Trung Quốc "Xóa Bỏ Giàu Có—Đưa Dân Nghèo Trở Lại", xuất hiện cảnh cướp lương thực, tranh giành đồ ăn

Khán Trung Quốc
1.1K Người theo dõi
129 Lượt xem video·9 thg 9, 2026
Hôm 16 tháng 8, tại một siêu thị ở một địa phương thuộc tỉnh Hà Nam, nhân viên vừa mới đẩy những khay mì sợi khuyến mãi ra, đám đông đang chờ đợi liền ùa tới vây kín. Có người trực tiếp thò tay vào bốc, có người lấy túi nilon xúc vào, đám đông xô đẩy, mì văng tung tóe xuống đất...
Trung Quốc thành công tiến lên xóa bỏ rau có, đưa dân nghèo trở lại, xuất hiện cảnh cướp lương thực, tranh giành đồ ăn.
Mời các bạn cùng Ánh Hồng và Khán Trung Quốc tìm hiểu sâu về vấn đề này trong chương trình ngày hôm nay.
Hôm 16-8, tại một siêu thị ở một địa phương thuộc tỉnh Hàn Nam, nhân viên vừa mới đẩy những khay mì sợi khuyến mãi ra.
Đám đông đang chờ đợi liền ùa tới vây kín. Có người trực tiếp thò tay vào bốc, có người lấy túi ni lông xúc vào.
Những hình ảnh tương tự không chỉ xuất hiện ở Hàn Nam. Trong một siêu thị ở An Huy, hai bà thím đứng ở khu vực bán rau,
ôm lấy những cây súp lơ được bán theo cân, trực tiếp dùng miệng cắn đứt phần cuống của cây súp lơ, rồi nhổ cái phần vừa cắn vứt bỏ đó xuống đất.
Lúc đầu có người trong phần bình luận còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Hóa ra là đang gặm cuống, tôi lại tưởng là đang nếm thử mùi vị.
Vì để giảm bớt một chút trọng lượng của phần cuống khi cân, họ đã gặm đứt phần cuống súp lơ ngay tại trận.
Trong khi đó ở một siêu thị khác, cảnh tượng một nhóm các ông bà thím đang tranh giành củ cải, giảm giá, lại càng trở nên quyết liệt hơn.
Một bà thím ôm khư khưa cái túi ni lông chứa đầy củ cải, chiếc mũ bị xô rớt xuống đất cũng chẳng mang nhặt lại.
Mãi cho đến khi ôm chặt chiếc túi trước ngực mới dành tay để lấy lại chiếc mũ, kết quả là củ cải trong lòng vẫn bị người bên cạnh cướp mất.
Trong phần bình luận, có người trêu đùa, lúc còn trẻ thì gắng mắt giải luyện thân thể, nếu không thì thật sự không tranh giành lại đâu.
Còn có cư dân mạng dựa theo hình ảnh mà xuất khẩu thành những vần thơ chế, gọi là đả du thi.
Cây ngô dây héo quạ trều về, giành củ cải suýt siết cổ bà thím, nón bay lên trời tôi cũng chẳng có thời gian mà chụp lại.
Trong một video khác, mấy ông bác bà thím đang xúm lại, tranh giành bánh bao, một ông bác khó khăn lắm mới lấy đầy được một túi to nhưng cái túi ni lông đã bị rách.
Bà thím bên cạnh trực tiếp thò tay vào cái lỗ rách để móc bánh bao ra, bỏ vào túi của mình.
Tại trung tâm thương mại Châu Hà Loan ở Thiên Tân, khi tổ chức hoạt động nếm thử đồ ăn cũng từng xuất hiện cảnh tượng đám đông chen lấn ùa lên.
Trong video, nhân viên chỉ còn cách cầm micro lên, liên tục cào thét, đừng chen lấn nữa, người ở phía sau đừng chen lấn nữa.
Không chỉ có những người lớn tuổi tranh giành, trong một đợt giảm giá tại một siêu thị ở Hà Nguyên, Quảng Đông,
không ít người trẻ tuổi vì tranh giành sầu riêng mà chen lấn đến mức hỗn loạn.
Bà thím giành củ cải, người trẻ thì giành sầu riêng, đồ vật tranh giành tuy khác nhau nhưng cái tâm lý tiêu dùng kiểu
chỗ nào rẻ thì đâm đầu vào đã không chỉ xuất hiện ở thế hệ lớn tuổi.
Điều này đã rất khác so với bầu không khí tiêu dùng của hơn chục năm về trước.
Thời kỳ đó, chủ đề mà xã hội Trung Quốc xây xưa bàn tán vẫn là nâng cấp tiêu dùng.
Du khách Trung Quốc ra nước ngoài để mua nồi cơm điện, nắp bồn cầu,
người trẻ theo đuổi những ly cà phê đặc sản, mua đồ hiệu, tầng lớp trung lưu,
cuộc sống chất lượng là những từ khóa nổi bật trên các phương tiện truyền thông.
Thời đó, rất nhiều người tin rằng thu nhập sẽ ngày càng cao, nhà cửa sẽ ngày càng có giá,
nhưng món đồ hôm nay không nỡ mua, vài năm sau tự nhiên sẽ có khả năng mua được.
Giờ đây, thị trường tiêu dùng đã thay hình đổi dạng.
Xét ăn cho kẻ nghèo, thực phẩm cận đết, cà phê chín về chín tệ,
đồ ăn vặt giá rẻ và các cửa hàng giảm giá ngày càng được ưa chuộng.
Trước đây, một số người trẻ không hiểu nổi tại sao cha mẹ mình lại phải xếp hàng cả nửa tiếng đồng hồ
chỉ vì vài đồng bạc lẻ khi mua trứng.
Thì bây giờ chính họ cũng bắt đầu tính toán xem làm thế nào để áp dụng mã giảm giá khi đặt đồ ăn.
Đặt nhà hàng lúc nào thì hơi nhất.
Mua điện thoại, đồ nội thất, thậm chí là quần áo,
ngày càng có nhiều người tìm đến các nền tảng đồ cũ để xem trước.
Số liệu chính thức cũng cho thấy được sự thận trọng này.
Tháng 7 năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa tiêu dùng xã hội của Trung Quốc
chỉ tăng trưởng 0,6% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức 1% của tháng 6.
Đầu tư tài sản cố định trong 7 tháng đầu năm nay giảm 6,7%.
Các khoản cho vai mới bằng đồng nhân dân tệ trong tháng 7 càng sụt giảm 340 tỷ tệ,
trong đó các khoản vai của cư dân giảm hơn 460 tỷ tệ.
Sự sụt giảm trong các khoản vai của cư dân, vừa là do ít vai mượn hơn,
cũng có thể bao gồm các yếu tố như trả nợ vai mua nhà trước hạn.
Nhưng so với cái trạng thái mà các hộ gia đình không ngừng dùng đòn bày tài chính
để mua nhà, tiêu dùng trong quá khứ thì đã có sự khác biệt rõ rệt.
Nhà cửa cũng không còn giống như quá khứ, không ngừng tạo ra cảm giác ngày càng giàu có.
Tháng 7 năm nay, giá nhà mới tại 70 thành phố quy mô lớn và vừa của Trung Quốc
tiếp tục giảm 0,1% so với tháng trước và giảm 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Chỉ có 17 thành phố ghi nhận giá nhà mới tăng so với tháng trước.
Giá nhà giảm nhưng khoản vai mua nhà lại không giảm theo, cộng thêm những áp lực từ công việc,
y tế, dưỡng lão và nuôi dạy con cái. Phản ứng tự nhiên nhất của rất nhiều hộ gia đình
chính là giữ chặt tiền trong tay. Đây cũng là bài toán khó mà chính sách
thúc đẩy tiêu dùng của chính quyền Trung Quốc đang phải đối mặt hiện giờ.
Tiêu dùng thiếu hụt có thể phát tiền trợ cấp, giảm lãi suất, khuyến khích người dân tiêu tiền,
bất động sản ảm đạo, có thể nới lỏng các hạn chế, dân số sinh sụt giảm,
có thể ban hành các chính sách trợ cấp sinh đẻ. Nhưng nếu một người trẻ lo lắng về việc mất việc,
một gia đình lo lắng về thu nhập trong tương lai,
thì chính sách gì đi nữa cũng rất khó để khiến người ta móc túi ra tiêu dùng.
Hôm 21 tháng 8, Bộ Tài chính Trung Quốc lại một lần nữa đề xuất tăng cường hỗ trợ cho tiêu dùng
của cư dân, mở rộng trợ cấp lãi suất cho vai tiêu dùng. Điều này đủ cho thấy nhu cầu nội địa
một vấn đề mà chính quyền trung ương phải nhìn thẳng vào sự thật.
Ngày nay, người Trung Quốc vẫn chỉ là đang tranh giành các loại thực phẩm quyến mãi trong siêu thị.
Nhưng nếu nền kinh tế tiếp tục trượt dốc, tình hình việc làm và thu nhập tiếp tục tồi tệ hơn,
thì cái cảnh tranh giành miếng ăn này liệu có một ngày nào đó sẽ biến từ việc dành đồ rẻ
sang thực sự lo lắng xem liệu có cái để ăn hay không. Hơn 60 năm trước, Trung Quốc đã từng trải
qua một nạn đói quét qua toàn quốc, và thảm họa đó cũng không phải chỉ xảy ra trong một đêm.
Năm 1958, Đảng Cộng xã Trung Quốc phát động phong trào, đại nhảy vọt, sắt thép phải đuổi kịp Anh
vượt qua Mỹ. Nông nghiệp cũng bắt đầu theo đuổi những trị tiêu cao xa vời vợi.
Các địa phương liên tục tung ra những con số trên trời, năng suất lúa gạo cao ngất ngưỡng,
những con số vài nghìn cân, vài vạn cân trên một mẫu hoặc thậm chí cao hơn nữa được báo cáo lên
từng cấp một. Cùng lúc đó, nông thôn nhanh chóng tiến hành công xã nhân dân hóa, một lượng lớn các
bếp ăn tập thể được thành lập. Phương thức sản xuất nông nghiệp và lối sống gia đình truyền thống
đã hoàn toàn bị đảo lộn. Sau khi sản lượng lương thực bị thổi phòng qua từng tầng, từng lớp,
cấp trên dựa theo những con số này để phán đoán xem nông thôn có bao nhiêu lương thực, bao nhiêu lương thực
dư thừa. Nhiệm vụ thu mua cũng theo đó mà tăng lên. Một số địa phương trên thực tế đã thiếu hụt lương
thực nhưng vẫn phải hoàn thành nhiệm vụ thu mua. Lương thực trên giấy tờ thì ngày càng nhiều,
nhưng lương thực thực sự ở trong tay nông dân thì ngày càng ít đi.
Từ năm 1959-1961, Trung Quốc sa lầy vào một nạn đói nghiêm trọng. Đối với số người tử vong do
thảm họa này gây ra, dưới học thuật vẫn luôn tồn tại những ước tính khác nhau. Tác giả quấn
Bia Mộ, cựu nhà báo của Tân Hoa Xã, ông Dương Kế Thẳng, ước tính có khoảng 36 triệu người chết trong
nạn đói. Trong khi đó, nhà sư học Frank D. Carter, phùng khách, lại mở rộng phạm vi nghiên cứu
từ năm 1958-1962, ước tính có ít nhất 45 triệu người chết đói dưới chính sách của Đảng Cộng sản Trung
Quốc. Thiên tai đương nhiên là có tồn tại, nhưng rất khó để giải thích thảm họa này tại sao lại phát triển
đến quy mô như vậy, kéo dài như vậy và đổ lỗi tại ông trời. Khai khống sản lượng, thu mua lương thực,
công xã nhân dân, nhà ăn công cộng và các chính sách khác trồng chéo lên nhau một số địa phương sau khi
đã xuất hiện tình trạng nạn đói nghiêm trọng, lại còn cấm dân di chuyển. Trong lịch sử Trung Quốc,
khi gặp phải thiên tai đói kém, những người dân thực sự không thể sống nổi ít nhất vẫn còn có thể chạy nạn,
đến những nơi khác để xin ăn, cầu sinh. Nhưng trong thời kỳ nạn đói lớn, một số khu vực lại thiết lập
cách chạm kiểm soát, hạn chế nông dân rời đi. Do đó, bài học mà nạn đói lớn để lại không chỉ là sự
sai lầm trong chính sách mà còn nằm ở chỗ sau khi sai lầm xuất hiện, nó rất khó được sửa chữa kịp thời.
Cấp trên muốn nghe tin được mùa thì cấp dưới liền không ngừng báo cáo được mùa, địa phương đã thiếu lương
thực nhưng lại rất khó để thừa nhận những con số sản lượng cao trước đó là giả mạo.
Phía trước đã báo cáo sản lượng cao, phía sau nước đột ngột nói không có lương thực thì đồng nghĩa với
việc thừa nhận dữ liệu trước đó là giả. Cấp trên đã tuyên bố đại nhảy vọt, đạt được thành tích,
cấp dưới lại đi báo cáo một lượng lớn nông dân bị chết đói thì cũng có thể coi là đang phủ nhận phong trào.
Tình hình thực tế ngày càng khó được truyền đạt lên trên, khoảng cách giữa câu chuyện tuyên truyền và cuộc sống
của người dân cũng càng ngày xa vời vợi. Tại hội nghị Lư Sơn năm 1959, ông Bảnh Đức Hoài đã đưa ra
những lời chỉ trích đối với thói khoa trường và những khó khăn thực tế do đại nhảy vọt gây ra.
Kết quả là Bảnh Đức Hoài bị mang ra đấu tố, phong trào chống Quynh Hiếu sau đó được mở rộng.
Mãi cho đến năm 1981, trong nghị quyết về một số vấn đề lịch sử của Đảng từ khi kiến quốc,
Đảng Gọc sản Trung Quốc mới nhận định rằng việc đấu tố Bảnh Đức Hoài là sai lầm và thừa nhận những sai lầm
của đại nhảy vọt và chống Quynh Hiếu là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra tình cảnh khó khăn nghiêm trọng
từ năm 1959 đến năm 1961. Những người nông dân bình thường lại càng không có khả năng để thay đổi tất cả những điều này.
Thu hoạch được bao nhiêu lương thực bị trương thu bao nhiêu, cuối cùng có thể để lại cho gia đình bao nhiêu,
đều không phải là do chính mình có thể quyết định được.
Năm đó, một số địa phương còn từng sử dụng những cái tên như căn bệnh số 2, nhị hảo bệnh,
để gọi các triệu chứng suy dinh dưỡng nghiêm trọng và phù thủng.
Con người đã đói đến mức cơ thể bị phù thủng, điều đáng lẽ ra phải được giải quyết ưu tiên hàng đầu là có cái để ăn hay không,
có thể tiếp tục sống được hay không.
Nhưng trong cái lối tự sự chính trị lúc bấy giờ, cái đói lại bị thay bằng một cái tên khác để lấp liếm đi.
Vấn đề sinh tồn cần được giải quyết, cuối cùng lại biến thành một vấn đề chính trị cần được che đậy.
Từ những sai lầm trong chính sách, đến những thông tin bị bóp méo, rồi lại dùng một hệ thống ngôn từ khác để soa dịu tình hình thảm họa.
Những điều này rất khó để có thể giải thích bằng 4 chữ, thiên tai tự nhiên.
Nếu đẩy bánh xe thời gian lùi về trước, người Trung Quốc cổ đại khi đối mặt với hạn hán, lũ lụt và nạn trâu trấu đã phát triển một bộ phương pháp cứu đói của riêng mình.
Thời cổ đại không có dự báo thời tiết hiện đại, không có đường sắt và đường bộ, một trận đại hạn, lũ lụt hoặc nạn trâu trấu là có thể khiến một vùng rộng lớn mất trắng.
Vì vậy, các triều đại đã dần dần hình thành nên cái gọi là hoang chính, đó là chính sách cứu đói, bao gồm báo cáo thiên tai, khảo sát thiên tai, mở kho phát trần lương thực, bán lương thực bình ổn giá, miễn giảm sưu thuế.
Triều đại Nhà Thanh cũng đã thiết lập một hệ thống kho lương thực công cộng vô cùng đồ sộ và phức tạp.
Từ năm 1743 đến 1744, khu vực Trực Lệ từng xảy ra một trận đại hạn hán nghiêm trọng bao trùm vùng Hà Bắc, Bắc Kinh, Thiên Tân ngày nay.
Nhà sử học Pyrrha Etienne Will đã có những nghiên cứu lâu dài về hoang chính và hệ thống cứu tế lương thực quốc gia của Triều đại Nhà Thanh.
Đồng thời, khu vực chịu thiên tai có thể được miễn giảm sưu thuế, lương thực từ các khu vực khác cũng sẽ được điều động đến vùng thiên tai.
Nói cách khác, việc cứu đói thời bấy giờ không chỉ đơn thuần là đợi đến khi nạn nhân đói lả rồi mới phát một chút lương thực, mà là xử lý đồng thời nhiều vấn đề.
Những người không có lương thực làm sao để sống sót? Giá lương thực trên thị trường làm sao để kìm hãm? Những người dân chịu thiên tai liệu có còn khả năng gánh vác mức sưu thuế như cũ hay không?
Lương thực ở vùng thiên tai, không đủ thì sẽ điều động từ đâu đến. Tất nhiên, hệ thống này không phải lúc nào cũng phát huy hiệu quả.
Sự kém cỏi của hệ thống quan liêu, việc quản lý kho lương và nạn tham nhũng ở địa phương cũng luôn là những vấn đề nan dài. Nhưng hướng tư duy cơ bản của nó rất rõ ràng.
Người dân gặp phải thiên tai, trước tiên là triều đình phải có trách nhiệm xử lý. Nạn nhân không có lương thực thì phải tìm cách đưa lương thực vào, chứ không phải để nạn nhân tự mình gánh chịu mọi thứ.
Đem chính sách cứu đói truyền thống như vậy, đặt vào trong bối cảnh của nạn đói từ năm 1959 đến 1961, sự tương phản là vô cùng rõ rệt.
Đến thế kỷ 20, Trung Quốc đã sở hữu đường sắt, hệ thống hành chính hiện đại và khả năng điều phối lương thực trên toàn quốc, những nguồn lực mà quốc gia có thể huy động vượt xa thời kỳ càn lòng.
Thế nhưng, ở một số vùng đông thôn đã xuất hiện tình trạng đói kém nghiêm trọng, lương thực vẫn bị thu mua, nông dân bị hạn chế bỏ sứ đi chạy nạn,
trong khi tình hình thảm họa thực sự lại khó được báo cáo lên trên vì áp lực chính trị.
Hơn 200 năm trước, một vương chiều với hệ thống giao thông và liên lạc vô cùng lạc hậu khi đối mặt với đại hạn hán thì đã hình thành nên những biện pháp cứu trợ thiên tai như điều động lương thực, phát trẩn cho dân, giảm thuế.
Đến thế kỷ 20, khi đã sở hữu đường sắt và hệ thống hành chính hiện đại, tại sao lại có thể xảy ra tình trạng tử vong bất thường với quy mô lớn đến vậy?
Câu hỏi này rõ ràng không thể chỉ phó mặt cho thời tiết trả lời.
Sự nhìn nhận về thiên tai đói kém trong quan hóa truyền thống Trung Quốc không chỉ là làm thế nào để cứu dân mà còn bao gồm cả việc người nắm quyền nên đối mặt với thảm họa và hiện tượng dị thường như thế nào.
Người xưa nói về sự giao cảm giữa trời và người, thiên nhân cảm ứng, quân vương thủ mệnh từ trời, do đó vừa phải kính trời cũng vừa phải trọng dân.
Thảm họa và hiện tượng dị thường xảy ra liên miên, cuộc sống của người dân lầm than trong quan niệm truyền thống không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà còn có thể được coi là sự cảnh báo đối với việc thi hành chính sự và phẩm hạnh.
Quân vương nắm giữ quyền lực cao nhất, đồng thời cũng phải gánh vác trách nhiệm lớn nhất.
Vào thời Hán Văn Đế, từng xảy ra tình trạng mất mùa liên tiếp trong vài năm, lại gặp thêm lũ lụt, hạn hán và dịch bệnh.
Trong chiếu thư của mình, ông đã không vội vàng đổ lỗi cho người dân, mà lại tự vấn, liệu có phải là do việc cai trị của chấm có điều gì thiếu sót và hành vi có gì sai trái chăng.
Sách Tây Hán Hội Yếu còn ghi chép lại rằng, khi Hán Văn Đế gặp phải đại hạn hán và nạn châu chấu, ông đã từng cắt giảm chi tiêu trong cung đình, tinh giảm số lượng quan chức và mở kho lương để trẩn tế cho dân.
Đây không chỉ đơn thuần là một vị hoàng đế nói vài lời tự trách. Trong quan điểm trị quốc truyền thống của Trung Quốc, những thảm họa, hiện tượng dị thường vốn đã gắn liền với việc tu dưỡng đạo đức và lòng yêu dân.
Kính trời không chỉ là việc cúng bái thần Phật mà còn bao gồm cả việc xem xét trong thực tế có làm tổn hại đến người dân hay không.
Kinh Thượng Thư có viết, trời nhìn từ chỗ dân ta nhìn, trời nghe từ chỗ dân ta nghe, thiên thị tự ngã dân thị, thiên thính tự ngã dân thính.
Gắn liền với việc tự xét lại mình, còn có nạp rán, lắng nghe lời can rán trong nền chính trị truyền thống Trung Quốc. Hoàng đế cũng có thể mắc sai lầm, do đó cần phải có người chỉ ra những vấn đề đó.
Thời cổ đại Trung Quốc có thiết lập chức quan rán thị, rán quan. Trong lịch sử cũng lưu lại không ít câu chuyện về việc các vị đại thần, bất chấp việc xúc phạm uy nhan của nhà vua để can rán thẳng thừng.
Một quân vương liệu có thể dung nạp được những ý kiến trái chiều, có nghe lò tai những lời nghịch nhĩ hay không?
Xưa này cũng luôn là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá xem vị vua đó có anh minh hay không, có thể nghe lò tai những âm thanh khác biệt hay không.
Bề ngoài có vẻ như chỉ là một thái độ chính trị, nhưng khi đối mặt với thiên tai đói kém hoặc những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách,
nó lại có thể liên quan trực tiếp đến việc tình hình thực tế có thể được truyền đạt đến người đưa ra quyết định cao nhất hay không.
Ngày nay, những điều kiện kỹ thuật về truyền tải thông tin và cứu trợ thiên tai từ lâu đã không còn là một khái niệm có thể so sánh được nữa.
Trung Quốc sở hữu vệ tinh khí tượng, radar, liên lạc di động, các hồ chứa nước khổng lồ, đường sát cao tốc cũng như một hệ thống hành chính bao phủ xuống tận cấp cơ sở.
Những nguồn lực mà một chính phủ hiện đại có thể huy động được khi đối mặt với thiên tai là điều mà các phương triều cổ đại không thể nào tưởng tượng nổi.
Kỹ thuật và năng lực hành chính càng mạnh thì yêu cầu của công chúng đối với việc cứu trợ thiên tai, công khai thông tin và truy cứu trách nhiệm đương nhiên cũng sẽ ngày càng khắt khe hơn.
Mưa bão là điều không thể ngăn cản, nhưng sau khi phát đi cảnh báo, liệu đã kịp thời sơ tán người dân hay chưa thì có thể truy vấn, lũ lụt chưa chắc đã có thể cản được hoàn toàn.
Nhưng trước khi hồ chứa xả lũ, liệu đã thông báo đầy đủ cho vùng Hạ Liêu hay chưa thì cũng cần phải có câu trả lời.
Còn về những thảm họa, hiện tượng dị thường xảy ra liên miên ở Trung Quốc trong những năm gần đây liệu có phải là một sự cảnh báo nào đó từ ông trời hay không, mỗi người sẽ có một cách hiểu khác nhau.
Văn hóa truyền thống Trung Quốc tin vào sự tương ứng giữa trời và người, đồng thời cũng nhấn mạnh việc kính trời thuận thiên mạnh.
Quan điểm lấy dân làm gốc mang tính truyền thống này, khi đặt vào trong các chính sách kinh tế ngày nay cũng đáng để suy ngẫm tương tự.
Tiêu dùng miệt mỏi thì tìm cách thúc đẩy tiêu dùng, dân số sinh rụt giảm thì khuyến khích người trẻ sinh đè, bắt động sàn ảm đạm thì mong muốn thị trường nhà đất khởi sắc trở lại.
Nhưng nếu những áp lực về việc làm, thu nhập, nhà ở và nuôi dạy con cái không thực sự được xoa dịu thì chỉ dựa và chỉ thị từ trung ương đảng rất khó có thể khiến một gia đình mạnh dạn chi tiền, mạnh dạn mua nhà, mạnh dạn sinh con trở lại.
Kinh Thượng Thư nói, dân duy bang bản, bản cố bang ninh. Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên.
Trung Quốc từng là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sở hữu nguồn của cải, khoa học, công nghệ và năng lực hành chính mà các vương triều cổ đại không thể nào tưởng tượng nổi.
Sự phát triển trong vài thập kỷ qua cũng đã từng khiến rất nhiều người tin rằng thu nhập sẽ ngày càng cao, nhà cửa sẽ ngày càng có giá, ngày mai sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm nay.
Nhưng thế nào mới thật sự là tốt? Thu nhập tăng, cuộc sống được cải thiện đương nhiên là chuyện tốt. Nhưng để một xã hội ổn định lâu dài thì chỉ có những thứ này vẫn là chưa đủ.
Văn hóa truyền thống Trung Quốc đề cao việc kính trời, trọng đức, yêu dân. Những con số kinh tế có thể tăng trưởng trở lại.
Nhưng những đạo đức và sự thiện lương giữa con người với con người mà một xã hội đã đánh mất cũng cần phải được tìm lại.
Cuộc sống khấm khá lên, lòng người cũng hướng thiện hơn. Một cái tốt như vậy mới thật sự là dài lâu.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi chương trình của chúng tôi. Những gọi ý của quý vị sẽ giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mỗi ngày.
Và các bạn cũng đừng quên theo dõi Khán Trung Quốc trên 2 nền tảng Youtube và Kanching World.
Anh Hồng và Khán Trung Quốc xin chân thành cảm ơn và hẹn gặp lại!
