TÓM TẮT CUỘC ĐỜI GIA CÁT LƯỢNG - VỊ THỪA TƯỚNG KHÉT TIẾNG THỜI TAM QUỐC

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis video provides a comprehensive biographical overview of Zhuge Liang, the legendary strategist of the Three Kingdoms period. It traces his journey from a secluded scholar in Longzhong to the Prime Minister of Shu Han, highlighting his strategic brilliance, diplomatic skills, and unwavering loyalty in his lifelong quest to restore the Han Dynasty.
Chào mừng quý vị và các bạn đã quay trở lại với Xây xứ.
Trong dặm dài của lịch sử Trung Hoa cổ đại,
thời kỳ Tam Quốc phân tranh luôn là một trong những chương hùng tráng và khốc liệt nhất.
Chính trong cơn bão loạn của thời cuộc, khi vương quyền nhà Hán lung lay tận gốc rễ,
lịch sử đã sản sinh ra một vĩ nhân mà tên tuổi đã trở thành biểu tượng tuyệt đối cho trí tuệ
và sự tận hiến đến hơi thở cuối cùng.
Gia Cát Lượng
Đằng sau những hào quan chiến trận được thần thoại hóa qua phi mảnh,
cuộc đời thực của vị thừa tướng nhà thuộc Hán trong chính xử
đã diễn ra với những quyết sắp thiên tài và cả những nỗi đau bi tráng nào.
Hôm nay, Xây xứ mời quý vị cùng bước vào hành trình tóm tắc toàn bộ cuộc đời của Gia Cát Lượng.
Vào những năm cuối cùng của trường đại Đông Hán,
khi vương quyền nhà Lưu đã lung lay tận gốc rễ trước cơn bão loạn của giặc Hăng Vàng
và sự trỗi dậy của các tập đoàn quân Việt,
tại huyện Dương Đô, quận Lăng Nha, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc,
gia tộc Gia Cát, một dòng họ hoạn lộ lâu đời,
đã đón chào sự ra đời của người con trai thứ hai vào năm 181,
đặt tên là Gia Cát Lượng, tự là Khổng Minh.
Cha ông Gia Cát Khuê từng giữ chức quận Thừa, quận Thái Sơn,
là một vị quan mẫu mật của triệu đình.
Tuy nhiên, vinh hoa của dòng tộc không che chở được cậu bé Khổng Minh
trước những giông bão tàn khốc của thời cuộc.
Nằm Gia Cát Lượng lên 10 tuổi, người mẹ qua đời.
Chỉ hai năm sau đó, người cha cũng lâm bệnh rồi xuôi tay nhắm mắt,
bỏ lại ba nêm Gia Cát Cẩn, Gia Cát Lượng và Gia Cát Quân
trong cảnh mồ côi giữa một thiên hạ đang bắt đầu rách nát vì binh đao.
Người chú ruột là Gia Cát Huyền, bấy giờ được quân phiệt viên thuật bổ nhiệm
làm thái thú quận Dự Chương, đã gian tay đón các cháu về nuôi dưỡng,
đưa họ rời khỏi vùng đất Lăng Nha,
đang bị đe dọa bởi các cuộc thảm sát của Tạo Tháo.
Cuộc hành trình chạy loạn của gia đình Gia Cát dọc theo dòng trường gian
không chỉ là một chuyến di tản lánh nạn,
mà còn là bài học đầu tiên của Gia Cát Lượng về sự tàn khốc của chiến tranh
và nỗi thống khổ của Bắc Tính.
Khi Gia Cát Huyền bị trừ định đông hán bại chức thái thú Dự Chương,
ông đã dẫn các cháu đến Nương Nhờ, Kinh Châu một lưu biểu,
một người bạn cũ và cũng là thế lực đang trấn giữ vùng đất Kinh Tương, Trù Phú,
tạm thời chưa bị khói lửa chiến tranh tàn phá.
Chính tại nơi đây, vào năm 197,
người chú Gia Cát Huyền qua đời,
chỗ giữa duy nhất của ba anh em hoàn toàn sụp đổ.
Ở tuổi 16, Gia Cát Lượng phải tự mình gánh vác tương lai
của bản thân và người em trai Gia Cát Quân.
Ông quyết định không dấn thân vào chốn quan trường đầy rẫy phe phái
tại thành Tương Dương của lưu biểu,
mà chọn lui về vùng Long Trung,
một giải đất hẹo lánh cách thành Tương Dương khoảng 20 dặm,
bắt đầu cuộc đời của một thư sinh cày ruộng,
ẩn giật suốt 10 năm trời.
10 năm ẩn cư tại Long Trung,
từ năm 16 đến năm 26 tuổi,
là quãng thời gian định hình nên
một thiên tài quân sự học và chính trị học xuất chúng.
Khác với những nho sinh đương thời chỉ biết học vẹt kinh sử
để mưu cầu một chức quan nhỏ,
cách đọc sách của Gia Cát Lượng vô cùng đặc biệt.
Sử sách chép rằng,
khi các bạn học cố gắng học thuộc lòng từng câu chữ,
khổng minh chỉ đọc, xem qua đại ý,
chú trọng vào việc đút chút tinh hoa tư tưởng,
quy luật hưng vong của các triều đại
và nghệ thuật trị quốc an dân.
Mỗi buổi sáng, ông cùng em trai ra đồng cày ruộng,
tự cung từ cấp lương thực.
Đến tối lại thắp đèn đọc sách,
nghiên cứu bản đồ địa hình,
binh pháp của tôn tử, ngô khởi
và các học thuyết pháp gia.
Ông thường ngồi bỏ gối thở dài,
tự ví tài năng của mình như quảng trọng và nhạc nghị,
hai vị tướng quốc và danh tướng lưng danh
thời xuân thu chiến quốc,
những người đã có công xoay chuyển
cục diện thiên hạ.
Một số danh sĩ ở Kinh Châu bấy giờ cho rằng
lời tự phụ của ông là khoan đường,
nhưng có hai bậc đại hiện trước là
Tư Mã Huy và Bạn Đức Công
lại nhận ra chân tài thực học
ẩn sau tư thế ung dung của người thanh niên
họ già cát.
Họ gọi ông bằng danh hiệu Ngọa Long,
nghĩa là con rồng lớn
đang nằm ẩn mình chờ thời cơ cất cánh.
Mạng lưới quan hệ của gia cát lượng
trong thời gian ở Long Trung
cũng chính là bước chuẩn bị chiến lược
cho sự nghiệp sau này.
Ông kết giao thân thiết với các danh sĩ hàng đầu
vùng Kinh Tương như Tử Thứ,
Thạch Quảng Nguyên, Mạnh Công Uy
và Thôi Châu Bình.
Thông qua các cuộc đàm đạo văn chương
và thời cuộc, khổng minh không chỉ
rèn luyện tư duy nhảy bén mà còn nắm bắt
được toàn bộ biến động chính trị
bên ngoài vách núi Long Trung.
Hơn thế nữa, ông đã thiết lập mối quan hệ
hôn nhân mang tính chiến lược
khi kết hôn với Hoàng Nguyệt Anh,
con gái của danh sĩ Hoàng Thừa Ngạn,
người có tầm ảnh hưởng lớn trong giới sĩ
Phù Kinh Châu.
Dù dân gian truyền tụng rằng Hoàng Tiểu Thư
có ngoại hình xấu xí, tóc vàng, da đen,
nhưng bà lại là người có tài năng
kiệt xuất về cơ khí, trận pháp
và thiên văn, trở thành người bản đời,
người trợ thủ đắc lực cho khổng minh
trong suốt cuộc đời buồn ba sau này.
Cuộc sống thanh bần nhưng đầy
hoài bão của gia các lượng cứ thế trôi qua
cho đến khi cuộc diện thiên hạ
biến chuyển mạnh mẽ,
đẩy một vị tướng quân thất thế của nhà Lưu
tìm đến cửa lều tranh.
Năm 207,
Tào Tháo đã hoàn thành việc bình định phương Bắc
sau trận quang độ,
bắt đầu tập trung toàn lực chuẩn bị xua quân
xuống phía Nam nhằm thôn tính Kinh Châu
và Giang Đông, thống nhất thiên hạ.
Lúc này, Lưu Bị,
một người hoàng thân nhà Hán,
sau nhiều năm buôn ba vất vả,
nếm trải hàng loạt thất bại,
đang phải nương nhờ Lưu Biểu
và đóng quân tại thành nhỏ Tân Giả
để làm lá trắng phía Bắc cho Kinh Châu.
Nhận thấy bản thân thiếu vắng
một mưu sĩ có tầm nhìn chiến lược
để định hướng đại cục,
Lưu Bị luôn đau đáu tìm kiếm hiện tại.
Qua lời tiến cử đanh thép
của Tử Thứ trước khi từ biệt sang Tào
và lời khẳng định của Thủy Kính Tiên Sinh rằng
Cửu Châu có được ngọa Long
sẽ định được thiên hạ,
Lưu Bị đã quyết định hạ mình
đích thân tìm đến Long Trung
để cầu kiến vị hiện sĩ trẻ tuổi
mới 26 tuổi.
Sự kiện Tam Cố Thảo Lư
ba lần đến liều tranh cầu hiền
của Lưu Bị đã trở thành
một trong những cột móc kinh điển nhất
của lịch sử Trung Hoa.
Hai lần đầu tiên vào mùa đông giá rét,
Lưu Bị cùng hai người em kết nghĩa
là Quang Vũ và Trương Phi
lặn lỗi đường xa đến Long Trung
nhưng đều không gặp được gia các lượng.
Trước sự mất kiên nhẫn
và bất bình của Quang, Trương,
Lưu Bị vẫn giữ trọn lễ nghĩa,
sự kiên trì và lòng thành kính tối thượng
của một mật chí tôn đối với tri thức.
Đến lần thứ ba
vào mùa xuân năm 208,
Lưu Bị mới gặp được gia các lượng
khi ông đang ngủ trưa.
Không quảng ngại thân phận,
Lưu Bị cung kính đứng chắp tay
chờ đợi suốt nhiều canh giờ
cho đến khi gia các lượng tỉnh dứt.
Sự chân thành và giọt nước mắt ái quốc
của vị tướng quân ngoài ngủ tuần
đã hoàn toàn lây động được trái tim
của người thanh niên kém mình tới 20 tuổi.
Ngay trong căn lèo tranh đơn sơ
ở Long Trung, gia các lượng đã trình bày
trước Lưu Bị một bản thiết kế
chiến lược hoàn chính được lịch sử
ghi nhận với tên gọi Long Trung Đối Sách.
Bằng nhãn quan chính trị thiên tài,
Khổng Minh đã phân tích
toàn diện điểm mạnh, điểm yếu
của các thế lực đương thời.
Ông chỉ rõ rằng Tào Tháo lúc này
đã sở hữu trăm vạn quân,
mượn danh Thiên Tử để lệnh Chư Hầu
là thế lực không thể đối đầu trực diện.
Đồng ngô do Tôn Quyền cai quản
đã qua ba đời.
Đất đai hiểm trở, lòng dân ly tán
nhưng căng cơ vẫn chắc
chỉ có thể liên minh chứ không thể thôn tính.
Mục tiêu chiến lược khả thi
duy nhất cho Lưu Bị lúc này
là phải chiếm lấy Kinh Châu,
nơi có địa thế bốn bề thủ địch
nhưng là rốn nước của thiên hạ,
và Ít Châu, nơi hiểm trở, sản vật phong phú
nhưng chủ quyền đang nằm
trong tay Lưu Chương nhu nhược.
Sau khi chiếm được hai vùng đất này
thiết lập thế chân vạc vững chắc
chia ba thiên hạ với Tào Tháo và Tôn Quyền
Tây Thục sẽ chỉnh đống nội chính
chờ đợi phương Bắc có biến cố
sẽ từ Hai Ngã, Kinh Châu
và Ít Châu xuất quân bắt phạt
khôi phục Giang Sơn nhà Hán.
Bản chiến lược long trung đối sách
đã vạch ra một con đường sáng
cho cuộc đời đang chìm trong tâm tối của Lưu Bị.
Biến ông từ một thủ lĩnh
quân sự lưu vong trở thành
một thế lực có mục tiêu chính trị rõ ràng.
Cảm kích trước tầm nhìn vĩ đại ấy
và các lượng đã quyết định
thu dọn sách vỡ từ biệt
liều tranh Long Trung
chính thức xuống núi để bước vào
vòng xoáy của quan trường và binh nghiệp.
Bước chân ra khỏi chốn ẩn cư
vị quân sự trẻ tuổi lập tức
phải đối mặt với một thực tế tàn khốc.
Quân đội tân giả của Lưu Bị
chưa đầy vài ngàn người,
trong khi đại quân tiên phong của Tào Tháo
do các danh tướng khét tiếng chỉ huy
đang rầm rộ áp sát biên thủy
mở đầu cho một chương mới đầy bão táp
nơi tài năng điều binh khiển tướng
của Ngoại Long sẽ lần đầu tiên
được thử thách bằng máu và lửa.
Rời bỏ lưỡi tre xanh Long Trung
để dấn thân vào chốn binh đao
và các lượng lập tức bị ném vào
giữa một cuộc khủng hoảng quân sự
có tính chất sinh tử đối với tập đoàn Lưu Bị.
Mùa thu năm 208,
đại quân Tào Tháo rầm rộ
tiến xuống phía nam, cùng lúc đó
kinh châu một lưu biểu qua đời,
người kế vị là Lưu Tông Nhút Nhát
đã lén lút dân toàn bộ bờ cõi
kinh châu đầu hàng quân Tào
mà không hề báo trước cho Lưu Bị biết.
Đứng trước nguy cơ bị bao vây cô lập
tại Tân Giả,
Gia Cát Lường đã nhanh chóng phân thức tình hình
và hiến kế cho Lưu Bị lập tức
rút quân về phía nam nhằm chiếm giữ
trọng điểm Giang Lăng nơi có kho tàn
và vũ khí quân dụng lớn của kinh châu.
Tuy nhiên,
chuyến rút lui bị trì hoãn nặng nề
khi hơn 10 vạn bách tính kinh châu
vì lòng trung thành đã tự nguyện bỏ nhà cửa
để đi theo tháp tùng quân đội
của Lưu Bị.
Bất chấp sự can ngăn của các tướng lĩnh
về việc hành quân chậm sẽ bị kỳ binh
Tào Tháo đuổi kịp,
Lưu Bị với tư tưởng lấy dân làm gốc
đã kiên quyết không bỏ rơi dân chúng.
Hậu quả là
tại Đương Dương, Trường Bản,
5 vạn kỳ binh tinh nhuệ hổ báo kỳ của Tào Tháo
đã đuổi kịp và đánh tan tác
quân Lưu Bị,
tạo nên một cuộc thảm sát kinh hoàng
đẩy quyến thuộc của Lưu Bị
vào cảnh ly tán.
Giữa cuộc diện thảm bại và tuyệt vọng
tại Bến Hạ Khẩu khi quân đội
chứ còn lại vài ngàn tàn binh,
lực lượng rắc nát và các lượng
đã chứng tỏ bản lĩnh của một nhà ngoại giao
và chiến lược gia thiên tài.
Ông nhận định rằng cơ hội sống sót duy nhất
của Lưu Bị lúc này là phải thiết lập
bằng được một liên minh quân sự với đồng ngô
của Tôn Quyền, thế lực duy nhất
ở phía nam dòng Trường Giang có đủ
thực lực thủy quân để đối trọng với Tào Tháo.
Nhận được sự đồng ý của Lưu Bị,
Khổng Minh đơn thương
đọc mã theo chân sứ giả đồng ngô
là Lỗ Túc, vượt sông
sang sinh địa Giang Đông.
Tại pháo đài Sài Tàng, vị quân sư
27 tuổi đã bước vào một cuộc
đấu trí kịch liệt với giới chính trị Giang Đông
nơi các quan văn dưới sự đứng đầu
của Trương Chiêu đang một mực đội
đầu hàng Tào Tháo để giữ
vinh hòa phu quý.
Bằng tài hùng biển sắc bén, Khổng Minh
không chỉ đập tan những luận điệu hàng phái
của quần thần Đông Ngô,
mà còn trực diện dùng kế khích tướng
để tác động vào ý chí của Tôn Quyền,
vạch rõ điểm yếu của liên quân Tào Tháo
là quân số tuy đông
nhưng mệt mỏi, không am hiểu
thủy chiến, và nội bộ phương Bắc
chưa thật sự ổn định.
Sự kiên định của Gia Cát Lượng, kết hợp
với ý chí quyết chiến của chủ xoái Chu Du
đã thúc đẩy Tôn Quyền hạ quyết tâm
chém góc bàn, chính thức kết
Chiến dịch sức bích diễn ra ngay sau đó
và cuối năm 208 đã trở thành
trận thủy chiến vĩ đại nhất
trong lịch sử Tam Quốc, đặt nền móng
đầu tiên cho thế chân và.
Khác với những tình tiết nhúng màu
thần thoại trong tiểu thuyết như
thuyền cỏ mượn tên hay lập đàn
cầu gió đông, vai trò thực tế
của Gia Cát Lượng trong chiến dịch này
thiên về mặt điều phối chiến lược
và bảo toàn lực lượng cho tập đoàn Lưu Bị.
Trong lúc Chu Du tập trung toàn bộ
chủ lực thủy quân Đông Ngo để giàn trận
trực diện với quân tàu trên dòng Trường Giang,
khổng minh đã phối hợp chặt chẽ
với lỗ túc để đảm bảo nguồn cung ứng
hậu cần, đồng thời bí mật bố trí
lực lượng lục quân của Lưu Bị
đóng chốt tại các vị trí hiểm yếu dọc bờ sông.
Khi kế sách hỏa công
của Chu Du và Hoàng Cái thiêu rùi
hoàn toàn trăm vạn chiến thuyền
của Tào Tháo, biến dòng Trường Giang
thành một biển lửa mút trời,
quân tàu đại bại tháo chạy về phương Bắc,
thì cũng là lúc Gia Cát Lượng
tung các danh tướng Triệu Vân,
Trương Phi và Quang Vũ
ra phong tỏa các ngã đường rút lui,
tiêu diệt sinh lực địch
và thu giữ một lượng lớn khí giới ngừa chiến.
Chiến thẳng Xích Bích
không chỉ cứu Lưu Bị thoát khỏi hòa diệt vong,
mà còn mở ra một khoảng trống
quyền lực khổng lồ
tại vùng đất Kinh Châu, Trù Phú.
Ngay khi khói lửa Xích Bích chưa kịp tàn,
Gia Cát Lượng đã lập tức
triển khai bước thứ hai
trong long trung đối sắp
chiếm lĩnh Kinh Châu.
Trong lúc quân đông ngô của Chu Du
bị xa lại suốt một năm trời
trong cuộc chiến tiêu hào đẫm máu
với danh tướng Tào Nhân
để giành vật thành Nam Quận,
Khổng Minh đã hiến kế cho Lưu Bị
dẫn quân đi bình định
bốn quận phía Nam Kinh Châu
gồm Vũ Lăng, Trường Sa, Linh Lăng
và Quế Dương.
Với danh nghệ chính thống
là Phỏ tá Lưu Kỳ,
con trai trưởng của Lưu Biểu.
Quân đội Lưu Bị đi đến đâu
đều được sĩ phu và nhân dân địa phương hưởng ứng đến đó.
Các thái thú địa phương lần lượt đầu hàng
giúp Lưu Bị nhiễm nhiên sở hữu
một vùng đất rộng lớn,
có được nguồn nhân lực và tài lực dồi dào
mà không tốn quá nhiều sương máu.
Sau khi Lưu Kỳ bệnh chết,
Gia Cát Lượng thúc đẩy các biểu sĩ
suy tôn Lưu Bị làm Kinh Châu mục,
đặt trị sở tại công an.
Lúc này, đồng ngô nhận ra
họ đã bị đồng minh nẫn tay trên
những thành quả quan trọng nhất
của chiến dịch xức bích.
Nhưng trước áp lực quân sự vẫn rất lớn
của Tào Tháo ở phía Bắc,
tôn quyền đành phải chấp nhận cho Lưu Bị
mượn quận Nam Quận để cùng làm lá chắn phòng thủ.
Gia Cát Lượng được bổ nhiệm
làm quân sư trung lan tướng,
chịu trách nhiệm quản lý ba quận then chốt
là Linh Lăng, Quế Dương và Trường Sa,
phụ trách việc thu thuế, tích thảo
trữ lương để nuôi dưỡng quân đội.
Gia Cát Lượng bắt đầu hướng tầm nhìn
chiến lược sang vùng đất Ích Châu,
nơi Lưu Chương đang cai quản,
nhưng nội bộ lụt đục, lòng dân chán ngán.
Năm 211,
cơ hội ngàn năm có một đã đến
khi chính Lưu Chương,
do lo sợ bị quân Việt trương lộ
ở Hán Trung tấn công,
đã nghe theo lời xúi dục của các mưu sĩ phản gián
như Trương Tùng, Pháp Chính
mà phái sứ giả đến mời Lưu Bị
dẫn quân vào Tây Xuyên
để trợ giúp phòng thủ.
Gia Cát Lượng lập tức nhận định
đây chính là thời cơ chính mùi
để hoàn thiện thế chân vạt.
Ông sắp xếp cho Lưu Bị cùng bàn thống
dẫn theo một vạn tinh binh
tiến vào Ích Châu,
trong khi bản thân ông cùng Quang Vũ,
Trương Phi và Triệu Vân
ở lại trấn thủ Kinh Châu
giữ vững huyết mạch hậu phương.
Cuộc hành quân vào Thục ban đầu diễn ra
thuận lợi dưới võ bọc hợp tác,
nhưng đến năm 212,
bộ mặt thật của cuộc chiến tranh giành lãnh thổ
chính thức bị phơi bày.
Lưu Bị và Lưu Chương trở mặt thành thù,
chiến sự nổ ra ác liệt
dọc các cửa ải Tây Xuyên.
Mùa hè năm 214,
chiến cuộc tại Tây Xuyên rơi vào bế tắc
nghiêm trọng sau khi thống xoái
quân sư bàn thống tử trận Tài Gò Lạc Phượng.
Quân Lưu Bị bị vây hãm
trước sự kháng cự kiên cường của quân Thục.
Nhận được thư cầu viện cắp bách
từ tiện tuyến,
Gia Cát Lượng lập tức bàn giao lại
toàn bộ việc phòng thủ Kinh Châu cho Quang Vũ
rồi tự mình thống lĩnh
Trương Phi, Triệu Vân chia làm
hai ngã đường rằm rộ tiến quân vào Thục
để giải vây.
Với tài năng chỉ huy quân sự nhiên minh,
cánh quân của Khổng Minh đi đến đầu
đánh thắng đến đó, lần lược hạ gục
các đồng lưỡi kiên cố, hội quân
với Lưu Bị ngoại vi thành thành đô.
Trước sức ép quân sự nghẹp thở
từ vòng vây của Gia Cát Lượng
và việc danh tướng Mã Siêu từ Tây Lương
bất ngờ đến đầu hàng Phò Tá Lưu Bị
Lưu Trương hiểu rằng
đại thế đã mất, quyết định mở cửa thành
đầu hàng để tránh nạn binh đao
cho Bách Tính.
Vào mùa hè năm 214,
Lưu Bị chính thức tiếp quản Tây Xuyên,
thiết lập quyền cai trị tối cao
trên toàn bộ cõi Ít Châu rộng lớn.
Việc chiếm được Ít Châu là thắng lợi
rực rỡ nhất, đánh dấu sự hoàn thành
xuất sắc giai đoạn đầu của bản đồ chiến lược
Long Trung, đối sách mà Gia Cát Lượng
Từ một thế lực lưu vong
không một tất đất cắm dùi,
Tập đoàn Lưu Bị giờ đây đã làm chủ
hai vùng vương quốc rộng lớn, trù phú bậc nhất,
chính thức biến nhan hàng
với tạo tháo và tôn quyền trong thế
chia ba thiên hạ.
Ngay sau khi đại cục định hình,
Gia Cát Lượng được phong làm quân sư tướng quân,
nắm giữ toàn bộ quyền lực điều hành
chiều 9 và quân đội thuộc Hán,
chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới
đầy thử thách, xây dựng nền móng kinh tế
và luật pháp cho một quốc gia non trẻ.
Nắm giữ quyền lực điều hành
phải ít châu,
Gia Cát Lượng lập tức bắt tay vào công cuộc kiến thiết
toàn diện một quốc gia non trẻ,
chuyển từ trạng thái chiến tranh chinh phạt
sang quản lý hành chính ổn định.
Vùng đất Tây Xuyên,
tuy có địa thế hiểm trở, sản vật phong phú,
nhưng lại tồn tại một hệ thống chính trị
vô cùng phức tạp,
nơi các thế lực hào tộc địa phương cũ
luôn tìm cách độc chiếm lợi nhuận
và thao túng chính quyền của Lưu Trương
Để dịp tang tệ nạn này,
Gia Cát Lượng đã phối hợp với pháp chính,
Lưu Ba, biên soạn ra Thục Khoa,
bộ luật chính thức của nhà Thục Hán
với những biểu khoảng vô cùng nghiêm khắc.
Một số đại thần bây giờ lên tiếng ca ngăn
cho rằng hình luật quá nghiêm khắc
sẽ làm mất lòng dân bản địa,
nhưng Khổng Minh đã thẳng thắng bác bỏ.
Ông chỉ rõ rằng
Lưu Trương mất nước chính vì cai trị
bằng sự nhu nhược,
dùng túng cho quan lại tham nhũng,
hào cường lộng hành
khiến kỹ cương phép nước bị buôn lỏng.
Muốn đất nước vững mạnh,
thì luật pháp phải nhiên minh,
thưởng phạt phải công bằng,
không phân biệt thân sơ hay địa vị xã hội.
Nhờ sự thiết diện vô tuyệt đó,
chính trị Thục Hán nhanh chóng được thanh lọc,
lòng dân từ chỗ sợ hãi
chuyển sang kính phục sự minh bạch
của triệu đình.
Song song với việc chấn chỉnh pháp luật,
Gia Cát Lượng đặc biệt chú trọng
đến việc phục hồi và phát triển kinh tế
làm nền tảng cho quân sự.
Ông nhận thấy nguồn tài chính lớn nhất
của Ích Châu nằm ở hai sản vật
chiến lược là muối và gấm vóc.
Khổng minh cho thiết lập các cơ quan
chuyên trách do triệu đình trực tiếp quản lý
để độc quyền sản xuất
và phân phối muối,
đồng thời khuyến khích người dân đẩy mạnh
nghề trồng dâu, nuôi tầm, dệt gấm thục
dọc theo các con sông ở thành đô.
Gấm thục dưới thời ông
không chỉ là một sản phẩm thủ công cao cấp,
mà còn trở thành một loại ngoại tệ chiến lược
được dùng để giao thương,
đổi lấy ngựa chiến, sắt thép
từ vùng đất của Tào Tháo và Tôn Quyền.
Để đảm bảo nguồn lương thực cho quân đội,
ông cho xây dựng hệ thống đê điều,
cử quan viên chuyên trách
bảo vệ công trình thủy lợi,
đô gian yển vĩ đại,
biến đồng bằng thành đô, thành kho lúa
không bao giờ cạn của Vương Triệu.
Tuy nhiên, khi công cuộc canh tân đất nước
đang trên đả phát triển rực rỡ,
thì Vương Triệu thuộc Hán liên tiếp phải gánh chịu
những đòn gián trí mạng
tùy những biến cố ngoại giao và quân sự.
Năm 219,
Quang Vũ ở Kinh Châu,
do chủ quang chiêu ngạo,
đã trúng kế hỏa công và đánh lén của Đông Ngô,
dẫn đến việc mất toàn bộ vùng đất
Kinh Châu chiến lược và bản thân ông
bị hành quyết tại Lâm Thư.
Thất bại thảm khốc này đã chặt đứt
một trong hai gọng kìm quan trọng nhất
của lòng trung đối sách.
Nỗi đau mất đi người em Kết Nghĩa chưa kịp nguôi ngoai,
thì đến năm 220,
Tàu Phi ở phương Bắc ép Hán Hiến Đế
nhiều ngôi chính thức chấm dứt triều đại
Đông Hán để lập ra nhà ngụy.
Trước tình hình tôn thất nhà Hán
bị phế trức, Gia Cát Lượng đã cùng
quân thần ra sức khuyên can
thuyết phục Lưu Bị chính thức đăng cơ
hoàng đế tại thành đô vào năm 221,
lập nên vương triều thuộc Hán
để tiếp nối đại thống.
Ngay sau khi đăng cơ,
Gia Cát Lượng được thăng làm thừa tướng,
lục thượng thư sự, nắm giữ
quyền lực tối cao của trừ định.
Bi kịch lớn nhất của tình nghĩa vương thần
nổ ra ngay sau đó khi Lưu Bị
bất chấp sự can gián quyết liệt
của Gia Cát Lượng, Triệu Vân và nhiều đại thần
đã để lòng hận thù che mờ lý trí,
quyết định dốc toàn bộ quốc lực
thuộc Hán tiến hành cuộc viễn trinh
phạt mù để báo thù cho Quang Vũ
và đòi lại Kinh Châu.
Năm 222,
tại trận Di Lăng, đại quân của Lưu Bị
đã rơi vào bẫy hỏa công của danh tướng
trẻ tuổi lục tốn bên phía Đông Ngô,
dẫn đến việc tổn thất hàng vạn tinh binh,
danh tướng tử trận vô số,
chiến thuyền khí giới bị thiêu rụi hoàn toàn.
Lưu Bị tháo chạy
nhục nhã về thành Bạch Đế
trong tình trạng kiệt quệ cá về thể sát
lẫn tinh thần.
Mùa xuân năm 223,
biết mình không qua khỏi,
Hoàng đế Lưu Bị lâm bệnh nặng
tại khung Vĩnh An ở thành Bạch Đế
và đã triệu thừa tướng Gia Cát Lượng
từ thành Đô đến để dặn dò
việc hậu sự.
Trên giường bệnh, Lưu Bị đã cầm tay
Gia Cát Lượng và nói lời
ủy thác can tràng.
Tài năng của thừa tướng gấp 10 tàu phi,
tất định quốc gia,
làm nên đại nghiệp.
Nếu thái tử Lưu Thiện có thể phò tá được,
thì phò tá. Nếu nó là kẻ bất tài,
thì thừa tướng có thể tự thay
làm chủ thành Đô.
Lời nói này vừa là sự tin tưởng
tuyệt đối, nhưng cũng là một thử thách
tối thượng đối với lòng trung thành
của vị thừa tướng họ Gia Cát.
Không một chút do dự,
Gia Cát Lượng đã quỳ sập xuống công đường,
dập đầu đến chảy máu
và thề rằng
thần xin dốc lòng hết sức, cúp cung
tận tụy, đến chết mới thôi
để phò tá thái tử.
Lưu Bị qua đời, thái tử Lưu Thiện
17 tuổi lên ngôi hậu chủ.
Gia Cát Lượng chính thức cánh vác
toàn bộ vân mệnh của một thuộc Hán
đang rách nát sau những đại bại liên tiếp.
Khó khăn bủa vây tứ phía
khi chủ đình nhà ngụy nghe tin Lưu Bị chết
đã câu kết với các bộ tộc
Trước thế ngàn cân treo sợi tóc,
thừa tướng Gia Cát Lượng vẫn giữ
sự bình tĩnh đáng kinh ngạc.
Ông ngồi trong thừa tướng phủ,
lần lượt dùng các biện pháp phòng thủ
ngoại giao và quân sự để bẻ gãy
từng đảo quân mộ mà không cần tốn
quá nhiều binh lực.
Nhận thấy Đồng Ngô cũng lo sợ bị nhà ngụy thôn tính,
khổng minh đã phái sứ giả Đặng Chi
sang Giang Đông thuyết phục tôn quyền bãi binh,
chính thức khôi phục lại Liên minh chiến lược
ngô thục để cùng kháng ngụy ở phía Bắc.
Sau khi ổn định mặt trận ngoại giao,
Gia Cát Lượng nhận ra rằng
muốn dốc toàn lực cho cuộc chiến bắt phạt
lâu dài với nhà ngụy thì trước hết
phải giải quyết triệt để nguy cơ nổi loạn
ở vùng biên thủy phía Nam,
tức vùng đất Nam Trung,
nay thuộc các tỉnh Vân Nam, Quý Châu.
Đầu năm 225,
các thế lực hào tộc địa phương câu kết
với thủ lĩnh bộ tộc Người Di là Mạnh Hoạch
đã phát động cuộc nổi loạn
quy mô lớn, đánh phá các châu huyện
Không quả ngại đường xá xa xôi,
khí hậu chướng khí độc hại
của vùng đầm lệ phía Nam,
Thưa tướng Gia Cát Lượng đã đứt thân
thống lĩnh đại quân tiến xuống Nam Trung
để dẹp loạn.
Ông nhận định rằng,
người dân tộc thiểu số ở Nam Trung
vốn tính tình cương trực,
nếu chỉ dùng vũ lực để đàn áp
thì sau khi đại quân rút đi,
họ sẽ lại tiếp tục nổi loạn.
Cách duy nhất để có hòa bình lâu dài
là phải khiến họ thật sự
tâm phục khẩu phục triều đình.
Sự sách chép rằng,
trong suốt chiến dịch, Gia Cát Lượng đã dùng
mưu trí vây bắt và tha bỏng thủ lĩnh
Mạnh Hoạch tới 7 lần.
Sau lần thứ 7 được thả, Mạnh Hoạch đã quỳ
sập xuống trước cửa quân doanh, khóc lớn
và tuyên bố,
Thưa tướng mang uy trời,
người phương Nam chúng tôi từ nay quyết không bao giờ
phán bội nữa.
Chiến dịch kết thúc thắng lợi hoàn toàn
vào cuối năm 225,
không chỉ bình định yên ổn biên cương phía Nam
mà còn giúp Thục Hán thu phục
được một lượng lớn binh lính tinh nhuệ
người Di gia nhập quân đội,
đồng thời khai thác được nguồn tài nguyên khoáng sản
vàng bạc phong phú của vùng Nam Trung
để sung vào ngân khố quốc gia.
Trở về kinh thành thành đô
trong khúc khải hoạn,
Gia Cát Lượng hiểu rằng
mọi chứng ngại vật phía sau lưng đã được dẹp sạch.
Nền kinh tế và quân sự của Thục Hán
đã phục hồi hoàn toàn
sau những tổn thất của trận Di lặng.
Giờ đây, ở tuổi 46,
mái tóc đã bắt đầu điểm bạc
vì Thực Hán ngước mắt nhìn về phía Bắc
qua những dãy núi treo leo
của vùng Tần Lĩnh,
chuẩn bị viết lên chương bi tráng
và hào hùng nhất trong cuộc đời mình,
xuất quân ra Kỳ Sơn,
tiến hành cuộc chiến chiến lược
vì Đại Nghĩa khôi phục Giang Sơn.
Mùa xuân năm 227,
sau khi hoàn thành việc chuẩn bị toàn diện
về cả kinh tế lẫn quân sự,
Thực Hán Gia Cát Lượng quyết định
hành dời Đại Bán Doanh
từ kinh thành Thành Đô lên thành Hán Trung,
tập kết 10 vãng quân nhuệ
tiến sát Biên Thủy,
chuẩn bị phát động cuộc chiến chiến lược
tiến quân ra phương Bắc.
Trước ngày xuất quân, ông đã dân lên hậu chủ Lưu Thiện
một bản tấu chương bất hủ
được lịch sử ghi nhận với tên gọi
Xuất Sư Biểu.
Bản biểu không chỉ là những lời dặn dò tâm huyết
của một vị trưởng bối đối với một hoàng đế
trẻ tuổi về việc sử dụng hiền thần
xa lánh tiểu nhân,
mà còn là lời thề sát đá,
kết tinh trọn vẹn lý tưởng chính trị
cao cả và lòng trung thành tuyệt đối
của khổng minh đối với vương triều nhà Hán.
Sau khi ổn định hậu phương,
ông chính thức hạ lệnh cho đại quân
vượt qua những con đường núi
cheo leo của vùng Tần Lĩnh,
mở đầu cho chuỗi 5 lần ra Kỳ Sơn
đầy bão táp kéo dài suốt 7 năm trời.
Cuộc bắt phạt lệnh thứ nhất
vào năm 228 được xem là cơ hội
lớn nhất và suýt chút nữa
đã giúp Thục Hán xoay chuyển
Để đánh lạc hướng quân Nguyện,
gia các lượng phái lão tướng Triệu Vân
dẫn một cánh quân nhỏ đi qua ngã Tạ Cốc
để giả vờ làm lực lượng chủ lực,
thu hút sự chú ý của đại tướng Nguyện
là Tào Trân.
Trong khi đó, đức thân khổng minh
thống lĩnh đại quân bất ngờ đánh thẳng
vào vùng Kỳ Sơn ở phía Tây.
Sự xuất hiện thần tốc của quân Thục
đã làm chấn động toàn bộ vùng Quang Trung,
ba quận Nam An, Thiên Thủy
và An Định của nhà Nguyện
Cũng trong chiến dịch này,
gia các lượng đã thu phục được Khương Duy,
một tướng trẻ tài ba có tư duy quân sự xuất sắc,
người sau này trở thành
truyền nhân kế thừa trọn vẹn chí hướng của ông.
Giữa lúc đại cục đang vô cùng thuận lợi
thì biến cố bức ngoặt đã xảy ra
tại trọng điểm Mã Tốc.
Do chủ quan và không tuân thủ nghiêm ngặt
sơ độ bố địa của khổng minh,
tướng phòng thủ Mã Tốc là Vương Bình
không cản được Mã Tốc đem quân
lên đỉnh núi đóng trại Hồng Lập công riêng.
Danh tướng nhà Nguyện là Trương Cáp
lập tức bao phay ngọn núi,
chặt đứt nguồn nước, đánh tan tác quân thuộc
và chím mất huyết mạch giao thông quan trọng này.
Mất Mã Tốc,
đại quân thuộc Hán rơi vào thế
bị hở sườn, có nguy cơ bị quân Nguyện
bao vây cô lập.
Gia các lượng đành phải ngậm ngùi, hạ lệnh
lùi quân về Hán Trung, chấp nhận thất bại
của chiến dịch đầu tiên.
Trở về quân doanh
để giữ nghiêm phép nước,
Khổng Minh đã rơi nước mắt, hạ lệnh
gạt lệ trả Mã Tốc,
đồng thời tự xin Triều Đình
dán ba cấp quân hàm của bản thân xuống
làm hữu tướng để chịu trách nhiệm
về sai lầm trong việc dùng người.
Không để thất bại làm nản chí,
cuối năm 228,
nhân lúc đại tướng Nguyện là Tào Hưu
bị Đông Ngô đánh bại ở Thạch Đình,
gia các lượng lập tức phát động
cuộc bắt phạt lần thứ hai.
Ông dẫn quân đi qua đường Trần Thương
nhằm đánh bẫy quân Nguy bằng đoạn bất nờ.
Nhưng tại đây,
ông đã vấp phải sự kháng cự kiên cường
của tướng Nguy là Hác Chiêu.
Với chỉ vài ngàn quân phòng thủ,
Hác Chiêu đã tận dụng triệt để
địa thế kiên cố của thành Trần Thương
liên tục bẻ gãy các đợt công thành
bằng máy bắn đá và thang mây
của quân thục suốt hơn 20 ngày đêm.
Nhận thấy quân Nhu cạn kiệt
và viện binh nhà Nguy
đang áp sát,
và các lượng chủ động rút quân.
Trên đường rút lui,
đã dùng kế mai phục chém chết
dân tướng Vương Song của nhà Nguy.
Đến năm 229,
khổng minh phát động cuộc bắt phạt lần thứ ba.
Lần này, ông chuyển hướng sang
đánh chiếm hai quận Võ Đô
và Âm Bình nhằm mở rộng
địa bàn phòng thủ phía Tây cho thuộc Hán.
Sau thắng lợi cuộc bộ này,
hậu chủ Lưu Thiện đã ban chiếu
phục chức thừa tướng cho ông
để tưởng thưởng công lao.
Năm 231,
gia các lượng phát động
cuộc bắt phạt lần thứ tư,
tiến quân ra Kỳ Sơn.
Đây là thời điểm trừ định nhà Nguy
phái một đối thủ truyền kiếp,
một đại cao thủ về chiến lược phòng ngự đến tiền tuyến,
Tư Mã Ý.
Nhận thứ rõ, quân thuộc hành quân
từ xa đến, đường vận chuyển Lương Thảo
qua núi hiểm trở nên điểm yếu lớn nhất
chắc chắn là nguồn cung ứng hậu cần.
Tư Mã Ý đã thực hiện chiến thuật
kiên thủ bất xuất,
cố thủ trong công sự kiên cố,
tuyệt đối không ra giao chiến trực diện
nhằm kéo dài thời gian
để quân thuộc tự tan rã vì hết lương.
Để đối phó với chiến thuật này
và giải quyết bài toán hậu cần nang giải
gia các lượng đã chế tạo ra
trâu gỗ, ngựa máy,
mọc ngư, lưu mã,
những phương tiện cơ khí thô sơ
nhưng vô cùng hiệu quả để vận chuyển
lương thực qua các con đường mòn dốc đứng
của vùng núi Tần Lĩnh.
Bất chấp việc khổng minh dùng
nhiều kế khích tướng,
Tư Mã Ý vẫn kiên trì bám trụ thành trì.
Trên chiến vấp phải khó khăn lớn
khi ở hậu phương, quan viên phụ trách
vận lương là Lý Nghiêm do chậm trễ tiến độ
đã lén lút giả mạo
chiếu chỉ của hậu chủ yêu cầu
lùi quân để che giấu sai phạm của mình.
Gia các lượng một lần nữa
phải bấm bụng rút quân về nước
nhưng trước khi đi, ông đã kịp
bố trí một trần địa mai phục
tại Mộc Môn Đạo, dùng loạt
mưa tên bắn chết danh tướng Trương Cáp
khi tên này dốc quân đuổi theo.
Mùa xuân năm 234
gia các lượng dốc toàn bộ quốc lực
phát động cuộc bắt phạt lần thứ năm
cũng là chiến dịch quy mô lớn nhất
và là chương cuối cùng trong cuộc đời
binh nhiệp của ông.
Lần này quân thục tiến qua đường Tà Cốc
đóng quân tại vùng đồng bằng
ngũ trượng Nguyên rộng lớn
ở phía nam sông Vị Hà.
Rút kinh nghiệm sâu sắc từ những thất bại trước
do thiếu lương thực, khổng minh cho
triển khai chiến thuật đồn điện ngay tại tiện tuyến
lệnh cho binh lính đan sen
cùng bách tính địa phương cày ruộng
sản xuất lương thực tại chỗ để chuẩn bị
cho một cuộc chiến tiêu hao trường kỳ.
Tư Mã Ý một lần nữa chọn giải pháp
xây dựng đồn lưỡi kiên cố
dọc bờ sông Vị, kiên quyết
đóng chặt cửa quân doanh.
Để xỉ nhục và ép đối phương phải ra trận
gia các lượng đã gửi vào doanh trại
quân Nguyện một chiếc hộp chứa
trang phục của phụ nữ, ám chỉ
Tư Mã Ý nhút nhát như đàn bà.
Tuy nhiên, Tư Mã Ý
vẫn thảng nhiên nhận áo mũ
thậm chí còn ân cần hỏi thăm sứ giả
về tình hình sức khỏe và thói quen
sinh hoạt của vị thừa tướng nhà thuộc Hán.
Khi nghe sứ giả kể rằng
khổng minh ngày đêm lo nghỉ việc quân
tự mình kiểm tra từ những việc nhỏ
như sổ sách hay hình phạt từ 20 roi
trở lên nhưng ăn uống lại
vô cùng ít ỏi, Tư Mã Ý
đã quay sang bảo các tướng dưới quyền rằng
Gia các lượng ăn ít
việc nhiều, mạng sống phỏng được
bao lâu. Lời tuyên lượng
của Tư Mã Ý hoàn toàn chính xác
khi những năm tháng lao tâm khổ tứ
gánh vác vận mệnh của cả một gian sơn
trên đôi vai gầy guộc đã tàn phá
khốc liệt sức khỏe của vị thừa tướng
53 tuổi.
Giữa những đêm thu lạnh lẽo tại gòn ngủ trường
trong căn lều bạc hành quân lòng gió
Gia các lượng nhìn lên bầu trời đêm
thấy ngôi sao bản mệnh của mình
đang mờ nhạt dần dưới giải ngân hà
Hiểu rằng ngọn nến
cuộc đời mình đã sắp sửa cạn kiệt
trước khi đại nghiệp khôi phục
quân triệu kịp hoàn thành
Mùa thu năm 234
thừa tướng Gia các lượng trúc hơi thở
cuối cùng tại gòn ngủ trường
ở tuổi 53 vì lao lực
khép lại một cuộc đời cúc cung
tận tụy đến chết mới thôi
Trước khi mất
ông đã bí mật bàn giao di kế rút quân tỉ mỉ
cho các tướng lĩnh tâm phúc
dặn do đẩy chiếc xe lăng có đặt bức tượng gỗ
khác hình mình ra trước trận tiền
nếu bị quân ngụy truy kích
nhờ sự mưu trí này khi tư mã ý
dốc quân đuổi theo hòng tiêu diệt
tàn quân thục nhìn thấy bóng dáng
ung dung của khổng minh đã kinh hoàng
bạc vía vì tưởng trúng quỹ kế
lập tức hạ lệnh tháo chạy
thuộc mạng tạo nên câu thành ngữ
nổi tiếng da cát chết
vẫn đuổi được trọng đạt sống
theo đúng di nguyện giảng dị
linh cử của ông được an tán
tại núi định quân trong một ngôi mộ nhỏ
vừa vặn quan tài không xây
lăng tẩm nguy nga và không
chôn theo củ cải để giữ trọn
sự thanh bạch
sự liêm khít, thiết diện vô tư
cùng lòng trung nghĩa vẹn toàn của da cát lượng
không chỉ giúp Thục Hán đứng vững thêm
gần ba thập kỷ mà còn biến
tên tuổi của ông thành biểu tượng chuẩn
mực cao đẹp nhất về trí tuệ
và đạo đức trong văn hóa truyền thống
Á Đông suốt hàng ngàn năm qua
