ĐẾ PHẠM-LỜI MỞ ĐẦU

forever
forever
30 Lượt xem video·27 thg 8, 2026

Tháng Giêng năm Trinh Quán thứ 22 (năm 648 Công nguyên), trong tiếng chúc thọ
của thần dân bốn bể, Đường Thái Tông với mưu lược sâu xa đã soạn viết “Đế Phạm”
gồm 12 thiên với hơn 4000 chữ. Ông đã đem kinh nghiệm chinh chiến cả đời trên
lưng ngựa và đạo trị quốc dốc lòng gây dựng thái bình của mình làm lời giới huấn
dành cho Thái tử Lý Trị. Năm sau, Thái Tông từ trần.

“Đế Phạm” vốn được cất giữ bí mật trong cung, ít người biết tới. “Tân Đường Thư” và “Cựu
Đường Thư” tuy có ghi chép nhưng chỉ nêu nội dung gồm 4 quyển, văn bản chi tiết không rõ. “Tư Trị Thông Giám” cũng không thấy toàn văn. “Đế Phạm” bị thất lạc vào đời Tống, đại đa số nội dung không được người đời biết đến. May mắn thay, vào năm Thái Định thứ hai đời Nguyên (năm 1325), cuốn “Đế Phạm” tình cờ được tìm thấy tại Vân Nam, tái hiện với đời. Thời Càn Long nhà Thanh, khi biên soạn “Tứ Khố Toàn Thư”, đại nho Kỷ Quân cùng những người khác đã tham chiếu chú thích của người đời Nguyên, khảo chứng sai sót, soạn lại lời chú thích đính kèm nguyên văn, dâng lên Thanh Cao Tông Hoằng Lịch ngự lãm. Sau khi được phê chuẩn, sách được đưa vào “Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư - Tử Bộ Nhất”. Ngoài ra, vào triều Thanh lại có bản Khương Văn của Nhật Bản truyền ngược về Trung Quốc.
Lời mở đầu: Trẫm nghe đại đức gọi là Sinh (sinh thành), đại bảo là ngôi vị. Phân biệt trên dưới,
thiết lập quân thần là để vỗ về nuôi dưỡng bách tính, giáo hóa muôn loài.
Nếu không phải bậc hết sức sáng suốt, đủ cả văn võ, được trời cao đoái hoài trao mệnh, vận số tại thân, thì sao có thể nắm giữ bản đồ linh thiêng, đảm đương ngôi báu? Thế nên sông Thúy Khuê dâng điềm lành cho đức của Đường Nghiêu, ngọc Nguyên Khuê ban thưởng cho công của Hạ Vũ; chữ đỏ hiện vận may, nhà Chu mở ra cơ đồ 800 năm; thần linh báo điềm lành, nhà Hán mở nền móng kế thừa vững chắc.
Từ đó mà xem, nghiệp đế vương không phải là thứ có thể dùng sức mà tranh được. Khi xưa cuối đời Tùy lung lay, trong nước tan rã. Tiên hoàng với tư chất thần võ, gặp hội kinh luân, chém rắn thiêng định vương nghiệp, mở gương vàng nắm trục trời; nhưng bấy giờ khí núi còn âm u, nhật nguyệt mờ tối, sài lang còn ngăn trở, bụi phong trần chưa yên. Trẫm ở tuổi đôi mươi, ôm chí khảng khái, nghĩ việc dẹp đại nạn để cứu thương sinh. Thân mặc giáp trụ, xông pha tên đạn, tối đối trận ngư lân, sáng lâm vòng hạc dực, quân địch không kẻ nào lớn mà không bị phá, binh không nơi nào kiên cố mà không bị tan, diệt trừ cá kình, làm sạch bốn biển, quét sạch dư nghiệt, bình định tám phương; nhận phúc lành từ dòng dõi nhà vua, lên ngôi tối cao, nối nghiệp vĩnh cửu của tiền nhân, kế thừa nền móng hưng thịnh của ngôi báu. Lo sợ dè dặt, như đứng bên vực thẳm, như điều khiển xe mục; ngày càng thận trọng,nghĩ đến việc bắt đầu tốt đẹp để có kết thúc tốt lành.
Con tuổi còn nhỏ, từ ái chưa tròn, dạy dỗ đạo nghĩa còn nhiều thiếu sót, dạy bảo chưa ngoan, được cất nhắc lên từ hàng phiên vương, giao cho trọng trách làm Thái tử, chưa phân biệt được lễ tiết quân thần, không biết nỗi gian nan của việc đồng áng, mỗi khi nghĩ tới đây trẫm lại lo âu, quên ăn bỏ ngủ.
Từ thời Hiên Viên, Thiếu Hạo trở xuống cho đến đời Chu, Tùy, những vị quân chủ kinh thiên vĩ địa, những bậc chủ tể dựng nước nối nghiệp,hưng vong trị loạn, đạo lý ấy sáng tỏ thay; cho nên trẫm noi gương tích cũ, đọc rộng sử sách, tập hợp những lời trọng yếu, coi đó là lời răn bảo gần gũi vậy!