TÓM TẮT CUỘC ĐỜI NGÔ QUYỀN - CHẤM DỨT 1000 NĂM BẮC THUỘC

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIVideo kể về cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Quyền, vị anh hùng dân tộc đã chấm dứt hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc. Bằng tài năng quân sự kiệt xuất, đặc biệt là chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng năm 938, ông đã mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài, thiết lập vương triều Ngô và đặt nền móng cho chủ quyền quốc gia Việt Nam.
Chào mừng các bạn đã quay trở lại với Say Sử.
Nhắc đến Ngô Quyền, chúng ta nhớ ngay đến vì anh hùng dân tộc đã mở ra thời kỳ độc lập từ chủ lâu dài cho nước Việt
sau hơn một thiên niên kỷ bắt thuộc bằng chiến thắng vĩ đại trên sông Bạch Đằng năm 1938.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau ngược dòng thời gian để tìm hiểu chi tiết về cuộc đời của ông
trừ một cậu bé sinh ra ở vùng đất đường lâm lịch sử
cho đến khi trở thành vị vua đặt nền móng vững chắc cho Giang Sơn xã Tắc.
Câu chuyện của Ngô Quyền bắt đầu tại vùng đất đường lâm, nay thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
Đây là vùng đất trung du bán sơn địa, nơi có truyền thống võ học và lòng yêu nước nồng nàng.
Cũng là nơi sinh ra một vị anh hùng khác, trước đó là Phùng Hưng.
Ngô Quyền sinh nề 12 tháng 3 năm Mậu Ngọ, tức năm 898,
trong một gia đình hào trưởng có thế lực lớn ở địa phương.
Cha của ông là Ngô Mân, một người có đức độ, dự chức châu mục đường lâm.
Ngay từ khi chào đời, cậu bé Ngô Quyền đã mang những nét ngoại hình đặc biệt.
Được sử sách ghi lại là có vẻ ngoài khôi ngô, mắt sáng như chớp,
dán đi thông dung như hổ, và trên lưng có ba nốt rùi đen.
Người cha Ngô Mân thấy vậy vô cùng mừng rỡ, tin rằng con mình sau này sẽ làm nên nhịp lớn,
nên đã đặt tên con là Quyền, với mong muốn con trai sẽ nắm giữ quyền bính, giúp nước, cứu dân.
Lớn lên trong một gia đình hào trưởng, Ngô Quyền được giáo dục vô cùng chú đáo cả về văn lẫn võ.
Ông không chỉ chăm chỉ đọc sách, nghiên cứu binh pháp mà còn rèn luyện võ nghệ ngày đêm.
Sức mạnh thể chất phi thường kết hợp với trí tuệ thông minh thiên bẩm
giúp Ngô Quyền nhanh chóng nổi danh khắp vùng là một trang nam tử văn võ song toàn.
Ở tuổi trưởng thành, ông đã bột lộ rõ tư chất của một nhà lãnh đạo.
Điềm tĩnh, mưu lược, giàu lòng nhân ái nhưng cũng vô cùng quyết đoán.
Văn lên ấy không phải tự nhiên mà có.
Nó được hung đúc từ chính những biến động dữ dội của lịch sử nước nhà trong giai đoạn bấy giờ.
Đó là thời kỳ cuối thế kỷ thứ 9, đầu thế kỷ thứ 10,
khi triều đình nhà đường ở phương Bắc rơi vào cảnh hỗn loạn,
suy yếu tột cùng và cuối cùng bị sụp đổ.
Tần dùng cơ hội ngàn năm có một này.
Năm 905, một hào trưởng đất Đường Bồ là Khúc Thừa Dụ đã nổi dậy,
đánh đuổi quan đô hộ nhà đường, tự xưng là Tiết Độ Sứ,
đặt nền móng đầu tiên cho nền tự chủ của nước ta.
Ngô quyền khi ấy đang ở độ tuổi thanh xuân,
chứng kiến những bước chuyển mình vĩ đại của lịch sử dân tộc.
Ông hiểu rằng thời thế tạo anh hùng,
và bản thân mình cần phải tức lưỡi năng lực để sẵn sàng gánh vác sứ mệnh khi tổ quốc cần.
Sau khi họ khúc suy yếu trước áp lực từ nhà Nam Hán,
một thế lực phong kiến mới nổi lên ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay.
Cục diện chính trị ở nước ta lại một lần nữa rơi vào thế chao đảo.
Lúc này, một vị tướng cũ của họ khúc là Dương Đình Nghệ,
người vùng Thanh Hóa, đã đứng lên tiếp tục sự nghiệp từ chủ.
Dương Đình Nghệ là một hào trưởng có uy tính lớn.
Ông đã chiêu mộ hàng ngàn nghĩa sĩ,
xây dựng một lực lượng quân đội mạnh mẽ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán.
Nghe danh tiếng và chí hướng của Dương Đình Nghệ,
Ngô quyền đã quyết định rời quê hương Đường Lâm,
mang theo một số thuộc hạ thân tính vào Thanh Hóa để đầu quân dưới trướng vị chủ tướng này.
Quyết định vào Ái Châu, tức Thanh Hóa ngày nay,
là một bước ngoặt lớn đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của Ngô quyền.
Tại đây, ông nhanh chóng chứng tỏ được năng lực vượt trội của mình.
Không chỉ xuất sắc trong các trận tập trận,
Ngô quyền còn hiến kế nhiều mưu lực quân sự sắc xảo,
giúp Dương Đình Nghệ củng cố lực lượng vững chắc.
Nhận thấy Ngô quyền là một người tài đức vẹn toàn,
có chí khí phi thường, Dương Đình Nghệ vô cùng yêu mến và tin cậy.
Để thắt chặt thêm mối quan hệ và bày tỏ lòng tin yêu tuyệt đối,
Dương Đình Nghệ đã gã con gái yêu của mình là Dương Thị Như Ngọc cho Ngô quyền.
Từ một người thế gia ở đường Lâm, Ngô quyền đã trở thành con rể,
đồng thời là một trong những tướng lĩnh chủ chốt, cánh tay đắc lực nhất của Dương Đình Nghệ.
Năm 931, Dương Đình Nghệ phát động cuộc tấn công quy mô lớn ra phủ Tống Bình,
nay là Hà Nội, đánh bại quân Nam Hán và giành lại quyền tự chủ cho đất nước.
Sau chiến thắng vang dụ này, Dương Đình Nghệ tự xưng là tiết độ xứ, tiếp quản việc cai trị đất nước.
Để giữ vững bờ cõi và quản lý các vùng đất trọng yếu,
ông đã phân phong cho các tướng lĩnh thân cận đi trấn giữ các địa bàn chiến lược.
Với tài năng cai trị và uy tín sẵn có, Ngô quyền được Nhạc phụ Tinh Tưởng
giao cho trọng trách trấn thủ Ái Châu, vùng đất căng bản, cái nồi phát tích của lực lượng họ Dương.
Nhận nhiệm vụ trấn thủ Ái Châu, Ngô quyền đã dốc toàn bộ tâm huyết
để chăm lo cho đời sống của người dân nơi đây.
Ông thực hiện nhiều chính sách tiến bộ, khuyến khích phát triển đông nghiệp,
giữ gìn trật tự an ninh và thu phục lòng người.
Dưới sự cai trị của ông, vùng đất Ái Châu không chỉ có cuộc sống thái bình, ấm no,
mà còn trở thành một hậu phương vô cùng vững chắc về cả kinh tế lẫn quân sự.
Ngô quyền trú trọng xây dựng một lực lượng tinh binh thiện chiến,
chỉ lục nhìn mình, sẵn sàng ứng phó với mọi biến cố.
Tiếng lành đồn xa, hào kiệt khắp nơi lũ lược kéo về Ái Châu
xin quy phục dưới trướng Ngô quyền, giúp ông ngày càng củng cố thế lực và uy danh của mình.
Thời gian trôi qua, cuộc sống yên bình tại Ái Châu và nền độc lập non trẻ của đất nước
tưởng chừng như đang trên đà phát triển ổn định.
Thì một cơn sóng gió lớn từ lòng phản trắc bất ngờ ập đến,
đẩy vận mệnh của dân tộc vào một khuất quanh đầy thử thách,
đòi hỏi Ngô quyền phải đứng lên gánh vác một sứ mệnh lịch sử vĩ đại hơn bao giờ hết.
Cơn sóng gió bất ngờ ập đến từ lòng phản trắc,
chính là sự kiện xảy ra vào tháng 3 năm Đinh Dậu, tức năm 937.
Kiều Công Tiễn, một nhà tướng dưới trướng của Dương Đình Nghệ,
vì lòng tham quyền lực tột cùng, đã nhẫn tâm ra tay sát hại nhạc phụ của Ngô quyền
để cướp đoạt chức tiết đổ xứ.
Hành động nghịch tặc này không chỉ gây chấn động khắp cõi,
mà còn trực tiếp đe dọa đến nền tự chủ mà nhân dân ta vừa khó nhọc giành lại được.
Khi tin dữ truyền đến Ái Châu, Ngô quyền vô cùng đau sót và phẫn nộ.
Vị tướng trẻ ngay lập tức ý thức được rằng
mình không thể ngồi yên nhìn Giang Sơn rơi vào tay kẻ phản bội,
đồng thời mở đường cho giặc ngoại xăm phương Bắc quay trở lại.
Ngô quyền lập tức phát hệch truyền đi khắp nơi để vạch trần tội ác của Kiều Công Tiễn,
kêu gọi các hào kiệt và nhân dân cả nước cùng chung tay tụ nghĩa.
Tiếng gọi cứu quốc của Ngô quyền nhận được sự hướng ứng nồng nhiệt từ khắp các châu huyện.
Tại Ái Châu, ông nhanh chóng tập hợp lực lượng,
ngày đêm rèn lượng binh sĩ, tức trữ lương thảo để chuẩn bị cho một cuộc tiến quân ra Bắc.
Các tướng lĩnh, hào trưởng từ nhiều vùng miền khác nhau,
trong đó có cả những người con ưu tú như Đinh Công Trứ hay Kiều Công Hãng,
đều một lòng hướng về Ngô quyền, tôn ông là minh chủ để lãnh đạo cuộc diệp loạn.
Sự ủng hộ tuyệt đối của lòng dân đã tạo nên một sức mạnh vô hình nhưng cực kỳ to lớn,
chuẩn bị thối bùng ngọn lửa chính nghĩa, quét sạch kẻ phản nghịch.
Trong khi đó, ở Phú Thành Đại La, Kiều Công Tiễn nhận ra
mình bị cô lập hoàn toàn trước làn sóng phấn nộ của cả dân tộc.
Lo sợ trước sức mạnh vụ y thế của Ngô quyền đang ngày một dân cao,
kẻ phán tạc đã phạm thêm một sai lầm chí mạng,
sai sứ mang vàng bạc cho báo sang thần phục và cầu viện nhà Nam Hán.
Đối với vù Nam Hán là Lưu Cung, đây là một cơ hội vàng không thể bỏ lỡ
để thực hiện giả tâm xâm lược nước ta một lần nữa.
Hắn lập tức phong cho con trai mình là Vạn Vương Lưu Hoàng Tháo làm Giao Vương,
thống lĩnh một lực lượng thủy quân hung hậu tiến theo đường biển vào nước ta,
còn bản thân Lưu Cung thì đóng quân ở Hải Môn để làm hậu thuẫn.
Hành động rước vôi về giày mã tổ của Kiều Công Tiễn
đã chính thức đẩy vận mệnh nước Việt vào một thử thách sinh tử.
Biết được tin quân Nam Hán chuẩn bị tràn sang,
Ngô Quyền nhận định tình thế vô cùng khẩn trương.
Ông quyết định phải hành động thật nhanh chóng và dứt khoát.
Mục tiêu đầu tiên là phải tiêu diệt bằng được phản tạc Kiều Công Tiễn
ngay tại xảo huyệt Đại La để dẹp trừ mối hỏa bên trong,
làm mất đi chỗ dựa của quân xâm lược trước khi chúng kịp đặt chân tới đất nước ta.
Mùa thu năm 938, Ngô Quyền hạ lệnh xuất quân từ Ái Châu, Rầm Rộ tiến ra phía Bắc.
Với tinh thần quy chiến và sự ủng hộ của nhân dân dọc đường đi,
nghĩa quân của Ngô Quyền tiến quân nhanh như vũ báo,
vượt qua các chốt chặn một cách dễ dàng và nhanh chóng bao vây chặt chẽ thành Đại La.
Sức mạnh chính nghĩa của quân Ngô Quyền
nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự yếu ớt của phe cánh phản tạc.
Thành Đại La bị hạ, Kiều Công Tiễn bị bắt giữ
và chịu tội đáng đời cho hành vi phản quốc của mình.
Việc dẹp loạn thành công nhanh chóng không chỉ trả được thù cho nhạc phụ Dương Đình Nghệ,
mà quan trọng hơn, nó đã giúp thống nhất lực lượng của toàn dân tộc về một mối
dưới sự chỉ huy thống nhất của Ngô Quyền.
Tuy nhiên, niềm vui chưa trọn vẹn thì bóng ma chiến tranh từ phương Bắc đã cận kề
khi chiến thuyền của Lưu Hoàng Tháo đang rầm rộ vượt biển
tiến vào cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc.
Đứng trước thử thách cực kỳ lớn lao này, Ngô Quyền không hề nào núng.
Ông tập hợp các tướng lĩnh tại Phủ Thành Đại La để bàn kế sách kháng chiến.
Nhìn nhận một cách sâu sắc về tương quan lực lượng, Ngô Quyền chỉ rõ rằng
quân Nam Hán mạnh về thủy chiến, cậy có thuyền to để đi sâu vào nội địa nước ta qua hệ thống sông ngòi.
Nếu ta không chủ động chặn đứng chúng nay từ cửa ngõ để chúng tiến sâu vào đất liền
thì cuộc chiến sẽ trở nên vô cùng gian nan.
Vị chủ tướng Tài Ba đã hướng tầm mắt của mình về phía vùng cửa sông Bạch Đăng,
nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố địa lợi hiểm trở
để bày ra một thế trận mai phục độc nhất vô nhì trong lịch sử quân sự nước nhà.
Để chuẩn bị cho trận đánh quyết định, Ngô Quyền đã huy động hàng ngàn binh sĩ và người dân địa phương
vào rừng đẳng những cây gỗ lớn, vạt nhọn đầu và bọc sắc kiên cố ở đầu nhọn.
Những chiếc cọc gỗ khổng lồ này sau đó được vận chuyển bằng bè mãng ra lòng sông Bạch Đăng,
cắm chặt xuống lòng sông tại những vị trí chiến lược gần cửa biển.
Kế hoạch của Ngô Quyền dựa trên sự am hiểu tường tận về quy luật thủy triều của vùng biển Đông Bắc.
Khi thủy triều lên, nước dân cao sẽ che lắp hoàn toàn bãi cọp nhọn.
Khi thủy triều rút xuống, bãi cọp sẽ lộ ra như một hàm răng quái vật sẵn sàng nhiên nát mọi chiến thuyền đi qua.
Đây chính là một cái bẫy khổng lồ được bố trí hết sức công phu và bí mật để chờ đón đoàn quân xâm lược.
Cùng với việc cắm cọp, Ngô Quyền bố trí các lực lượng mai phục tinh nhuệ ở hai bên bờ sông,
ẩn nắp kỹ càng trong các vùng lau lách và kênh đạch chằn chịch.
Ông cũng chuẩn bị một lực lượng thuyền nhẹ, cơ động để làm nhiệm vụ dụ địch và bẫy.
Với sự giám sát chặt chẽ của Ngô Quyền, không khí chuẩn bị chiến đấu sụp sôi khắp vùng cửa sông,
mỗi người lính đều hiểu rằng vận mệnh của đất nước đang nằm cả vào trận chiến sắp tới trên dòng sông lịch sử này.
Mùa đông năm 938, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh ngoài khơi Vĩnh Bắc Bộ,
cũng là lúc những chiếc chiến thuyền khổng lồ của hạm đội Nam Hán lọt vào tầm mắt của các vòng gác tiền tiêu của quân ta.
Chủ tướng Lưu Hoàng Tháo ngồi trên chiếc xoái hạm lộng lẫy, đầy tự mãn, nhìn về phía dải đất phương Nam.
Hắn tự tin rằng với sức mạnh vượt trội của những chiếc thuyền lớn, kiên cố,
mang theo hàng vạn tinh binh thiện chiến, từng khuynh đảo nhiều vùng sông nước,
việc đệ bẹp một đất nước vừa trải qua biến cố nội loạn là điều nằm trong tầm tay.
Sự kiêu nạo ấy đã che mắt kẻ thù, khiến chúng hoàn toàn mất cảnh giác
và không thể lường trước được một cạm bẫy khủng khiếp đang đợi sẵn phía trước.
Ngô Quyền đứng trên thuyền chỉ huy, bình tĩnh quan sát hướng gió và sự lên xuống của mực nước triều.
Đúng như tính toán của ông, khi nước triều bắt đầu dân cao, tràn bờ
và che khuất hoàn toàn những đầu cọp nhọn bọc sắc dưới lòng sông,
ông phát lệnh cho một toán thuyền nhẹ do những binh sĩ dũng cảm am tường sông nước điều khiển tiến ra ngành chiến.
Nhiệm vụ của toán quân này không phải là quyết chiến tiêu diệt địch,
mà là vừa đánh vừa lui, vờ như thất thế,
để dụ đoàn thuyền đồ sộ của Lưu Hoàng Tháo tiến sâu vào vùng cửa sông Bạch Đặng.
Trận giáp chiến mở màng diễn ra nhanh chóng, quân ta chủ động giả thua,
hốp khoảng quay đầu chèo thuyền chạy ngược về phía thượng Lưu.
Nhìn thấy quân Việt rút chạy một cách hỗn loạn, Lưu Hoàng Tháo lập tức trúng kế.
Háng cho rằng quân ta yếu thế, không chịu nổi một đòn tấn công,
nên đã hạ lệnh cho toàn bộ hạm đội thừa thắng sông lên,
dốc toàn lực đuổi theo, hòng tiêu diệt gọn lực lượng kháng chiến.
Những chiếc chiến thuyền khổng lồ của Nam Hán rầm rộ vượt qua cửa biển,
hung hăng tiến sâu vào lòng sông Bạch Đặng,
mà không hề hay biết chúng đang lướt ngay phía trên bãi cọc nhọn,
chỉ cách đáy thuyền vài gan tay.
Khi đoàn thuyền của giặc đã hoàn toàn lọt vào trần địa mai phục,
ngô quyền vẫn kiên nhẫn chờ đợi,
hướng mắt nhìn về những cột nước đang rút dần ở các bãi bồi ven sông.
Khi đến triều vừa qua, dòng nước bắt đầu đổ mạnh ra biển với tốc độ nhanh chóng,
làm hiển lộ dần những bãi cọc nhọn hoắc, dũng mảnh nhô lên khỏi mặt nước.
Đây chính là thời cơ ngàn năm có một mà ngô quyền đã chờ đợi.
Từ chiếc thuyền chỉ huy, tuyến trống trận liên hồi dồn dập vang lên, vang động cả một phùng trời đất.
Đó là hiệu lệnh tổng tấn công.
Ngay lập tức, từ các ngã đường, các nhánh sông nhỏ và những bãi lau lách hai bên bờ,
hàng trăm chiếc thuyền chiến hạng nhẹ, cơ động của quân ta bất ngờ lau ra như những mũi tên,
chặn đứng đường rút lui và tấn công trực diện vào đội hình của dập.
Quân Nam Hán đang trong thế rượt đuổi ham hở, bỗng chóc rơi vào cảnh hỗn loạn tột độ
khi bị tấn công bất ngờ từ mọi phía.
Lưu Hoàng Tháo hốt hoảng, ra lệnh cho toàn quân quay đầu rút chạy ra biển để tránh thế gọng kìm.
Thế nhưng, mọi chuyện đã quá muộn mạng.
Nước trừ rút nhanh, đẩy những chiếc thuyền lớn nặng nề của dạc trôi băng băng về phía cửa sông,
lau thẳng vào bãi cọc nhọn bọc sắc đang nhô lên cuồn cuộn.
Những tiếng va đập kinh hoàng vang lên liên tiếp, hết chiếc thuyền này, đến chiếc thuyền khác,
bị cọc nhọn đâm thủng lòng thuyền, nước tràn vào xối xã,
làm thuyền bị lật úp hoặc mắc kẹt cứng, không thể di chuyển được.
Tận dụng thời cơ, dạc đang hoang mang, hỗn loạn.
Quân dân nước Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của ngô quyền
đã trút cơn mưa tên lửa, đá và lau nhọn xuống đầu thù.
Những chiếc thuyền bị mắc càng trở thành những tấm bia tập bắn khổng lồ,
bốc cháy ngùng mục giữa dòng sông.
Tiếng la hét thảm thiết của quân rêu, tiếng gào khóc của binh sĩ Nam Hán
hòa cùng tiếng sóng vỗ, tạo nên một cảnh tượng vô cùng hào hùng nhưng cũng đầy bi trán.
Nhiều binh sĩ dạc rơi xuống nước, bị dòng nước siết cuốn trôi.
Số khác cố gắng bám vào những thân cọc nhọn
nhưng cũng không thoát khỏi những mũi tên sắc bén của quân ta.
Trong trận chiến quyết định này, đích thân ngô quyền đã dẫn đầu một cánh quân chủ lực,
áp sát và tấn công trực diện vào chiếc xoái hạm của Lưu Hoàng Tháo.
Sức mạnh chính nghĩa và tinh thần quyết tử của quân dân ta
đã hoàn toàn đè bẹp ý chí chiến đấu của kẻ thù.
Trong lúc hỗn chiến, chủ tướng Lưu Hoàng Tháo đã bị tiêu diệt ngay trên chiếc thuyền của mình.
Mất đi người chỉ huy tối cao, số quân Nam Hán còn lại hoàn toàn tan rã,
kẻ đầu hàng, người bỏ mạng, hơn một nửa binh sĩ giặc
đã phải bỏ sát nơi lòng sông Bạch Đằng lịch sử.
Nghe tin con trai tử trận và toàn bộ hạm đội bị tiêu diệt hoàn toàn,
vua Nam Hán là Lưu Cung đang đóng quân ở biên giới, vô cùng kinh hoàng và đau sót.
Hắn nhận ra rằng tinh thần và ý chí của người Việt là không thể lai chuyển,
liền hạ lệnh thu quân, từ bỏ hoàn toàn giả tâm xâm lược nước ta.
Sau chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, Giang Sơn Đất Việt sạc bóng quân thù,
nên độc lập từ chủ của dân tộc được giữ vững hơn bao giờ hết.
Uy danh của ngô quyền vang dội khắp cõi,
từ những vùng núi cao hiểm trở cho đến miền đồng bằng ven biển,
ai ai cũng kính phục tài mưu lược và tắm lòng vì nước, vì dân của ông.
Đứng trước một Giang Sơn vừa được giải phóng khỏi áp đô hộ ngàn năm,
ngô quyền hiểu rằng việc cấp bách lúc này không chỉ là bảo vệ bờ cõi bằng binh đao,
mà là phải xây dựng một thể chế chính trị độc lập vững mạnh
để khẳng định chủ quyền hoàn toàn của nước Nam,
tách biệt hẳn với các triều đại phương Bắc.
Mùa xuân năm kỷ hợi, tức năm 939, ngô quyền chính thức xưng vương.
Quyết định xưng vương của ông mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại.
Khác với các vị thế hệ đi trước, như họ khúc chỉ tự xưng là tiết độ sứ,
một chức quan cai trị của trừ định phương Bắc để tránh xung đột.
Ngô quyền đã hiên ngang bước lên ngôi vị cao nhất của một quốc gia độc lập.
Hành động này là lời tuyên bố đanh thép gửi tới các thế lực phong kiến phương Bắc rằng,
nước Việt là một quốc gia có chủ quyền riêng biệt, có hoàng đế riêng trị vị,
không còn là một quận huyện hay thuộc địa của bất kỳ ai.
Một trong những quyết định chiến lược đầu tiên của ngô vương sau khi lên ngôi
là việc lựa chọn kinh đô cho triều đại mới.
Thay vì tiếp tục đóng đô ở phủ thành Đại La, nơi vốn là trung tâm cai trị,
là xào huyệt của các quan đô hộ phương Bắc suốt nhiều thế kỷ,
ngô quyền đã quyết định dời đô về Cổ Loa, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội.
Việc chọn Cổ Loa làm kinh đô mang một thông điệp chính trị cực kỳ sâu sắc.
Cổ Loa từng là hoàng đô của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương
từ thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên.
Bằng việc định đô tại đây, ngô quyền muốn nối lại sợi dây lịch sử truyền thống,
tiếp nối quốc thống vẻ vang của các vua hùng, vua thục,
vốn đã bị đứt gãy sau hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc Đen Tối.
Đó là sự khẳng định mạnh mẽ về sự hồi sinh của một dân tộc
có bề dậy lịch sử và văn hóa lâu đời.
Khi định đô tại Cổ Loa, ngô quyền bắt tay ngay và công cuộc thiết lập một triệu đình mới.
Ông bãi bỏ hoàn toàn các chức quan cũ do chính quyền đô hộ phương Bắc áp đặt,
đồng thời tự mình thiết lập một hệ thống quan chế mới từ Trung ương đến địa phương.
Ngô quyền đặt ra các chức quan văn, quan võ,
quy định cụ thể về nghi lễ chầu triều của các quan
và định ra màu sắc áo mũ cho từng phẩm cấp
để tăng thêm phần tôn nghiêm, uy nghi của triệu đình độc lập.
Những cải cách này, dù còn ở mức độ sơ khai,
nhưng đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiên
cho nền hành chính quốc gia của các triệu đại phong kiến độc lập về sau.
Bên cạnh việc củng cố bộ máy triệu đình Trung ương,
ngô vương cũng đặc biệt chú trọng đến việc quản lý các vùng đất xa xôi.
Ông hiểu rằng để giữ vững sự ổn định của đất nước,
cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa quyền lực Trung ương
và sự tự trị của các hào trưởng địa phương.
Ngô quyền đã phong tước và giao quyền quản lý
các châu huyện trọng yếu cho những tướng lĩnh có công
trong cuộc kháng chiến chống Nam Hán
và những hào trưởng uy tín, trung thành.
Trong suốt thời gian trị vị ngắn ngũi của mình,
ngô quyền luôn đau đấu với việc an dân,
phục hồi kinh tế sau nhiều năm chiến tranh tàn phá.
Ông khuyến khích người dân quay trở lại sản xuất nông nghiệp,
khai hoang, lập ấp, phát triển giao thương nội địa.
Dưới sự cai trị anh minh và quyết đoán của ông,
đời sống nhân dân dần đi vào ổn định,
tiếng cười nói rộn ràng lại xuất hiện trên các cánh đồng, bến sông.
Nước Việt bước đầu cảm nhận được không khí thanh bình,
tự do, thật sự của một quốc gia đập lập và tự chủ.
Hương trừ cổ loa dưới sự trị vị của ngô quyền,
dù chỉ mới đi qua những bước đi chập chỉnh đầu tiên,
nhưng đã gieo vào lòng người dân nước Việt
niềm tin mãnh liệt vào một tương lai tự chủ, thanh bình.
Thế nhưng, bánh xe thời gian và quy luật sinh lão bệnh tử khắc nghiệt của Tàu Hóa
lại không chờ đợi một ai,
kể cả đó có là vị anh hùng thiên cổ
vừa lập nên kỳ tích hiện hấp nhất lịch sử dân tộc.
Sau hơn 5 năm giữ vững môi vương,
gánh vác trên vai cả gian sơn xả tắc mới được phục hưng,
sức khỏe của ngô quyền bắt đầu suy giảm nhanh chóng
do những năm tháng chinh chiến dạng dày
và sự lao lực vì việc nước ngày đêm.
Nhận thấy bản thân không còn nhiều thời gian,
mô quyền luôn đau đấu nỗi lo
về tương lai của vương triều non trẻ.
Con trai trưởng của ông là ngô Sương Ngập
vẫn còn chưa đủ y tín
để tự mình khống chế toàn bộ cục kỵ chính trị
vốn đầy rảy những rạn nứt tiềm ẩn
giữa các hào trưởng địa phương.
Trong những ngày nằm trên giường bệnh tại cung điện Cổ Loa,
mô quyền đã đưa ra một quyết định hề trọng.
Ông trao gửi gắm hoàng nam ngô Sương Ngập
cho một người em vợ
đồng thời là một tướng lĩnh vô cùng trung thành
có uy vọng lớn bấy giờ
là Dương Tam Kha,
con trai của Dương Đừng Nghệ.
Ngô Vương hy vọng rằng
với tình nghĩa gia tộc và lòng trung quân ái quốc
Dương Tam Kha sẽ ra sức phò tá
giúp con trai ông giữ vững vương quyền
tiếp tục chèo lái con thuyền đất nước.
Ngày 18 tháng Diên năm Giáp Thình
tức năm 944
vì anh hùng dân tộc Ngô Quyền
trúc hơi thở cuối cùng
tại kinh đô Cổ Loa
hưởng thọ 47 tuổi.
Ngay sau khi Ngô Quyền nằm xuống
những lo ngại của ông về sự bất ổn của Vương Triều
đã lập tức trở thành hiện thực.
Dương Tam Kha
thay vì làm tròn bốn phận phò tá cháu ruột
như lời di chúc
đã nổi lòng tham quyền lực
tự ý cướp ngôi của cháu
xưng là Dương Bình Vương.
Sự kiện này khiến Ngô Sương Ngập
phải bỏ trốn về vùng Nam Sách
nương nấu trong gia đình một hào trưởng.
Hành động tím ngôi của Dương Tam Kha
đã làm rạng nứt nghiêm trọng
niềm tin của các hào trưởng địa phương
đối với triều đình Trung ương.
Đây chính là mầm móng trực tiếp
đẩy đất nước vào thời kỳ hỗn loạn
tranh giành cá cứ của các thế lực phong kiến địa phương
mà lịch sử gọi là
nạn loạn 12 xứ quân
kéo dài suốt hơn 2 thập kỷ
sau đó.
Mặc dù Vương Triều Họa Ngô sau khi ông mất
rơi vào cảnh suy vi và biến động
nhưng những gì ngô quyền đã cống hiến cho dân tộc
thì vẫn mãi trường tồn cùng thời gian.
Sử gia Lê Văn Hưu
trong bộ Đại Việt Sử ký
đã dành những lời trang trọng nhất
để ca ngợi ông.
Tiền ngô Vương có thể lấy
quân mới nhóm hợp của đất Việt ta
mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoàng Tháo
mở nước xương Vương
làm cho người phương Bắc không dám
lại sang lần nữa.
Trí dũng của ông không chỉ cứu dân khỏi khổ
mà còn lập nên công nghiệp vĩ đại
dựng lại cơ đồ.
Di sản lớn nhất
mà ngô quyền để lại cho Hậu Thế
chính là việc ông đã chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị
kéo dài hơn một ngàn năm
của các triều đại phong kiến phương Bắc
mở ra thời đại độc lập thực sự
và lâu dài cho dân tộc.
Hàng ngàn năm đã trôi qua
hình ảnh vị chủ tướng uy nghi
đứng trên chiến thuyền chỉ huy
giữa dòng sông Bạch Đằng cuộn sóng
vẫn luôn là biểu tượng bất diệt cho tinh thần yêu nước
và khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam.
