hợp đến
mức độ nào khi lợi ích riêng bắt đầu khác nhau.
Và đây cũng là một điểm chung với những gì chúng ta thấy ở phương Tây
Không khối nào là một khối,
cả hai phía đều đang cố giữ liên minh của mình
Đồng thời tính đường lui riêng cho mình
Vậy với một thế giới như thế,
những thỏa thuận ở Atlanta và Montreal đi được bao xa
Và khu vực Đông Nam Á nơi được gọi tên đứng ở đâu trong bàn cờ ấy
Thưa quý vị, bây giờ là lúc đặt những chuyển
động ở Atlanta và Montreal lên bàn cân thực tế
Câu hỏi cốt lõi là những dự án công bố sẽ được đi đến đâu?
Theo tôi, có 4 rào cản lớn. Rào cản thứ nhất là tài chính.
Những con số như 10 triệu hay hơn 85 triệu đô
la chỉ là vốn mồi khởi động, trong khi một nhà máy chế
biến đất hiếm hay sản xuất chip cần hàng chục tỷ đô la.
Rào cản thứ hai là thời gian. Xây một nhà máy luyện kim,
một cảng khí hóa lỏng hay một đường ống thường mất từ 5 đến 10 năm.
Dự án đưa khí hóa lỏng từ Canada sang
châu Âu hiện mới dừng ở bước nghiên cứu.
Giao cản thứ 3 là thủ tục. Hiệp định thương mại CTA giữa
Canada và châu Âu đã được áp dụng tạm thời hơn 9 năm,
nhưng vẫn chưa được toàn bộ 27 nghị viện của châu Âu phê chuẩn xong.
Hiệp định thương mại số vừa kết thúc đàm
phán cũng còn phải chờ ra soát pháp lý.
Giao cản thứ 4 là chi phí.
Muốn tách khỏi một nguồn cung rẻ và tập trung cần phải trả giá cao hơn,
và cuối cùng người tư dùng sẽ phải gánh một phần giá ấy.
Trong sách tuân tử có câu, tích thổ thành sơn, phong vũ hưng yên, nghĩa
là phải gom từng nắm đất mới thành núi cao, mưa gió mới sinh ra từ đó.
Cam kết ngoại giao cũng vậy.
Một bản tuyên bố chỉ có giá trị khi được biến thành nhà máy,
thành đường ống, thành chữ ký phê chuẩn.
Và trong bối cảnh ấy, việc Đông Nam Á, khối ASEAN, gồm 11 quốc gia,
được nhóm quốc gọi tên tại Atlanta đã đặt ra câu hỏi sát sườn.
Đây là cơ hội đón dòng vốn tỷ đô hay là cái bẫy sát thải công nghệ?
Nếu là cơ hội thì khi các tập đoàn tìm cách
bớt phụ thuộc vào một địa điểm sản xuất,
làn sóng dịch truyền bán dẫn,
trung tâm dữ liệu và sản xuất pin sang Singapore, Malaysia, Indonesia,
Việt Nam hay Thái Lan có thể mở ra vận hội lớn,
nhà máy, việc làm, công nghệ
và cả vị thế mới trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhưng cũng có mặt trái, các nhà kinh tế có
một khánh nghiệm gọi là thiên đường ô nhiễm.
Khi các nước giàu siết tiêu chuẩn môi trường, những không độc
hại nhất thường dịch truyền sang các nước đang phát triển.
Chúng ta gãy hình dung cảnh hàng núi bo mạch cũ và pin phế thải
bị ngâm trong bể acid chỉ lọc lấy vài gram cobalt hay đất hiếm,
tay chế khoáng sản từ rác điện tử không nhất thiết là chuyện xấu.
Nó chỉ trở thành cây bẫy khi thiếu quy truẩn môi trường và thiếu
công nghệ lõi, để khu vực chỉ làm phần nặng nhọc và ô nhiễm nhất,
còn phần giá trị cao nằm ở nơi khác. Vậy Đông Nam Á nên làm gì?
Tôi nghĩ câu trả lời nằm trong lời dạy sách luận ngữ.
Quân tử hòa nhi bất đồng,
nghĩa là hòa hợp với nhau nhưng vẫn giữ chính kiến riêng, không à rùa.
ASEAN vốn có truyền thống hợp tác với nhiều phía mà không chọn phe,
điều đó có thể là lợi thế. Nếu khu vực dùng nó để đặt điều kiện,
vốn đầu tư đi kèm truyền giao công nghệ,
tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt và cơ hội cho doanh
nghiệp bản địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Sức mạnh bền vững nhất luôn đến từ năng lực thực chất,
sự tôn trọng lẫn nhau và trực tím.
Thưa quý vị, trước những rào cản thực ti và nỗi lo bị hóa van nguồn
cung, danh giới giữa cơ hội tỷ đô và bẫy gia công rác thải công
nghệ sẽ phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh tự chủ của từng quốc gia.
Theo quý vị, các thỏa thuận ở Atlanta và Montreal có
sớm đi vào thực tế không? Và làn sóng này sẽ mang
lại vận hội hay thách thức nhiều hơn cho Đông Nam Á?
Chương trình hôm nay xin được kết thúc tại đây.
Rất mong nhận được những ý kiến bình luận của quý
vị để chúng ta có thêm những góc nhìn phong phú.
Cảm ơn sự yêu mến và đồng hành của quý vị.
Kính chúc quý vị cùng gia đình sức khỏe và bình an.
Thùy Miên hẹn gặp lại quý vị trong những chương trình tiếp theo.