TÓM TẮT CUỘC ĐỜI TRẦN HƯNG ĐẠO - HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

Đình Sự
534 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIVideo giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một thiên tài quân sự và biểu tượng lòng yêu nước của Việt Nam. Nội dung làm nổi bật hành trình vượt qua thù nhà để phụng sự nợ nước, lãnh đạo quân dân nhà Trần ba lần đánh bại quân xâm lược Mông Nguyên, bảo vệ độc lập dân tộc và để lại triết lý trị quốc sâu sắc.
Chào mừng bạn đến với Say Sử.
Trong dòng chảy hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam,
có một cái tên đã trở thành biểu tượng vĩnh cửu cho trí tuệ quân sự,
lòng yêu nước và sự hy sinh vô bờ bến vì đại nghĩa dân tộc.
Người đó chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Túng.
Không chỉ là một vị thống xoái kiệt xuất,
ba lần đánh bại đội quân xâm lược hung hãng nhất thời đại,
ông còn là tấm gương sáng ngời với cách hành xử,
lòng trung nghĩa và khả năng dẹp bỏ tư thủ để hứa tới lợi ích tối cao của Giang Sơn.
Cuộc đời ông là một bản anh hùng ca bi tráng,
bắt đầu từ những sóng gió gia tộc ngay khi vừa mới lọt lòng,
cho đến những năm tháng rực lửa trên chiến trường,
và khép lại bằng những lời di chúc định hình vận mệnh của cả một quốc gia.
Ông sinh vào khoảng năm 1231,
giữa bối cảnh trường định mới đang nỗ lực củng cố quyền lực bằng những chính sách cực kỳ khốc liệt.
Cha ông là An Sinh Vương Trần Liễu, anh trai của vua Trần Thái Tông Trần Cảnh.
Sóng gió ập đến gia đình ông vào năm 1237,
khi Trần Quốc Tuấn mới chỉ là một đứa trẻ 6 tuổi.
Để bảo đảm dòng máu hoàng tộc có người nói giỏi,
Thái sư Trần Thủ Độ, người đạo diễn quyền lực đứng sau ngai vàng,
đã ép Trần Liễu phải nhường người vợ đang mang thai của mình
là công chúa Thuận Thiên cho em trai là vua Trần Thái Tông.
Sự kiện này đã chăm ngòi cho một bi kịch gia đình khủng khiếp.
Phẫn nộ trước sự xỉ nhục này, Trần Liễu đã giấy binh nổi loạn trên sông Cái, nhưng thất bại.
Dù được vua Trần Thái Tông tha mạng nhờ tình giọt máu sẽ chia,
Trần Liễu bị tước bỏ binh quyền, đẩy đi phong ấp ở vùng Yên Phụ, Yên Bang
và mang trong lòng một mối hận thù sâu sắc với hoàng tộc ở Thăng Long.
Chính trong bầu không khiến một ngạc của thù hận và túi nhục đó,
Trần Quốc Tuấn đã lớn lên.
Ngay từ nhỏ, ông đã bột lộ tùy chất thông minh khác thường,
diện mạo khôi ngô và dung mạo kiêu sa.
Nhận thấy tài năng thiên bẩm của con trai, an sinh vương Trần Liễu đã dồn hết tâm huyết
tìm kiếm những bậc thầy giỏi nhất thiên hạ về dạy dỗ cho ông.
Trần Quốc Tuấn được rèn luyện toàn diện cả về văn lẫn võ.
Ông miệt mài đọc sách kinh điển, nghiên cứu binh pháp của các bậc tiền nhân,
đồng thời khổ luyện võ nghệ, kiếm pháp tinh thông.
Cha ông không giấu diêm ý định rèn vũa con trai thành một thanh gươm báu,
một kẻ kiệt xuất, đủ sức gánh vác sứ mệnh, đòi lại công lý cho gia đình.
Mối thù gia tộc ấy như một cái bóng lớn bao trùm lên
suốt thời kỳ niên thiếu của Trần Quốc Tuấn,
buộc ông phải trưởng thành trước tuổi
và luôn mang trong mình một thế giới nội tâm vô cùng phức tạp.
Ông đứng giữa hai lựa chọn nghiệt ngã,
hoặc trở thành một kẻ báo thù cho cha,
đẩy đất nước vào cảnh nồi da xáo thịt,
hoặc gạt bỏ tư thủ để phụng sự vương triều đang nắm giữ vận mệnh của quốc gia.
Khi Trần Quốc Tuấn bước vào tuổi trưởng thành,
sức khỏe của an sinh vương Trần Liễu ngày càng suy kiệt.
Trước khi lâm chung vào năm 1251,
Trần Liễu đã gọi con trai lại gần,
nắm chặt tay ông và trút hết những ưu ước tức tù cả đời
vào một lời trăng trối nặng nề.
Người cha gia yếu ấy đã nhìn thẳng vào mắt con trai và nói rằng,
Nếu con không vì cha mà lấy thiên hạ,
thì cha chết cũng không nhắm mắt.
Đó không đơn thuần là một lời dặn dò,
mà là một lời nguyền,
một áp lực tâm lý khổng lồ đặt lên vai chàng thanh niên trẻ tuổi Trần Quốc Tuấn.
Lời thầy ấy đòi hỏi ông phải thực hiện một cuộc đảo chính,
cướp ngôi vị từ tay người chú Trần Thái Tông để rửa hần cho cha.
Tuy nhiên, thay vì mù quán tung theo ý chí báo thù,
Trần Quốc Tuấn đã ghi khắc lời cha dặn trong lòng,
nhưng lại chọn một lối đi hoàn toàn khác.
Ông hiểu rằng, trong bối cảnh đất nước đang cần sự đoàn kết hơn bao giờ hết,
việc tranh giành quyền lực chỉ dẫn đến sự từ hủy diệt.
Sự trưởng thành của Trần Quốc Tuấn không chỉ diễn ra trên giảng đường
hay các sân tập võ, mà còn được thử thách qua những biến động ái tình
đầy kịch tính ở tuổi thanh xuân.
Một trong những sự kiện nổi tiếng minh chứng cho tính cách quyết đoán
và có phần nổi loạn của ông chính là cuộc tình với công chúa Thiên Thành.
Khi đó, công chúa Thiên Thành đã được hứa gã cho Trung Thành Vương.
Tuy nhiên, vì hai người đã có tình cảm với nhau từ trước,
Trần Quốc Tuấn đã gan góc đột nhập vào phòng của công chúa
ngay trong đêm, ngay tại phủ của Trung Thành Vương trước ngày cưới.
Sự việc bài lộ, nhưng thay vì lẫn tránh,
ông đã khéo léo nhờ mẹ nuôi là thủy bà cô chúa vào triều báo với vua Trần Thái Tông.
Để tránh một vụ bê bối hoàng gia và cũng vì trân trọng tài năng của người cháu,
vua Trần Thái Tông đã quyết định gác lại hôn ước cũ,
tác hợp cho Trần Quốc Tuấn và công chúa Thiên Thành.
Sau khi lập gia đình, Trần Quốc Tuấn dành nhiều thời gian hơn để lui về thái ấp của mình,
tiếp tục nghiên cứu binh pháp và quan sát tình hình thời cuộc.
Ông không vội vã lao vào vòng xoáy danh lợi ở Thăng Long,
mà âm thầm tức lũy tri thức, rèn luyện quân sĩ tại vùng đất được phong.
Những năm tháng này vô cùng quan trọng,
giúp ông xây dựng được một thế giới quan quân sự vững chắc,
hiểu rõ địa hình sông nước của đất nước và thấu hiểu tâm tư của những người lính bình dân.
Ông nhận ra rằng sức mạnh của một quân đội không chỉ nằm ở số lượng vũ khí hay quân lính,
mà nằm ở sự đồng lòng của toàn dân và kỷ luật sắc đá của quân sĩ.
Chính khoảng thời gian tỉnh làng này đã chuẩn bị cho ông một hành trang cực kỳ vững chắc
để đối mặt với những thử thách khủng khiếp sắp sửa ập đến từ phương Bắc.
Trong khi Trần Quốc Tuấn đang âm thầm rèn luyện ở thái ấp,
thì ở phương Bắc, một cơn bão tác kinh hoàng đang quét qua toàn bộ luật địa Á-Âu.
Đế quốc Mông Cổ dưới sự dẫn dắt của những hậu vệ thành cá tư hãng
đang bành trướng với tốc độ chóng mặt, tiêu diệt hàng loạt quốc gia
và xây dựng lên một đế chế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Sau khi áp sát biên giới phía Nam Trung Quốc,
võ ngựa Mông Cổ bắt đầu hướng tầm mắt xuống các quốc gia Đông Nam Á
và Đại Việt chính là rào cản đầu tiên mà chúng cần phải khuất phục
để thực hiện gọng kìm siết chặt nhà Nam Tống.
Những sư giả Mông Cổ đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện tại Thăng Long
với những yêu sách hống hách, báo hiệu một cuộc chiến tranh tàn khốc không thể tránh khỏi.
Trước hiểm họa mất nước cận kề, triều đương nhà Trần bắt đầu phải tổng động viên lực lượng
và đây cũng chính là lúc tài năng của Trần Quốc Tuấn được đưa ra ánh sáng,
bắt đầu bước vào vũ đài lịch sử với tư cách là người gánh vác vận mệnh của cả dân tộc.
Đứng trước một kẻ thù đã từng sang phản những đế chế kêu hùng nhất thế giới,
triều đình nhà Trần không hề rung sợ mà bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến truyền kỳ.
Bản lĩnh của Trần Quốc Tuấn, người mang trong mình cả mối thù nhà nở nước,
giờ đây sẽ được đặt vào trung tâm của những quyết sách quân sự tối cao
khi quân đội Mông Cổ bắt đầu áp sát bờ cõi và tiếng súng lệnh của cuộc chiến thứ nhất chuẩn bị vang lên.
Khi vó ngựa viễn chinh của quân Mông Cổ bắt đầu áp sát biên giới phía Bắc vào cuối năm 1257,
Vương Trừ Trần đứng trước một thử thách sinh tử chưa từng có trong lịch sử.
Dưới sự chỉ huy của tướng Ngột Lương Hợp Thai,
một viên hổ tướng dày dạng kinh nghiệm từng chinh chiến khắp Á-Âu,
hàng vạn kỷ binh Mông Cổ hung hãng tràn qua biên cảnh với mục tiêu nuốt chững Đài Việt
mở đường đánh thọc sườn nhà Nam Tống.
Trước thế giặc mạnh như trẻ tre, vua Trần Thái Tông đã xuống chiếu tổng động viên toàn quốc.
Đây cũng là thời khắc lịch sử gọi tên Trần Quốc Tuấn.
Nhận thấy tài năng và bản lĩnh vượt trội của người cháu, nhà vua đã phong ông làm tiết chế,
giao nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng quân đội trấn giữ vùng biên ải hiểm yếu phía Bắc,
ngăn chặn bước tiến của đại quân Mông Cổ.
Nhận mệnh lệnh tối cao giữa lúc dầu sôi lửa bóng,
Trần Quốc Tuấn nhanh chóng tiến quân lên vùng biên Thủy,
phối hợp cùng các tù trưởng dân tộc thiểu số để xây dựng chiến tuyến phòng thủ.
Bản thân ông hiểu rõ rằng đối đầu trực diện với đội kỵ binh có tốc độ
và khả năng càng quét khủng khiếp nhất thế giới lúc mấy giờ
trên một địa hình bằng phẳng là điều vô cùng bất lợi.
Vì vậy, ông đã chủ trương sử dụng lối đánh quấy rối,
tận dụng địa hình rừng núi hiểm trở để tiêu hao sinh lực địch,
đồng thời chủ động lùi binh bảo toàn lực lượng khi thế giặc quá mạnh.
Trận chiến tại Bình Lệ Nguyên diễn ra vô cùng khốc liệt.
Trước sức tấn công nhiều triều dân của quân Mông Cổ,
Hoàng đế Trần Thái Tông đã đứt thân ngự giá thân chinh
cùng các tướng lĩnh chống trả quyết liệt.
Tuy nhiên, nhận thấy thế trận không có lợi,
theo lời khuyên của danh tướng Lê Tần,
nhà vua đã quyết định rút lui để tránh tổn thất vụ ích.
Quyết định rút lui chiến lược này hoàn toàn đồng nhất
với tiêu duy quân sự của Trần Quốc Tuấn.
Khi quân giặc tiến vào Thăng Long,
chúng chỉ tìm thấy một kinh thành trống rỗng,
không một bóng người, không một hạt lương thực.
Đây chính là chiến thuật vườn không nhà trống kinh điển
được thực hiện một cách triệt để dưới sự đồng lòng
của toàn thể quân dân nhà Trần.
Quân Mông Cổ chiếm được Thăng Long,
nhưng nhanh chóng rơi vào cảnh thiếu thốn lương thực trầm trọng.
Thời tiết khí hậu nóng ẩm của miền nhiệt đới cùng với dịch bệnh
bắt đầu tàn phá sức chiến đấu của binh lính phường Bắc.
Trong khi đó, Trần Quốc Tuấn cùng bộ chỉ huy nhà Trần
đang âm thầm tập hợp lực lượng ở vùng hạ lưu sông Hồng,
chờ đợi thời cơ chính mùi để tung đòn quyết định.
Thời cơ ấy đã đến khi quân Mông Cổ
hoàn toàn mệt mỏi và suy giảm ý chí chiến đấu.
Chỉ chưa đầy nửa tháng sau khi rút lui,
quân đội nhà phản công mạnh mẽ.
Trận đông bộ đầu xuất sắc đã đập tan
bộ phận đầu não của quân xâm lược,
buộc một lương hợp thai phải hạ lệnh tháo chạy hỗn loạn về nước.
Cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất
kết thúc bằng thắng lợi vẽ vang của quân dân Đại Việt.
Dù vai trò của Trần Quốc Tuấn ở cuộc chiến này
chủ yếu là ở giai đoạn chuẩn bị,
biên ải và bảo toàn lực lượng phía Bắc.
Nhưng những trải nghiệm thực tế trên chiến trường
đã giúp ông đút rút được những bài học sương máu
về lối đánh của quân Mông Cổ,
đặt nền móng vững chắc cho tư duy quân sự kiệt xuất của ông sau này.
Sau chiến thắng năm 1258,
Đại Việt có được hơn 20 năm hòa bình
để phục hồi kinh tế và củng cố lực lượng.
Trong khoảng thời gian này,
Trần Quốc Tuấn được trừ định tin tưởng
giao phó nhiều trọng trách lớn,
đặc biệt là việc cai quản vùng đất
trọng yếu phía Đông Bắc Vương Quốc.
Ông đã dành những năm tháng này
để không ngừng nghiên cứu,
đút kết kinh nghiệm chiến trường
và viết nên tác phẩm Binh Thư Yếu Lược,
một cuốn sách gối đầu dường của các tướng lĩnh Đại Việt,
hệ thống hóa các chiến thuật quân sự,
cách bày binh bố trận phù hợp với thể trạng của người Việt
và địa hình song ngòi,
rừng rậm đặc trưng của đất nước.
Ông cũng chú trọng vào việc tuyến chọn
và đào tạo những môn khắp Gia Nô
có tài năng vượt trội như Ít Kiêu,
Giá Tượng, Nguyễn Địa Lô, Phàng Ngũ Lão,
biến họ thành những cánh tay đắc lực,
trung thành vô hàng.
Tuy nhiên, nền hòa bình của Đại Việt
luôn bị đe dọa bởi những biến động chính trị
ở phương Bắc.
Lúc này, hốp tất liệt đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Nam Tống,
kiến lập nên triều đại nhà Nguyên
và nuôi tham vọng bành trướng
xuống toàn bộ các nước phương Nam.
Sứ giả nhà Nguyên liên tục sang Thăng Long
với những yêu sắc ngày càng ngạo ngược,
đòi vua Trần phải sang chầu,
phải cống nạp nhân tài, vật lực
và đỉnh điểm là đòi
mượn đường Đại Việt để đánh Chim Thành.
Ai cũng hiểu rằng
mượn đường chỉ là cái cớ.
Mục tiêu thực sự của chúng là thôn tính
toàn bộ Giang Sơn Đại Việt.
Đứng trước nguy cơ xâm lăng lần thứ hai
với quy mô khủng khích gấp nhiều lần trước,
triều đình nhà Trần biết rằng
họ không còn đường lui.
Vào năm 1283,
trước tình hình khẩn cấp,
vua Trần Nhân Tông đã phong Trần Quốc Tuấn
làm quốc công tiết chế,
thống lĩnh toàn bộ lực lượng quân đội toàn quốc.
Đây là một quyết định lịch sử
đặt vận mệnh của cả Vương Triều
và hàng triệu người dân vào tay
một người đàn ông từng mang trong mình
lời trăng trối báo thủ của cha.
Để chuẩn bị cho cuộc chiến
sinh tử này,
Trần Quốc Tuấn đã thực hiện một hành động
vĩ đại, giải tỏa hoàn toàn
những nghi kỳ trong nội bộ hoàng tộc.
Ông chủ động gặp gỡ
triều Minh Vương Trần Quang Khải,
người đang dự chức thái sư đầu triều
và cũng là dòng giỏi của vua Trần Thái Tông.
Trên một chiếc thuyền ở Bến Đông,
Trần Quốc Tuấn đã tự tay dội nước thơm
tắm rửa cho Trần Quang Khải,
xóa bỏ mọi khoảng cách và hiểm khích
gia tộc tức tụ suốt nhiều thập kỷ.
Hành động cao thường ấy
đã gắn kết hai cái đầu tối cao
của vương triều Trần thành một khối thống nhất
tạo nên sức mạnh đoàn kết
tuyệt đối trước kẻ thù chung.
Sự đoàn kết ấy nhanh chóng lan tỏa
từ hoàng tộc xuống toàn thể quân dân.
Khi hơn 50 vạn quân nguyên mong
dưới sự chỉ huy của thái tử
Thoát Hoang bắt đầu tràn qua
biên giới vào đầu năm 1285,
họ không chỉ đối mặt với
một quân đội chính quy mà là cả
một dân tộc đã thề quyết tử
để giữ vững độc lập.
Trần Quốc Tuấn đã đứng ở vị trí cao nhất
của bộ thống xoái, sẵn sàng chỉ huy
một cuộc kháng chiến vĩ đại và khốc liệt
nhất trong lịch sử chống ngoại xâm
của dân tộc, nơi tài năng điều
binh khiển tướng của ông sẽ được đẩy lên
tới đỉnh cao tột cùng.
Khi hơn 50 vạn quân nguyên dưới sự chỉ huy
của thái tử Thoát Hoang
ồ ạc tràn qua biên giới phía bắc,
kết hợp cùng mũi gọng kim từ phía nam
của tướng Toa Đô đánh lên từ chim thành,
Đại Việt rơi vào thế lưỡng đầu
thọ địch vô cùng nguy hiểm.
Đứng trước sức mạnh hủy diệt
của kẻ thù, quốc công Tiết
chế Trần Quốc Tuấn hiểu rằng
vũ khí mạnh nhất của Đại Việt lúc này
không phải là thành cao hào sâu
mà là ý chí sắt đá của toàn dân tộc.
Chính trong thời khắc
ngàn cân treo sợi tóc này,
ông đã viết lên án văn hùng hồn
hịch tướng sĩ để gửi tới
các tướng lĩnh dưới quyền.
Bằng những lời lẽ tâm huyết,
vừa trắt móc nghiêm khắc những kẻ ham sống sợ chết,
vừa khơi dậy lòng tự tôn dân tộc
và nghĩa vụ bảo vệ Giang Sơn,
bức hịch đã lây động đến tận tâm can
của vạn quân sĩ.
Khắp các doanh trại,
binh lính đồng lòng xăm lên cánh tay hai chữ
Sát Thác với tinh thần quyết chiến
quyết thắng, sẵn sàng hy sinh
tứng mạng để bảo vệ bờ cõi.
Cuộc chiến thực sự bùng nổ
vào những tháng đầu năm 1285
với quy mô và mức độ tàn khốc
chưa từng có.
Quân nguyên cậy thế đông và tinh nhuệ
liên tục ép sát, phá vỡ các phòng tuyến
đến biên giới của ta tại Chi Lăng
và nội bàng. Trần Quốc Tuấn
đã chủ động chỉ huy quân đội rút lui
chiến lược về Vạn Kiếp rồi Thăng Long
để bảo toàn lực lượng.
Tại Vương Triều, bầu không khí vô cùng
căng thẳng khi thế giặc mạnh
như triều dân thác đổ.
Trong một cuộc gặp riêng,
vua Trần Nhân Tông đã thử lòng Trần Quốc Tuấn
khi hỏi rằng thế giặc mạnh như vậy
liệu ta có nên hàng để tránh
cho nhân dân khỏi cảnh lầm thang hay không?
Không một chút do dự,
Trần Quốc Tuấn đã trả lời bằng một câu
nói lưu danh muôn thở rằng
Nếu bệ hạ muốn hàng,
xin trước hếp hãy chém đầu thần đi đá.
Lời khẳng định
đanh thép của vị tổng chỉ huy
đã củng cố niềm tin tuyệt đối cho nhà vua
đập tan mọi ý định giao động
trong nội bộ triều đình.
Để bảo toàn lực lượng trước gọng kìm
xuyết chặt của Thoát Hoang từ phía Bắc
và Toà Đô từ phía Nam, Trần Quốc Tuấn
đã thực hiện một cuộc rút lui vĩ đại
dọc theo sông Hồng về vùng
Ông đã khéo léo chỉ huy quân đội
vừa rút lui, vừa tổ chức các trận
đánh chặn khung khéo để kìm hảm
tốc độ tiến quân của giặc.
Khi quân của Thoát Hoang tiến vào
Thăng Long, chúng lại một lần nữa
phải đối mặt với một kinh thành trống rỗng.
Sự thất vọng và mệt mỏi
bắt đầu gặm nhắm tinh thần quân nguyên
khi chúng không thể tìm thấy quân chủ lực
nhà trận để tiêu diệt.
Trong khi nguồn lương thực tiếp tế từ phương Bắc
bắt đầu gặp khó khăn do các tuyến đường
vận chuyển bị quân dân ta liên tục
phục kích, cắt đứt.
Bước sang mùa hè năm 1285,
thời tiết nắng nóng gây gắt
và dịch bệnh của vùng nhiệt đới bắt đầu
tàn phá doanh trại quân nguyên,
khiến quân giặc rịu rã và suy giảm
ý chí chiến đấu rõ rệt.
Nhận thấy thời cơ vàng đã đến,
quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn quyết định
phát lệnh tổng phản công trên toàn tuyến.
Kế hoạch phản công được chuẩn bị
vô cùng chú đáo, nhắm vào các điểm
Trận mở mạng tại cửa Hàm Tử
dưới sự chỉ huy của Chiêu Văn Vương
Trần Nhật Duật đã đánh tan
đội binh thuyền của quân nguyên,
khai thông tuyến đường thủy chiến lược.
Ngay sau đó, tại bến Chương Dương,
Thái sư Trần Quang Khải cùng các tướng lĩnh
đã tổ chức một trận đánh úp thần tốc,
tiêu diệt phần lớn lực lượng đồn trú
của giặc, đẩy thoát khoang vào thế
cô lập hoàn toàn tại Thăng Long.
Tất bại liên tiếp tại Hàm Tử và Chương Dương
đã buộc thoát khoang phải đưa ra quyết định
rút quân khỏi Thăng Long để tháo chạy về nước.
Tuy nhiên, đường rút lùi của quân nguyên
đã bị Trần Quốc Túng tính toán
và giăng bẫy từ trước.
Tên đường rút chạy qua vùng Vạn Kiếp
và Sông Sách, quân nguyên liên tục
rơi vào các trận địa mai phục hiểm hốc
do đích thân Trần Quốc Túng bố trí.
Cùng lúc đó, mũi quân phía nam
của Toà Đô khi cố gắng tiến lên
phối hợp với thoát khoang
đã bị quân ta chặn đánh quyết liệt
tại Tây Kết.
Trong trận chiến oanh liệt này,
tướng giặc Toà Đô bị chém đầu
tại trận, gọng kìm phía nam
của quân nguyên hoàn toàn bị bẻ gãy.
Sự sụp đổ của cánh quân Toà Đô
khiến tàn quân của thoát khoang
rơi vào cảnh hoãn loạn tột độ.
Trên đường tháo chạy lên biên giới phía bắc,
thoát khoang bị quân ta truy kích
ráo riết bằng súng phun lửa và tên độc.
Để bảo toàn mạng sống
trước những trận mưa tên của quân dân Đại Việt,
thái tử nhà nguyên đã phải chui
vào một chiếc ống đồng lớn
bắt binh lính khiên chạy tháo thân
qua biên giới. Cuộc kháng chiến
chống quân nguyên lần thứ hai kết thúc với thắng lợi
hoàn toàn thuộc về quân dân Đại Việt.
Chỉ trong vòng nửa năm,
nửa triệu quân xâm lực khung hãng đã bị
quét sạch khỏi bờ cõi, viết nên
một trang sử vàng chói lọi về nghệ thuật
quân sự, lấy yếu chống mạnh,
lấy ức đực nhiều dưới sự chỉ huy
tài ba của quốc công tiết chế
Trần Quốc Túng.
Thắng lợi vĩ đại này không chỉ bảo vệ
hoàn toàn bờ cõi Đại Việt mà còn
dán một đòn trí mạng và uy thế
của đế quốc nguyên mong hùng mạnh.
Tuy nhiên, với bản tính
hiếu chiến và lòng tự tôn bị tổn thương
nghiêm trọng, Hoàng đế hốt tất liệt
chắc chắn sẽ không cam chịu thất bại
dễ dàng như vậy.
Bản lĩnh của Trần Quốc Túng một lần nữa sẽ
phải đối mặt với một cơn bão tắp mới
khi Vương Triều Phương Bắc đang ráo riết chuẩn bị
cho một cuộc viễn chinh phục hận
với quy mô còn khủng khiếp hơn thế.
Sự xỉ nhục của thất bại năm 1285
khiến trận lôi đỉnh.
Ngay lập tức, trừ đình nhà Nguyên đình chỉ
cuộc viễn chinh Nhật Bản để tập trung toàn lực
cho cuộc phục hận Đại Việt lần thứ ba.
Cuối năm 1287,
hơn 30 vạn quân Nguyên
cùng hàng trăm chiến thuyền
chiến đấu với sự tổng chí huy
của thoát khoan một lần nữa
ồ ạ tràn xuống phương Nam.
Lần này, rút kinh nghiệm từ những thất bại trước,
quân Nguyên mang theo một đoàn thuyền lương
khổng lồ do tướng Trương Văn Hổ
vận chuyển bằng đường biển,
Nhận định rõ ý đồ của địch,
quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn
vẫn giữ một thái độ vô cùng bình tĩnh và tự tin.
Khi được vua Trần Nhân Tông
lo lắng hỏi về tình hình chiến sự,
ông đã quả quyết khẳng định rằng
năm nay thế giặc nhàng hơn,
quân ta đã hiểu rõ đường đi nước bước của chúng
bảo đảm sẽ quét sạch quân thủ.
Chiến lược của ông lần này
tập trung vào hai mục tiêu cốt lõi,
triệt hạ nguồn lương thực tiếp tế của địch
và dụ quân chủ lực của chúng
vào một trận quyết chiến chiến lược
trên sông nước khi chúng mệt mỏi tháo dậy.
Bước ngoặt đầu tiên
của cuộc chiến diễn ra tại vùng biển Vân Đồn.
Hiểu được tầm quan trọng
của đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ,
Trần Quốc Tuấn đã tin tưởng giao phó trọng trách
cho phó tướng Trần Khánh Dư
tránh giữ vùng biển này.
Bằng lối đánh tập kích táo bạo,
Trần Khánh Dư đã đánh tan quân bảo vệ,
nhấn chìm toàn bộ hàng vạn
tấn lương thảo của quân Nguyên xuống đáy biển.
Và chí mạng vào kế hoạch xâm lược của Thoát Hoàng.
Thoát Hoàng nhanh chóng rơi
vào thế tiến thoái lưỡng nang
và buộc phải đưa ra quyết định
rút quân về nước theo hai ngã
thủy, bộ.
Nắm bắt chính xác thời điểm rút quân của giặc,
Trần Quốc Tuấn đã lên một kế hoạch
mai phục hoàn hảo trên dòng sông Bạch Đằng,
nơi thủy triệu lên xuống
có độ chênh lợi chất lớn.
Ông xài các tướng sĩ âm thầm đốn gỗ,
đẻo nhọn đầu rồi bịch sắt,
đem cắm xuống lòng sông
ở những vị trí hiểm yếu nhất.
Toàn bộ trần địa cọc gỗ khổng lồ
được ngụy trang vô cùng khéo léo
dưới làng nước triệu dân,
biến dòng sông thành một cái bẫy chết chóc khổng lồ
chờ đón đoàn thuyền chiến
của tướng giặc Ô Mã Nhi.
Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288,
khi đoàn thuyền chiến
của quân Nguyên tiến vào sông Bạch Đằng,
các chiến thuyền nhỏ của quân Trần
dưới sự chỉ huy của Nguyễn Khoái
đã chủ động ra khiêu chiến
rồi giả vờ thua chạy.
Tưởng rằng có thể dễ dàng
nhiền nát quân ta,
Ô Mã Nhi hạ lệnh cho toàn quân đuổi theo,
lọt sâu vào trần địa mai phục
đúng lúc thủy triều bắt đầu rút mạnh.
Ngay lập tức,
Trần Quốc Túng phát lệnh tổng tấn công.
Từ các ngã sông và cánh trường ven bờ,
hàng vạn quân sĩ Đại Việt
cùng các chiến thuyền lớn đổ ra
khóa chặt đường rút lui của địch,
dồn chúng vào bãi cọc nhọn đang dần lộ ra
dưới dòng nước.
Sức nước rút nhanh đẩy những chiến thuyền
bọc đồng nặng nề của quân Nguyên
đâm sầm vào hàng vạn cọc gỗ bịch sắc
bị đâm thủng và lật úp hàng loạt.
Tiếng la hé khổn loạn của quân giặc
hòa lẫn trong tiếng trống trận
vang trời của quân ta.
Trần Quốc Túng đích thân đứng trên thuyền chỉ huy
thúc quân đánh thẳng vào đội hình
đang tan rã của địch.
Trận chiến kết thúc bằng một thắng lợi hủy diệt.
Toàn bộ hạm đội thủy binh của quân Nguyên
bị xóa sổ hoàn toàn.
Hàng vạn quân giặc bị tiêu diệt
hoặc bắt sống, trong đó có cả
các tướng lĩnh cao cấp như
Ô Mã Nhi và Phàng Tiếp.
Chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng
năm 1288
đã đặt dấu chấm hết cho tham vọng
bành trướng xuống phương Nam của đế quốc Nguyên
mong hung hãng nhất thời đại.
Một quốc gia nhỏ bé đã tạo nên
kỳ tức vô tiền khoáng hậu
trong lịch sử quân sự thế giới.
Sau chiến thắng Bạch Đằng vang dội,
Giang Sơn Đại Việt sạch bóng
quân thù, bờ cõi được Thái Bình
vững chắc. Với công lao
vĩ đại, ba lần đẩy lùi đế quốc
hùng mạnh nhất bấy giờ, Trần Quốc Tốn
được vua Trần phong tặng danh hiệu cao quý nhất
Hưng Đạo Đại Vương.
Thế nhưng không màn đến
vinh hoa phú quý hay quyền lực tột đỉnh
ở chốn trừ định Thăng Long, vì
Tổng Tư lệnh Kiệt Xuất đã chọn lui về
sống những năm tháng thanh bình tại Thái ấp
vạn kiếp, nay thuộc vùng Chí Linh
Hải Dương. Tại đây, ông sống
một cuộc đời giãn dị, hòa bình
vào thiên nhiên, tiếp tục quan tâm đến
về kế sách giữ nước lâu dài
cho các thế hệ mai sau.
Những năm tháng cuối đời
của Hưng Đạo Đại Vương trôi qua trong sự
kính trọng tuyệt đối của cả hoàng tộc
lãnh trăm họ. Dù đã an trí
ở vạn kiếp, ông vẫn luôn là chỗ
giữ tinh thần vững chắc cho các vị vua Trần.
Mỗi khi triều đình gặp
việc đại sự hay có biến động phương Bắc,
các hoàng đế Trần Nhân Tông
rồi Trần Anh Tông đều lãng lội
về tận vạn kiếp để tham vấn ý kiến của ông.
Sức ảnh hưởng của ông lớn
đến mức người dân khắp nơi tôn kính
gọi ông là Đức Thánh Trần,
coi ông như một vị thánh sống
bảo hộ cho sự bình yên của đất nước.
Vào mùa thu
năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương
lâm bệnh nặng. Vua Trần Anh Tông
đã ngự giá từ Thăng Long về vạn kiếp
để tham hỏi. Đứng bên
giường bệnh của người anh hùng đã dành cả
cuộc đời phụng sự Giang Sơn, nhà vua
đau đáu hỏi rằng nếu chẳng may
có mệnh hệ gì giặt phương Bắc
lại sang xâm lược thì triều đình phải làm
thế nào để giữ nước.
Nằm trên giường bệnh, bằng hơi thở
yếu ớt nhưng trí tuệ vẫn vô
cùng mẫn tiệp, Trần Quốc Tuấn đã để lại
một lời di chút được coi là di sản
tư tưởng quân sự và chính trị
vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam.
Ông thông thả phân tích cho
nhà vua về các thời kỳ lịch sử,
về sự khác biệt giữa các triều đại
và nhấn mạnh rằng
bình pháp không có bài bản cố định,
cốt ở chỗ biết tùy cơ ứng biến.
Nhưng điều cốt lõi nhất,
sâu sắc nhất mà ông dặn do hoàng đế
chính là bài học về lòng dân.
Ông khẳng định
quân đội mạnh hay yếu,
trận địa hiểm trở hay bằng phẳng
đều không quyết định bằng sự đồng lòng
của toàn dân.
Muốn giữ vững non sông trước những thế lực
ngoại ban hùng mạnh, triều đình phải biết
chăm lo cho đời sống của nhân dân,
không được bóc lột quá mức, phải làm cho
lòng dân đồng thuận.
Ông đúc kết bằng câu nói bất hữu
khoan thư sức dân để làm kế sâu
rễ bền gốc, đó là thượng sách.
Lợi dư huấn của ông
không chỉ là một kế sách quân sự,
mà còn là một chiếc lý trị quốc nhân văn
sâu sắc, đặt nhân dân vào vị trí
trọng tâm của vận mệnh quốc gia.
Ngày 20 tháng 8
năm canh tí, tức ngày
5 tháng 10 năm 1300,
hương đạo đại vương Trần Quốc Tuấn
trút khuây thở cuối cùng tại phủ đề
vàng kiếp, hưởng thọ 69 tuổi.
Trước khi mất,
ông dặn do người nhà phải hỏa tán,
trò cốt bỏ vào bình tròn,
rồi đem chôn trong rừng an lạc,
trồng cây lên trên, sao cho người ngoài
không thể nhận biết được phần mộ
của ông ở đâu.
Sự ra đi của hương đạo đại vương
là một tổn thất vô cùng lớn lao,
khiến cả nước tiếc thương vô hạn.
Đức vua và triều đình đã làm lễ
quốc tang trang trọng nhất để tưởng nhớ
người anh hùng vĩ đại của dân tộc.
Sau khi ông mất, để tri ân công đức
trời biển của ông, nhân dân đã lập
đền thờ ông ở khắp mọi miền đất nước,
đặc biệt là đền Kiếp Bạc
ở Hải Dương và đền Trần
ở Nam Định.
Trải qua hàng trăm năm lịch sử,
hình tượng Đức Thánh Trần trong thế giới tâm linh
của người Việt vẫn luôn lung linh tỏa sáng
là biểu tượng của lòng yêu nước,
ý chí tự cường và sức mạnh
đoàn kết dân tộc.
