ĐẾ PHẠM -TRỌN BỘ

forever
805 Người theo dõi
259 Lượt xem video·4 thg 9, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThe *Đế Phạm* (Imperial Mirror), written by Emperor Taizong of the Tang Dynasty in 648 AD, serves as a comprehensive guide on governance for his successor. It emphasizes that a stable empire relies on the ruler's virtue, the strategic recruitment of talent, the acceptance of critical feedback, and a harmonious balance between civil administration and military strength.
Mục lục
Chương 1. Dẫn nhập
Chương 2. Lợi mở đầu
Chương 3. Quân thể
Chương 4. Kiến thân
Chương 5. Cầu hiền
Dường 6. Thẩm quan
Chương 7. Nạp dáng
Chương 8. Khứ xàm
Chương 9. Giới doanh
Chương 10. Sùng kiềm
Chương 11. Thưởng phạt
Chương 12. Vụ nông
Chương 13. Duyệt võ
Chương 14. Sùng văn
Chương 15. Lợi kết
Chương 1. Dẫn nhập
Tháng giềng, nằm trên quán thứ 22, năm 648 Công Nguyên, trong tiếng chúc thọ của thần dân bốn bệ.
Đường Thái Tông với mưu lược sâu xa, đã soạn viết Đế Phạm, gồm 12 thiên, với hơn 4.000 chữ.
Ông đã đem kinh nghiệm chinh chiến cả đời trên lưng ngựa, và đạo trị quốc giốc lộng gây dựng Thái Bình của mình, làm lời giới huấn dành cho Thái tử Lý Trị.
Năm sau, Thái Tông tự trần.
Đế Phạm vốn được cất giữ bí mật trong cung, ít người biết tới.
Tân Đường Thư và Cựu Đường Thư, tùy có ghi chép, nhưng chỉ nêu nội dung gồm 4 quyển, văn bản chi tiết không rõ, tư trị thông giám, cũng không thấy toàn văn.
Đế Phạm bị thất lạc vào đời tống, đại đa số nội dung.
Không được người đời biết đến, may mắn thay, vào năm Thái Định thứ 2 đời nguyên, năm 1325, cuốn Đế Phạm tình cờ được tìm thấy tại Vân Nam, tái hiện với đời.
Thời Cạn Long nhà Thanh, khi biên soạn Tứ Khố Toàn Thư, Đại Nho Kỵ Quân, cùng những người khác đã tham chiếu chú thích của người đời nguyên,
khảo chứng sai sót, soạn lại lời chú thích đính kèm nguyên văn, dân lên thanh cao tông hoàng lịch ngự lạm.
Sau khi được phê chuẩn, sách được đưa vào khâm định Tứ Khố Toàn Thư, tử bộ nhất.
Ngoài ra, vào triều thanh lại có bản khương văn của Nhật Bản truyền ngược về Trung Quốc.
Chương 2 Lời Mở Đầu
Lời Mở Đầu, chẳng nghe đại đức gọi là sinh, sinh thành, đại bảo là ngôi vị.
Phân biệt trên dưới, thiết lập quân thần là để vỗ vệ nuôi dưỡng bách tính, giáo hóa muôn loại.
Nếu không phải bật hết sức sáng suốt, đủ cả văn võ, được trời cao đoái hoài trao mệnh, vận số tại thân, thì sao có thể nắm?
Giữ bản độ linh thiên, đảm đường ngôi báo.
Báo đi thể nền, sông Thúy Khuê dân điềm lành cho đức của đường Nhiêu, Ngọc Nguyên Khuê ban thưởng cho công của Hạ Vũ.
Chữ đó hiện vẫn may, nhà chú mở ra cơ độ 800 năm, thần linh báo điềm lành, nhà hán mở nền móng kế thừa vững chắc.
Từ đó mà tên, nghiệp đế vương, không phải là thứ có thể dùng sức mà tranh được.
Khi xưa, cuối đời tùy lung lây, trong nước tan rã, tiên hoàng với tư chất thần võ, gặp hội kinh luân, chém rắn thiên định vương.
Nghiệp, mở gương vạn nắm trục trời, nhưng bấy giờ khí núi còn âm u, nhật nguyệt mờ tối, xài lan còn ngăn trở, bụi phong trần chưa yên.
Trầm ở tuổi đôi mươi, ôm trí khẳng khái, nghĩ việc dẹp đại nạn để cứu thương sinh.
Thân mặt giáp trụ, sông pha tên đạn, tối đối trận ngư lân, sáng lâm vòng hạt giật.
Quân địch, không kẻ nào lớn mà không bị phá, bình không nơi nào kiên cố mà không bị tan.
Diệt trừ cá kình, làm sạch bốn biển, quét sạch dư nghiệt, bình định tám phương, nhận phúc lành.
Từ giọng giỏi nhà vua, lên ngồi tối cao, nối nghiệp bình cửu của tiện nhân, kế thừa nền móng hưng thịnh của ngôi báo.
Lo sợ dè vặt, như đứng bên vực thẩm, như điều khiển xe mục.
Ngày càng thận trọng, nghĩ đến việc bắt đầu tốt đẹp, để có kết thúc tốt lành.
Con tuổi còn nhỏ, từ ái chưa tròn, dạy dỗ đạo nghĩa, còn nhiều thiếu sót, dạy bảo chưa ngoan.
Được cất nhắc lên từ hạng viên vương, giao cho trọng trách làm thái tử, chưa phân biệt được lễ tiết quân thần.
Không biết nỗi gian nang của việc đồng án, mỗi khi nghĩ tới đây, chậm lại lo âu, quên ăn bỏ ngủ.
Từ thời hiên viên, thiếu hạo trở xuống cho đến đời chú, tùy những vị quân chủ kinh thiên vĩ địa.
Những bậc chủ tễ dựng nước nối nghiệp, hưng vong trị loạn, đạo lý ấy sáng tỏ thêm.
Cho nên chậm nói gương tích cũ, đọc rộng sử sách, tập hợp những lời trọng yếu, coi đó là lời trang bảo gần gũi vậy.
Từ khi đường Thái Tông lập thái tử, thể gặp vật gì là đều mượn đó để giáo hướng.
Tranh ngộ vật giáo trữ trong đế giám đồ thuyết thời minh.
Trường 3. Quân thể
Quân thể, người dân là ưu tiên của quốc gia, quốc gia là cái gốc của quân vương.
Thể thống của vật làm chủ, như núi cao sừng sửng mà không lây đồng, như nhật nguyệt sáng trong mà soi chiếu khắp nơi.
Đó là nơi muôn dân chim ngưỡng, là nơi thiên hạ hướng về.
Quân thể, người dân là ưu tiên của quốc gia, quốc gia là cái gốc của quân vương.
Thể thống của vật làm chủ, như núi cao sừng sửng mà không lây đồng, như nhật nguyệt sáng trong mà soi chiếu khắp nơi.
Đó là nơi muôn dân chim ngưỡng, là nơi thiên hạ hướng về.
Hoàng dung rộng lớn, ý chí đủ để bao dung muôn vật, công bằng chính trực, tấm lòng đủ để quyết đoán việc đời, không có uy đức thì.
Không thể khiến người phương xa quy phục, không có lòng từ sâu dày, thì không thể thu phục lòng người.
Vỗ về cửu tộc, bằng lòng nhân, tiếp đải đại thần, bằng lễ tiếc.
Thờ phùng, tổ tiên nghĩ đến đạo hiếu, ở ngôi cao, nghĩ đến sự khiêm cung, dốc hết thân mình, cần lao việc nước, để thực hành đức.
Nghĩa, đó chính là thể thống, cách thức và thứ tự phải tôn trọng, của vật quân vương vậy.
Bản vẽ đời thanh của Trần Sĩ Quang, trọng thánh đế minh, vương thiện đoan lục.
Quyển đường Thái Tông Nhị, bảo tàng, cung điện quốc gia, Đài Bắc lưu giữ.
Dường 4, Kiến Thân
Kiến Thân, đạo trị thiên hạ, bao la rộng lớn, giữ gìn ngôi báu là trọng trách cực điểm.
Đạo lớn, không thể một người độc đoán cai quản, nên phải cùng người khác cộng sự.
Trọng trách, không thể một mình gánh vác, nên phải cùng người khác trông coi.
Vì vậy, việc phong tước cho thân thích làm hàng rào bảo vệ vương thất, lúc an nguy, cùng chung sức, lúc thịnh suy cùng một lòng, ta gần nâng đỡ nhau.
Người thân người sơ đều được trọng dụng, sẽ ngăn chặn việc thôn tính, thâu tóm, sát nhập, không phát sinh loạn nghịch.
Xưa nhà chu hưng khởi, chia cắt núi sông, phong vương cho tông tộc.
Trong có các nước tấn, trịnh phụ tá, ngoài có các nước lỗ.
Về phòng thủ, nền vận nước dài lâu, trải hơn mấy trăm năm.
Cuối đời tần, bỏ kế sách của thuần vu, nghe theo mưu lý tư, không còn thân thiết với người thân, chỉ tin vào trí tuệ của cá nhân mình.
Lúc nghiêng ngã, không biết dựa vào đâu, chỉ hai đời đã mất nước.
Đó chẳng phải là vì cạnh lá không xôm xuê, thì gốc rễ khó mà đứng vững.
Tay chân đã mất thì tâm úc, người thân tính không còn nơi nương tựa đó sẵn.
Nhà hán mới định quan trung, rút kinh nghiệm thất sách của nhà tần đã mất.
Phong tước rộng rãi cho người thân, vượt qua chế độ cổ xưa.
Nước lớn lấn át cả kinh đô, nước nhỏ thì nối quận liền châu.
Cạnh lớn thì gốc nguy, đuôi lớn thì khó vẫy.
Bảy nước chịu tội hành hình, đó đều là do đất rộng binh mạnh, tích tụ thế lực mà rạc.
Nguy võ đế, tào tháo, khởi nghiệp, không nhìn xa trong rộng, còn em không có lấy một hộ được vâng.
Tông thất, không có đất cắm dùi, ngoài không có thành lũy che chở.
Trồng không có bạn thạch làm nền, cuối cùng ngôi báu rơi vào tay người khác, xã tắc mất về tay họ khác.
Bao điều này được tục ngữ nói, dòng chảy cạn thì suối nguồn khô, cạnh lá rụng thì gốc rễ mục, là ý này vậy.
Phân phong quá mạnh thì có hòa cắn rốn, há miệng tự cắn rốn mình, ý là tự mình cắn mình, tự mình hại mình, hối hận không kịp.
Phân phong quá yếu thì không có nền móng vững chắc.
Do đó mà nói, tốt nhất là phong cho nhiều tông thân, nhưng cấp ít thực lực, để kẻ nặng người nhẹ, kiềm chế lẫn nhau, cùng chung niềm vui nổi lo.
Thì trên không có lòng sai kỳ, nghi kỳ, hiềm nghi, nghi ngờ, ngờ vực, dưới không có nổi lo bị tâm phạm hoàn ức.
Đây là điểm cần soi xét khi phong kiến.
Hai điều này là nền tảng an quốc, đức của vua rộng lớn, để thông đạt uyên bách.
Thiết lập pháp độ giáo hóa, dùng thuật để cảm hóa người, ứng biến hợp thời, dùng đạo để chế ngự vạn vật.
Thuật lấy sự huyền diệu ẩn kính làm hay, đạo lấy sự quan minh rộng lớn làm công lao.
Lấy bầu trời bao la làm tâm, thì dân ngưỡng vọng, mà không thể đo lường.
Lấy đất dày để đo lường, thì dân nói theo, mà không thấy giới hạn.
Mình mong khó gọi tên, thật xứng với sự hoành viễn.
Lại phải hòa thuận cử tộc, vua phóng huân, nghiêu, lưu danh thơm phía trước.
Hòa hợp bằng hiếu nghĩa, vua trọng hoa, thuấn, để lại danh tiếng cho đời sau.
Đừng lấy sự gian tà, làm hổng chính nghĩa.
Đừng để người ngoài làm ly dáng tình thân.
Lấy đất mà tên Tết, thì quốc gia thái bình, cốt nhục.
Không lo ngại, thật tốt đẹp thay.
Một phần tranh Vị Tân Thủy Điếu Độ của Đái Tiến Đời Minh.
Miêu tả cảnh Chùa Văn Vương đến thăm Khương Tử Nha, đang ẩn cư, câu cá bên bến sông Vị.
Vị trợ giúp quốc gia nhất định phải cậy nhờ bật trung lương.
Bổ nhiệm sử dụng được đúng người, thì thiên hạ tự khắc được trị yên.
Thế nên, vua nghiêu lệnh cho Tứ Nhạc, vua thuấn cử ra Bác Nguyên.
Làm sáng tỏ đạo khâm minh, đạo trị quốc.
Mạng tính tôn kính và sáng suốt.
Ghệ sĩ ở đời, hiện nhân lập thân, không ai không tết cánh dấu vậy.
Giờ đợi hội ngộ phong vân, ôm tài lạ.
Chứ điều gì, mong ngóng thời cơ gặp gỡ.
Thế nên, bật Minh Quân tìm người tài nghệ khắp nơi.
Hỏi rộng bật Anh Hiền, tìm kiếm trốn hang cùng ngõ hẻm.
Không vì địa vị thấp mà không dùng.
Không vì từng chịu nhục mà không trọng.
Từ kia, y doãn là người hầu ở hữu sinh.
Lá vọng là lão hẹn bên sông vị.
Vì ngô, quan trọng, khốn đốn trong vòng tiền.
Xích, hàng tính khốn khổ lúc trốn chạy.
Thành thang, không vì y doãn là kẻ vác nồi vác chảo.
Đầu bếp mà tấu hổ.
Cơ văn vương, không vì lá vọng từng làm nghề giết mộ.
Câu cá mà nhục nhà.
Cuối cùng, họ đều có thể dân kế sách ở cảnh hào.
Mở mang làm rạng rỡ triệu ân.
Cầm cờ ở mục giả.
Làm hương thịnh nhà chung.
Dọc nước tệ thành tựu.
Được đại nghiệp sửa trị muôn quân.
Thật sự nhờ vào mưu lược của trọng cụ.
Quan trọng, nhà háng lấy bốn phương sáu cõi làm nhà.
Ấy là dựa vào kế sách của hoài âm hầu.
Hàng tính cho nên, thuyền bè vượt biển.
Ác nhờ công của mái chèo.
Thiên ngà, bay tận mây xanh.
Ác nhờ vào đôi cánh.
Cho nên, lúc tìm kiếm thì nhọc nhằn.
Mà khi giao việc thì nhàng hà.
Ngọc quý chiếu sánh 12 cỗ xe.
Vàng trọng.
Chất chứa hàng ngàn vàng.
Sao sánh bằng sự hương thịnh.
Khi có nhiều kẻ sĩ.
Cái sức nặng của một hiền nhân.
Đó chính là, cái quý của việc cầu hiền vậy.
Thái tổng, tin tưởng quan lại.
Thông tình đạt lý, không quá khắc khe.
Tạo nên cục diện quân thần.
Tranh minh hòa, trong thánh đế minh.
Vương thiện đoàn lục.
Quyển đường thái tông bác.
Đại kỷ nguyên.
Dương xấu, thẩm quan.
Việc đặt ra trăm quan.
Phân chia chức phận là để trình bày.
Làm sáng tỏ giáo hóa.
Tuyền dường đức phong.
Lan tỏa phong tục cho dân.
Cho nên, vật minh chủ dùng người.
Cũng giống như thợ giỏi dùng gỗ.
Gỗ thẳng thì dùng làm càng xe.
Gỗ công thì dùng làm bánh xe.
Gỗ dài thì dùng làm cột kẹo.
Gỗ ngắn thì dùng làm đấu gốc.
Bất luận công thẳng dài ngắn.
Mỗi loại đều có chỗ dùng.
Minh chủ nhầm, dùng nhân tài.
Cũng lại như thế.
Người trí thì lấy mưu lực.
Kẻ ngu thì lấy sức lực.
Người dũng thì dùng cái uy.
Kẻ nhát thì dùng sự cẩn trọng.
Bất luận là trí, ngu, dũng, nhát.
Thì đều có thể dùng.
Cho nên, thợ giỏi thì không bỏ phí gỗ.
Bất minh chủ thì không bỏ phí người.
Không vì một điều ác
mà quên đi cái thiện của họ.
Đừng vì một vết nhơ nhỏ
mà che lấp công lao của họ.
Chia sẻ chính sự.
Vân bộ chức năng phát huy hết năng lực của họ.
Tuy nhiên,
cái đỉnh lớn đủ chứa cả một con bò
thì không nên dùng để hầm gà.
Con mèo chỉ biết bắt chuột
thì không bảo nó đi đánh nhau với mạnh thú.
Đồ dùng chỉ chứa được 30 cân
thì không thể dung nạp
mà nếu chỉ chứa vài đấu thốc
thì làm sao đây?
Tại sao thế?
Vì cái lớn không thể đo bằng cái nhỏ.
Cái nhẹ không thể dùng cho cái nặng.
Ngày nay, trí tuệ con người có nông sâu.
Năng lực có lớn nhỏ.
Con người kiêm trăm thứ việc vẫn thấy ít.
Con người chỉ lo một việc đã
thấy nhiều.
Với kẻ tài hèn, không thể giao trọng trách.
Với người năng lực nhỏ,
không thể phó thác chức vụ lớn.
Nếu giao nhiệm vụ cho quan viên
đều xứng đáng với chức vụ,
không cần nhọc công mà nước nhà
sẽ trị an.
Đó gọi là việc bố trí quan chức hỏa đáng vậy.
Hai điều này là gốc rễ
của an và loạn.
Lập quốc trị dân phải dựa vào
sự hợp đức của các đại thần đắc lực.
Truyền đạo giáo hóa phong tục
phải gửi gắm vào Bật Minh Hiền.
Muôn ngàn vị sao dân trên trời
là để giúp tăng thêm ánh sáng
cho trăng đêm.
Trăm sông cuộn chảy
để góp thêm chiều sâu cho biển cả.
Biển rộng trăng sáng
vẫn phải nhờ các vật khác
mà trở nên vĩ đại.
Bật quân vương thống trị thiên hạ
điều hành vạn vật
vẫn dụng bốn mùa.
Nếu chỉ dùng cái tâm nhỏ hẹp của mình
để lo liệu việc trong cửu châu
không nhờ lực lượng của đại chúng
thì sao có thể thành công được.
Cho nên nhất định phải làm rõ chức trách
têm xét người hiền, lựa chọn tài năng
phân chia bổng lọc.
Dùng được đúng người
thì Đức Phong thịnh hành giáo hóa rộng khắp
dùng sai người thì giáo hóa
suy đổi làm hại nhân luôn.
Cho nên nói biết người
để dùng cho đúng là rất khó
ngay cả vua Nhiêu cũng thấy khó khăn, thất bại.
Vô cùng, thận trọng vậy.
Tranh chủ Minh Thần Trực
trong Đấy Giám Độ Thuyết
miêu tả đường Thái Tông
nghe lời chúc mừng của trưởng tôn Hoàng Hậu
mà đã bình tâm thông suốt
vui vẻ trở lại, thà cho nguy trưng
đã trực ngôn, công khai vạch
trần lỗi của vua.
Chương 7 Nạp Gián
Bật vương giả ở ngôi cao
nhìn xa, có thể bị ngăn trở
mà không rõ, e rằng có lỗi
mà không được nghe.
Sợ có khuyết, thiếu sót, mà không có ai
bù đắp, nên mới thiết đào thù mộc
thiết đặt trống can gián
và treo bản gỗ nhận lời hiến kế
hay chê trách, mong được mưu kế can gián
Lời nói mà đúng, dù là của kẻ
tôi tớ hay người tiều tu, cũng không
thể bỏ qua. Lời nói mà sai
dù là của vương hậu canh tướng
cũng không thể dung nạc.
Nếu ý nghĩa đáng xem xét
thì không trách kỹ năng biện bác
nếu đạo lý dùng được thì không trách
văn chương. Đến như
việc chiếc hạm gãy lan can
hay hoài sơ hỏng hạt ngọc trên mũ
vừa đem treo lên để làm
điều răn đe lỗi mình, hoặc như
việc dẫn cư, kéo vạt áo
cản vua hay khước tòa, kéo
lùi chỗ ngồi, vua biểu hiện nhận
ra cái sai của bản thân. Cho nên
mới nói, người trung thì dốc
hết lòng thành, kẻ trí thì
dân hết mưu sách, bệ tôi không
giấu giếm tình hình với bệ trên
quân vương có thể thấu suốt
hết lòng kẻ dưới. Hồn
quân thì không như vậy, gặp
người can ngăn thì lấy uy thế mà
khước từ, có người khuyên bảo
thì gán tội để dồn người ta vào
đường cùng. Đại thần
vì tiếc lọc mà không can gián nữa
tiểu thần vì sợ bị giết
mà không nói nữa. Vua được
thỏa mãn tâm bạo ngược, đến mức
hoàng dâm cực độ, bị che mắt
lấp tai, mà không tự biết
cứ ngỡ đức của mình vượt tam hoàng
tài. Vua mình qua ngũ đế
cuối cùng thân chết nước mất
chẳng đáng buồn sao. Đó
chính là ác báo của việc vua
từ chối lợi can gián vậy.
Đường Thái Tông
từng đi đến dưới một cái cây, đem lòng
yêu thích nó. Vũ Văn Sĩ Cập
đi theo bèn, không ngớt lời
khen ngợi cái cây đó.
Thái Tông nghiêm mặt nói, quỷ trưng
từng khuyên ta nên tránh xa kẻ nịnh hót
ta vốn không biết kẻ nịnh hót
là ai, trong lòng nghi ngờ là
người này têm ra.
Quả không sai chút nào. Sĩ Cập
dập đầu tạ tội, bức diện
tích nịnh thần, trong đế giám
độ thuyết thời minh. Dường Tám
Những kẻ diệm pha nịnh hót
là sâu dân một nước.
Chúng suốt ngày tranh giành vinh hoa,
đua chen, quyền lợi nơi triều đình.
Dùng bộ dạng nịnh hót,
chúng ghét người trung hiện ở trên mình.
Mang chỉ hướng gian tạ,
chúng sợ sự phu quý, không đến với
mình trước tiên. Kéo bè,
kết cánh bấu víu lẫn nhau. Không trúng
sâu nào, chúng không len vào.
Cấu kết mật thiết, vẽ đạn quen thói.
Không nơi cao nào, chúng không lèo lên.
Vẽ mặt niềm nở giả tạo
để tiếp cận với bè trên.
Đoán trước ý tứ chịu theo ý,
chỉ để làm đẹp lòng vua.
Triều đình có ngàn bè tôi,
vua lỗ chiêu công mất nước,
mà vẫn chẳng tỉnh ngộ.
Đệ tuyên vương, ninh nhất thực chất
chỉ có thể dương cây cung nặng 3 thạch
lực kéo khoảng 60 đến 90 kg.
Mà bọn tả hữu lại nịnh hót
tân bốc rằng vua dương được
cung 9 thạch, tuyên vương đến chết
vẫn không hay biết.
Lấy mối quan hệ của người sơ
mà ly gián tình thân,
khiến nước tống có cái họa y lệ
hại thái tử tòa.
Vì kẻ giang tà hại người chính trực,
khiến nước sở có vụ giết quan khước quyện.
Đó chính là những vị vua
ngô mùi, tầm thường bị mê
hoặc khiến những trung thần hiếu tử
phải khóc oan.
Thể nền hòa lan cỏ huệ muốn tươi tốt,
gió thu lại làm tàn ua đi.
Quân vương muốn được sáng suốt,
kẻ dìm pha lại bịt mắt biết tay.
Đó chính là cái nguy của kẻ giang nịnh.
Hai điều này là gốc rễ
của sự nguy vong của quốc gia.
Rèn luyện bản thân,
mai dùa đức hành,
không gì quý bằng lời trung ngôn,
suy đổi đạo đức, bại hoại chính nghĩa,
không gì độc bằng sàm nịnh.
Ngày nay, dung mạo con người
ở ngay sát mắt mà còn không tự nhìn thấy được
uống hồ lệ bại trái đúng sai
vốn là vô hình.
Làm sao có thể tự mình thấu suốt?
Vì sao kẻ điểm tô dung mạo
đều biết soi mình vào gương sáng.
Còn người muốn tu dưỡng đức hành
chẳng lẽ lại không biết tìm hỏi triết nhân
bật trí tuệ.
Phải chăng bản thân ngu ngốc
sao lại mê mụi nặng đến thế?
Ây là do lời trái tai thì khó nghe,
lời thuận tai thì dễ chịu.
Thứ khó nghe kia
chính là phương thuốc đắng nơi cổ hồng.
Thứ dễ nghe này lại là rượu
độc ngọt liềm đầu môi.
Bật minh vương nghe lời can gián,
bệnh tình giấu gặp vị đắng mà tiêu tan.
Kẻ ám chủ nghe theo lời nình hót
vì ngọt mà mất mạng.
Chẳng phải đáng răng sao?
Tranh Thái Tông hoài diêu
trong đế giám độ thúy sợ Ngụy Trưng
thấy sẽ khiển trách nên giấu chim vào trong áo.
Ngụy Trưng tinh ý nhận ra
nên ông Tấu Trình mãi không thôi.
Chim ở lâu trong áo chết ngạc.
Thái Tông nhận ra sai sót của mình
từ đó không chơi chim nữa.
Chương 9 Giới Doanh
Giới Doanh
Bật làm vua nên lấy kiệm,
cần kiệm, tiết kiệm để dưỡng tính.
Lấy tỉnh, thanh tỉnh,
tỉnh lặng, tỉnh tâm để tu thân.
Kiệm thì dân không lao nhọc.
Tỉnh thì dưới không bị quấy nhiễu.
Dân lao nhọc thì oán hận nảy sinh.
Dưới bị quấy nhiễu
thì chính sự rối loạn.
Quần vương nếu ham thích kỹ nghệ
lạ lụng, âm thanh giăm vật,
chim ưng mạnh thú, du ngoạn vô độ,
không chừng mực, sang vắng không.
Đúng mùa như thế
ác sẽ phiền hà lao dịch.
Phiền hà lao dịch ác sức dân cạn kiệt.
Sức dân cạn kiệt ác việt nông tầm
bị bỏ dở.
Quần vương nếu ham thích lậu cao ao sâu,
chạm trổ điêu khắc,
trao báu vật lạ, áo gấm lùa lại.
Như thế ác thuế khóa nặng nề.
Thuế khóa nặng nề ác dân chúng
phải ly tán. Dân chúng ly tán
ác nạn đói rét nảy sinh.
Vua thời loạn thế
cực kỳ kiêu xa, kiêu căng xa hoa.
Buông thả theo dục vọng.
Đến cột gỗ tường đất
cũng được khoát lụa theo hoa.
Mà dân chúng lại không đủ tấm vải thô che thân.
Cho ngựa chán chê cọ lúa.
Mà dân chúng đến cám bả
cũng không đủ đầy.
Do đó, người và thần đều án giận.
Trên dưới bất hòa, xa cách,
vui thú chưa dứt, thì nghiên ngựa
nguy vọng đã tới.
Đó là điều cấm kỳ của thói kiêu xa vầy.
Bức triệt điện doanh cư
trong đế giám độ thuyết thời minh.
Đường Thái Tông
vì thấy tư dinh của ngụy trưng
không có chính đường, bèn hạ lệnh
định việc xây dựng tiểu điện
lấy vật liệu đó
mang đi dựng nhà cho ngụy trưng
chỉ trong 5 ngày là Tông.
Dương Mời, Sông Kiềm
Sông Kiềm
Bật thánh quân trị thế
giữ dinh đức hành bằng kiềm
tiết kiềm, cần kiềm
giàu sang rộng lớn
phải giữ bằng ước, giãn ước, ước chế
tài trí thông minh, phải giữ bằng ngu
khiêm hạ, ngu dốt
không vì thân phận tôn quý
mà kiêu mạng với người
không vì công đức sâu dày
mà tự cao tụ đại
mái trành không cắt tỉa, tà gồ không đẻo gọt
xe thuyền không tô điểm
quần áo không hòa văn
bậc thềm đất không xây cao
cơm canh không cầu kỳ
Đó không phải vì ghét sự binh hoa
hay chán mùi vị thơm ngon
mà là tự đặt mình vào cảnh thanh đạm
để thực hành tiết kiệm
Nhờ đó, phong khí thuần hậu
tập tục giãn phát, nhà nhà
đều xứng đáng được biểu dương vang thưởng
Hai điều này là ngọn nguồn của vinh nhục
xa xỉ hay tiết kiệm
là do người, ai hay nguy là tại mình
Đóng kính ngụ quan
trước cám dỗ
thì mệnh tốt sẽ dồi dào dài lâu
để ngạn hàm muốn tấn công bên trong
thì mầm hòa sẽ phát ra bên ngoài
Thế nên, cây quấy đỏ
mà bị sâu mọt, ác sẽ héo tạng
Lửa hồng mà ngậm khói
ác sẽ tắt ngấm
Qua đó mà biết được rằng
kiêu, kiêu ngạo, kiêu căng, kiêu mạng
xuất phát từ chí hướng
Không thiết chế thì chí hướng lệch lạc
Dục vọng nảy sinh từ tâm
Không ngăn chặn thì thân xác tiêu vong
Thế nên kiệt, trụ buôn thả tình dục
mà kết cuộc gặp hòa
Nhiêu, thuấn vị biết ước, ước thúc
ước chế, kềm chế
Bản thân mà phúc đức kéo dài
Chẳng phải là vấn đề này sao
Đường Thái Tổng đích thân
Xem tét hồ sơ tù nhân
Thấy những người phạm tội chết
Thì thương xót
Bạn thả cho về nhà
Hẹn đến mùa thu năm sau
Thì quay lại triệu hình
Đến tháng 9 năm sau
390 tử tù được thả năm ngoái
Đều đúng hẹn tử giác trình diện
Không một ai trốn tránh
Thái Tổng thấy vậy
Liện đại xá cho tất cả
Chương 11 Thưởng Phạt
Thưởng Phạt
Trời nuôi dưỡng vạn vật
Cũng như vua cai quản dân chúng
Trời lấy nóng lạnh làm đức
Vua lấy nhân ái làm tâm
Nóng lạnh điều hòa
Thì thời tiết không gây dịch bệnh
Gió mưa không điều độ
Thì trong năm có đói rét
Nhân ái ban xuống dưới
Thì dân không tàn tệ
Giáo lệnh mất chừng mực
Thì chính sự rối loạn
Ngăn chặn nguồn gốc gây hại
Là để dân không phạm pháp
Mở mang lợi ích căng bản
Là để dân chăm lo nghề nghiệp của mình
Hình phạt rõ ràng để thể hiện uy nghiêm
Ban thưởng minh bạch là để giáo hóa
Lập được uy nghiêm
Thì kẻ ác biết sợ
Thực thi giáo hóa
Thì người thiện được khuyến khích
Kẻ thuận theo mình
Nhưng gây trở ngại cho đạo trị quốc
Thì không thêm bỏng lọc
Người làm trái ý mình
Mà có lợi cho đất nước
Thì không thi hành hình phạt
Thế nên người được thưởng
Không phải mang ơn vua
Vì đó là do công lao của họ
Mà có kẻ bị phạt
Không oán hận cấp trên
Vì đó là tội lỗi
Họ đáng phải chịu
Vậy nên Kinh Thư nói
Không thiên vị
Không bè đảng
Vương đạo rộng lớn bao là
Đây chính là quyền bính của thưởng phạt vậy
Đềnh cành chức đỏ sách
Tam vân thời nhà thanh
Tác giả không rõ
Chương 12 Vũ Nông
Vũ Nông
Thức ăn là trời ban cấp cho con người
Nông nghiệp là nền tảng của trị chính
Kho lúa đầy đủ
Thì dân biết lễ tiết
Ăn mặc no đủ
Thì dân biết liêm sỉ
Do nên trầm đích thân cày ruồng
Nhưng ở Đông Giao
Kính cẩn thuận theo thời tiết
Để dạy dân
Nước không có lương thực dự trữ
Trong 9 năm
Thì không đủ phòng hạn hán lụt lội
Nhà không có quần áo tích trữ
Trong 1 năm
Thì không đủ chống chọi nóng lạnh
Vậy mà bách tính lại
Không lo dắt nghe nuôi trâu
Bỏ cái thực chất bền vững
Để chạy theo cái hư ngụy giả dối
Cầu cái lợi buôn bán nhỏ mọn
Một người cày mà trăm người ăn
Cái hại đó còn hơn cả
Sâu hại mùa thu
Không gì bằng cấm tuyệt thối phù hoa
Quyến khích dạy bảo việc cày cây dệt vải
Khiến người dân trở lại với cây gốc
Tập tục trở lại với cây
Chân thật
Thì ai nấy đều ôm lòng nhân nghĩa
Vĩnh viễn dứt bỏ con đường tham lam tàn ác
Đó chính là cây gốc của vụ nông
Làm nông, trồng trọt
Hai điều này
Làm nông và chế ngự phù hoa
Là mấu chốt để điều khiển phong tục
Nuôi dưỡng dân chúng
Chỉ dựa vào uy, quy nghiêm và huệ
Ân huệ
Ban ân huệ thì dân nhớ
Các tập tục khác là
Cũng hướng theo phong hóa
Giống như sương tàn dưới ảnh nắng xuân
Quy nghiêm đáng sợ
Thì cả Trung Hoa đều nể phục
Như dẫm trên lưỡi dao hay đội sắm xét trên đầu
Không dám làm càng
Nhất định phải dùng cả uy và huệ
Cường nhu phối hợp
Chế định hình pháp rồi
Thì dân sẽ không vi phạm
Vì mọc vô khi
Lập ra kế giời cây của thương ưỡng
Để dân tin tưởng
Thưởng phạt đã minh bạch
Thì thiện ác sẽ phân minh
Nhân tự tính nghĩa lan tỏa
Khắp nơi thì gần xa đều hướng lòng về
Quyến khích chuyên tâm làm nông
Thì nạn đói rét sẽ bị chặn đứng
Ngăn ta hoa, cấm mỹ lệ
Thì cái lợi giàu có phồn thình sẽ nảy sinh
Và lại quân vương giáo hóa
Kẻ dưới cũng giống như gió thổi có rạp
Cổ nhân thường ví đức độ của bề trên
Như ngọn gió, đức phâm
Gió thổi đến đâu thì có rạp
Theo đến đó, ý chỉ sự ảnh hưởng
Sâu rộng của đạo đức đối với dân chúng
Trên không tiết chế lòng mình
Thì dưới sẽ nhiều buôn thả
Trên không tiết chế lòng mình
Thì dưới sẽ nhiều buôn thả
Vùa không ước thúc bản thân
Mà lại cấm người khác làm điều phi pháp
Thì cũng giống như ghét lửa
Mà lại thêm củi để mong lửa tắt
Ghét hồ nước đục
Mà lại quậy sóng để mong nước lặn
Ấy là điều không thể được
Chi bằng trước tiên hãy quy chính bản thân
Thì dân chẳng cần đợi nói
Mà tự cảm hóa theo vậy
Một bức hòa trong dưỡng chính đồ sách
Đường Thái Tông tạ tiện
Của lãnh mai đời thanh
Chương 13 Việt Võ
Bình giáp vốn là hung khí của quốc gia
Đất đai tuy rộng
Hiếu chiến sẽ suy tổn
Đất nước tùy yên
Chiến tranh mãi thì người mệt mỏi
Suy tổn không phải là phép bảo toàn
Mệt mỏi không phải là cách chống giặc
Vì thế không thể bãi bỏ hoàn toàn
Cũng không thể thường xuyên dùng đến nó
Cho nên lúc nông nhàng
Thì giảng dạy võ nghề
Để tập luyện quy nghi
Thế nên vua câu tiện cuối mình
Chào con ếch đang trương bụng
Giận dữ mà cuối cùng thành tựu bán nghiệp
Tự yển vương vứt bỏ võ vị
Nên cuối cùng mất nước
Tại sao thế?
Nước Việt luyện tập cái uy ấy
Còn nước tự lại quên phòng vị
Khổng tử nói
Không dạy dân đánh trận
Ấy là vứt bỏ dân
Thế nên biết uy lực của cung tên
Là để làm lợi cho thiên hạ
Đây chính là mấu chốt
Của việc dùng vinh vậy
Đường Thái Tông đã chấn hương nho giáo
Tôn vinh khổng tử
Và chấn hương nho học
Tạo ảnh hưởng sâu sắc
Tranh hành đàn lễ nhạc
Trong bộ tranh khổng tử Thánh Tích Độ
Đường Thái Tông ở nơi điện Hoàng Văn
Thu thập sách thuộc Tứ Bộ
Gồm hơn 200.000 quyển đồng
Thời lập ra quán Hoàng Văn
Ở ngay bên cạnh điện
Vua Tinh Tuyển
Các bậc danh sĩ văn học trong
Thiên hạ như Ngu Thế Nam, Chữ Lượng
Diêu Từ Liêm, Âu Dương Tuân
Sái Uẩn Cung, Tiêu Đức
Nguồn cho lấy chức quan đương nhiệm
Kim chức học sĩ
Lệnh cho họ thay phiên nhau trực đêm
Hằng ngày
Những lúc rảnh rỗi sau buổi bái triều
Vua liền cho mời họ vào nội điện
Để cùng dạng
Luận về lời nói
Và việc làm của người thưa
Bàn bạc thảo luận
Việc chính sự đương thời có khi đến
Tận nửa đêm mới nghỉ
Thu thuyết thời minh
Dương 14 Sùng Văn
Sùng Văn thành công
Thi lập ra nhạc
Trị an thì định ra lễ
Sự hưng thịnh của lễ nhạc
Lấy đạo nhò làm gốc
Mở rộng phong hóa dẫn dắt tập tục
Không gì cao quý hơn văn
Bàn bố giáo hóa dạy dỗ
Con người không gì tốt hơn học
Nhờ có văn mà đạo đức hưng thịnh
Dựa vào học mà rạn rỡ
Dòng tộc thân thích
Không đến bên khe sâu nhìn xuống
Thì không biết đất dậy
Không dạo trong vườn văn chương
Thì không biết nguồn gốc của trí tuệ
Thế nên chất liệu tre nước ngô là quý
Nhưng nếu không gắn thêm lông vũ làm tên
Thì cũng không tốt
Bản tính dù phân biện thông minh
Nhưng nếu
Không tích lũy học hành
Thì cũng chẳng thể thành tài
Vì vậy mới xây dựng minh đường
Thiết lập bích ung
Đọc rộng sách vở trăm nhà
Tin tường lục nghệ
Khoanh tay rũ áo
Mà biết được việc thiên hạ
Vô vi mà soi tét chuyện tưa này
Muốn thành giành bày tà
Đức tốt lan rộng, tỏa sáng bất hủ
Chẳng phải chỉ có học mới làm được sao
Đây là cái cách của văn
Thay điều này
Văn và võ thay nhau
Sử dụng cho quốc gia
Đến khi biển yên núi lặn
Khói bùi đã tan
Xếp lại uy thế của thất đức
Bảy đức tính võ công
Ban bố rộng rãi giáo hóa của cựu công
Chính công lao của văn trị
Lúc ấy tất sẽ xem nhẹ giáp trụ
Mà thêm trọng thi
Thế nên mới biết 2 đường văn võ
Bỏ 1 đường nào cũng không được
Tùy vào thời thế mà có chỗ hơn kém
Mỗi đường đều có sự thích hợp riêng
Võ sĩ hay nho sĩ
Sao có thể bỏ ai được
Vào năm trinh quán thứ 14
Vua nước Thổ Phùng Tùng Tán cán bố
Vì ngưỡng mộ trinh quan chi trị
Của nhà đường
Đã phái sứ giả là lọc Đông Tán
Đến Trường An để thiết lập
Quan hệ ngoại giao
Bức tranh Bộ Liễn Độ
Của họa sĩ Diêm Lập Bản
Thời nhà đường đã khắc hòa
Lại cảnh lọc Đông Tán diện kiến đường Thái Tông
Chương 15 Lời Kết
Lời Kết
12 điều này là cương lĩnh
Của Bậc Đế Vương
Sự an nguy hưng phế đều nằm ở đây
Cổ
Nhưng có câu không phải hiểu biết là chuyện khó
Mà là thực hành không dễ dàng
Thực hành có thể
Nỗ lực nhưng mà giữ được đến cùng
Thế nên những vị vua bạo loạn
Không phải họ chỉ hiểu biết con đường tội ác
Những bậc minh chủ thanh triết
Không phải chỉ riêng các ngài T.H. Ởy Địa
Con đường thiện lành
Ấy là bởi đại đạo xa xôi khó theo
Đường ta cận kề dễ bước vào
Kẻ tiểu nhân cuối mình
Theo cái dễ
Không chịu ra sức làm việc khó
Nên tai hỏa thất bại ập đến
Bậc quân tử vất vả chọn khó khăn
Không chịu an cư nơi dễ dàng
Nên Phúc Khánh tuôn chạy đến
Thế nên biết rằng
Họa Phúc không có cửa
Chỉ do người mời đến
Muốn hối lỗi về những sai trái đã qua
Chỉ có cách thân trọng ngừa hòa
Ở tương lai
Con nên chọn các bậc minh quân
Sáng suốt làm thầy
Đừng học theo những việc trước đây ta làm
Nói theo bậc thượng đẳng
Thì chỉ đạt được mức trung đẳng
Nói theo bậc trung đẳng
Thì chỉ đạt được mức hạ đẳng
Nếu không phải bậc thượng đức
Thì không thể nói theo được
Ta từ khi lên ngôi đến nay
Những việc làm ra đã nhiều rồi
Ý phục đẹp đẻ
Đồ chơi kỳ lạ
Gắm vốc lùa lạ
Ngọc ngà châu báu
Không ngớt bày ra trước mắt
Đây không phải là cách phòng bị dục vọng
Gột xà chạm trổ
Đại cao ao sâu
Thường phát động phu dịch
Đây không phải là nhớ tiết kiệm
Cho ngựa ưng cắt
Chim ưng, chim cắt
Dù xa mấy cũng tìm cho bằng được
Đây không phải là tiết chế lòng mình
Nhiều lần tuần du
Khiến dân chúng lao phổ
Đó không phải là nhúng mình
Những điều này là lỗi lầm sâu nặng của ta
Còn đừng cho đó là đúng mà học theo
Nhưng vì ta cứu giúp nuôi dưỡng muôn dân
Có lợi ích nhiều hơn
Bình định thiên hà
Mà có công lớn
Lợi nhiều hại ích
Nên dân không oán
Công lớn lỗi nhỏ nên đức chưa suy
Nhưng những dấu chân để lại chưa được tận mỹ
Còn nhiều xấu hổ
Đối với đạo tận thiện
Nhìn lại thấy thèn
Nội dung huống chi
Con chưa hề có được một chút công lao nhỏ nhạt nào
Mà chỉ nhờ vào cơ duyên
Mà hưởng được phúc này
Nếu con biết tôn sùng cái đẹp
Để mở rộng đức hành
Thì cơ nghiệp sẽ thái bình
Bản thân được an ổn
Nếu con buông thả tình cảm
Mà làm theo điều sai trái
Thì cơ nghiệp sẽ nghiêng đổ
Bản thân sẽ mất mạng
Và lại cơ nghiệp quốc gia thành
Thì chậm mà bại thì nhanh
Ngôi vị thiên tử mất thì dễ
Mà được thì khó
Sao có thể không tiếc
Sao có thể không thận trọng
