TÓM TẮT CUỘC ĐỜI TẦN THỦY HOÀNG

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Lịch sử Trung Hoa đã chứng kiến vô số vị vua, nhưng không một ai để lại dư chấn mạnh mẽ và gây tranh cãi gây gắt như Tân Thủy Hoàng.
Người ta gọi ông là vị vua mở ra kỷ nguyên đế quốc, kẻ thống nhất thiên hạ, người xây dựng vạn lý trường thành,
nhưng cũng là gã bạo chúa khét tiếng với chính sách cai trị khắc nghiệt và những cuộc thanh trừng đám máu.
Vượt lên trên những nhãn mát của hậu thế, Tân Thủy Hoàng, hay tên thật là Doanh Chính,
là một nhân vật mà cuộc đời ông chính là minh chứng hùng hồn nhất cho câu nói, vận mệnh, không dành cho những kẻ yếu đuối.
Câu chuyện bắt đầu vào năm 259 trước công nguyên tại Hàm Đan, kinh đô của nước Triệu.
Đây là thời kỳ khốc liệt nhất của giai đoạn chiến quốc, khi bảy nước lớn liên tục chiếm giết lẫn nhau để giành quyền bá chủ.
Doanh Chính cất tiếng khóc chào đời trong một hoàn cảnh vô cùng ngạc nghèo và ói oăm.
Cha ông là Doanh Dị Nhân, một phương tử nước Tần đang bị giữ làm con tinh tại nước Triệu.
Mẹ ông là Triệu Cơ, một kỹ nữ xinh đẹp vốn được thương nhân giàu có lã bất vi dân cho Dị Nhân.
Vì mối quan hệ giữa hai cường quốc Tần và Triệu lúc bấy giờ vô cùng căng thẳng,
cuộc sống của đứa trẻ Doanh Chính chẳng khác nào ngàn cân treo sợi tóc,
có thể bị đem ra hành quyết bất cứ lúc nào để trúc giận khi hai nước xảy ra xung đột.
Nằm Doanh Chính lên ba tuổi, biến cố lớn đầu tiên của cuộc đời ông nổ ra.
Nhận thấy quân Tần sắp động binh đánh Triệu,
lã bất vi đã dùng tiền bạc và mưu kế đưa được Dị Nhân trốn thoát về nước Tần để mưu cầu vương vị,
nhưng lại nhẫn tâm bỏ mặt hai mẹ con Doanh Chính ở lại giữa hang cọp hàm đan.
Suốt sáu năm trời sau đó, Doanh Chính và mẹ phải sống chui lũi, che giấu thân phận,
chịu đựng đủ mọi sự khinh miệt, hát hũi và cả sự truy lùng của người dân nước Triệu.
Tuổi thơ không có bóng dáng người cha, cũng không có nhung lụa cung đình,
chỉ có nỗi sợ hãi và nhục nhã đã rèn vũa nên một Doanh Chính lạnh lùng, trầm lặng và cực kỳ đa nghi.
Đứa trẻ ấy đã sớm hiểu ra một chân lý tàn khốc của thời loạn.
Trong thế giới của kẻ mạnh, sự tử tế là xa xử,
chỉ có quyền lực tuyệt đối mới là thứ duy nhất bảo vệ được tính mạng của chính mình.
Vận mệnh xoay vần vào năm 251 trước Công Nguyên,
sau nhiều nỗ lực ngoại giao và áp lực quân sự từ nước Tần,
mẹ con Doanh Chính cuối cùng cũng được đón trở về nước Tần.
Không lâu sau, cha ông lên ngôi vua nhưng lại băng hà sớm do bạo bệnh.
Nằm 247 trước Công Nguyên, khi vừa tròn 13 tuổi,
cậu bé Doanh Chính chính thức bước lên ngai vàng, trở thành vua nước Tần.
Thế nhưng, một đứa trẻ 13 tuổi làm sao cai trị được một cường quốc đang trỗi dày mạnh mẽ?
Toàn bộ đại quyền triều chính lúc này lọt thởm vào tay Lã Bất Vi,
người giờ đây đã là thừa tướng, nắm quyền sinh sát trong triều,
và được Doanh Chính gọi là trọng phụ.
Vị vua trẻ bắt đầu những năm tháng trị vị đầu tiên
như một con rối bị giam lỏng dưới cái bóng quá lớn của Lã Bất Vi.
Khi Doanh Chính dần trưởng thành, ông nhận ra Hoàng cung Hàm Dương
không phải là nơi an toàn, mà là một ổ phục kích của những mưu đồ phản nghịch.
Không chỉ bị kiềm kẹp bởi thư tướng Lã Bất Vi,
vị vua trẻ còn phải đối mặt với một vết nhơ ngay trong chính gia đình mình.
Mẹ ông, Thái hậu Triệu Cơ, do cô đơn ở hậu cung,
đã lén lút tư thông với một gã thái giám giả mạo tên là Lào Ái,
thậm chí đã sinh ra hai đứa con riêng.
Được Thái hậu dung túng, Lào Ái được phong hậu,
lập phe cánh riêng và ngày càng ngạo mạng, ngang nhiên mưu đồ lật đổ Doanh Chính.
Năm 238 trước công nguyên, nhưng lúc Doanh Chính rời kinh đô Hàm Dương
để đến Ung Thành làm lễ trưởng thành, Lào Ái đã cả gan trộm ngọc tỉ
của nhà vua và Thái hậu, phát động binh biến nhằm đánh úp cung điện.
Nhưng Lào Ái đã phạm phải sai lầm chí mạng khi nghĩ Doanh Chính
vẫn là một đứa trẻ bù nhìn để dễ bề thao túng.
Suốt 10 năm im lặng quan sát, vị vua 22 tuổi đã âm thầm xây dựng
một đội quân trung thành cho riêng mình.
Nhận được tin báo phản loạn, Doanh Chính không hề nao núng,
lập tức hạ lệnh cho các tướng lĩnh thân cận dẫn đại quân vây quét quân phản ngực.
Trận chiến diễn ra trống vánh và tàn khốc, Lào Ái bị bắt sống
và phải chịu hình phạt ngũ mã phanh thay đầy rùng rợn.
Chưa dừng lại ở đó, để nhổ tận gốc mối hòa, Doanh Chính tàn nhẫn sai người
bỏ hai đứa em cùng mẹ khát cha và bao tải rồi đánh chết ngay trong cung,
đồng thời hạ lệnh giam lỏng mẹ ruột của mình ở đất dương địch,
tuyên bố đoạn tuyệt tình mẫu tử.
Dẹp xong bạo loạn của Lào Ái, Doanh Chính lập tức chỉa mũi gươm quyền lực
vào gã khổng lồ cuối cùng, trọng phụ lã bức vi.
Dù không trực tiếp tham gia vụ phản loạn, nhưng với tội danh dung túng cho Lào Ái
và làm quyền quá mức, lã bức vi bị bãi chức thừa tướng
và bị trục xuất khỏi kinh thành.
Một năm sau, nhận thấy tầm ảnh hưởng của lã bức vi vẫn còn quá lớn
khi các trư hầu liên tục sai người đến bái kiến, Doanh Chính gửi một bức thư tuyệt tình
dồn vị cựu thừa tướng vào đường cùng, buộc lã bức vi phải uống thuốc độc tự sát
để bảo toàn mạng sống cho gia tộc.
Đến đây, ở tuổi 23, Doanh Chính đã chính thức đập tan mọi siền xích kìm kẹp,
thu trọn quyền lực tuyệt đối vào tay mình.
Cổ mây chiến tranh nước Tần đã sẵn sàng khởi động
dưới sự chỉ huy của một con sói đầu đàn thực sự.
Sau khi thâu tóm toàn bộ đại quyền vào tay,
Doanh Chính liên bắt tay và thực hiện hoài bão vĩ đại nhất của đời mình,
tiêu diệt sáu nước trư hầu, chấm dứt kỷ nguyên cát cứ kéo dài hơn 5 thế kỷ.
Để hiện thực hóa giấc mộng này, vị vua trẻ đã trọng dụng hai nhân vật kiệt xuất
là mưu sĩ Lý Tư và đại nguyên sói Úy Liêu.
Họ cùng nhau vạch ra chiến lược ngoại giao và quân sự tàn nhẫn
mang tên viễn giao cận công, tức là kết giao với các nước ở xa như Tề, Yên
để tập trung binh lực tiêu diệt các nước ở gần như Hàng, Triệu, Nguyễn.
Đồng thời, Đức Tần tung ra vô số vàng bạc để mua chủ các quang lại
đại thần của đối phương, làm suy yếu kẻ thù ngay từ trong lòng địch.
Nằm 230 trước công nguyên, phát súng mở mạng
cho cuộc đại chiến thống nhất chính thức nổ ra.
Quân Tần rầm rộ tràn sang nước Hàng.
Là quốc gia yếu nhất và nằm ngay sát nắc nước Tần,
nước Hàng không chống đỡ nổi một đòn chí mạng.
Chỉ trong vòng vài tháng, vua Hàng An Nguy Bắc sống,
nước Hàng chính thức bị xóa sổ khỏi bản đồ, trở thành quận huyện của nước Tần.
Tiếp đại chiến thắng, Doanh Chính hướng mũi giáo về phía nước Triệu,
đại địch truyền kiếp và cũng là nơi ông từng phải chịu đựng
những năm tháng tuổi thơ nhục nhã.
Bằng mưu kế ly gián khiến vua Triệu giết hại trung thần Liêm Pha
và danh tướng Lý Mục,
con Tần nhanh chóng sang phẳng kinh đô Hàm Đan vào năm 228 trước công nguyên,
bắt sống vua Triệu để rửa hận cho nhà vua.
Sự bành trứng hung hạn của nước Tần
khiến các quốc gia còn lại rơi vào cảnh hoãn loạn tột độ.
Tại nước Yên, Thái tử Đan hiểu rằng
quân sự không thể chặn đứng cổ máy chiến tranh của Tần
nên đã quyết định dùng đến hạ sách cuối cùng,
ám sát Doanh Chính.
Người được chọn cho sứ mệnh cảm tử này là Kinh Kha,
một kiếm khắc điềm tĩnh và dũng cảm.
Kinh Kha mang theo hai báo vật,
bản đồ vùng đất phì dương trù phú của nước Yên
và thủ cấp của Phạm Âu Kỳ,
một tướng Tần phản bội đang bị truy nã.
Dấu kính trong cuộn bản đồ là một thanh truyết thủ tẩm kịch độc,
chỉ cần một vết xước nhỏ cũng đủ lấy mạng vua Tần.
Năm 227 trước công nguyên,
Kinh Kha bước vào đại điện Hàm Dương
trong nghi lễ ngoại giao trang trọng.
Khi Doanh Chính hào hứng tự tay mở cuộn bản đồ ra xem,
cuộn tận cùng cũng là lúc lưỡi dao sắc lành lộ ra.
Kinh Kha lập tức chợp lấy tay áo Doanh Chính,
tay kia vung dao đâm thẳng vào ngực vua Tần.
Giữa lặng ranh sinh tử,
Doanh Chính hốt hoảng né người,
kéo rách cả ống áo, rồi cuốn cuồng tháo chạy.
Theo luật pháp đức Tần,
các quan đại thần đại điện
không được phép mang vũ khí,
còn quân hộ vệ đứng ngoài cửa
nếu không có lệnh vua thì không được vào,
khiến tất cả chỉ biết trốn mắt
nhìn vua Tần bị truy đuổi
quanh các cột trụ lớn.
Giữa lúc kinh hoàng,
một người y đã dũng cảm ném chiếc hộp thuốc
vào người Kinh Kha để cảng địa,
đồng thời các quan đại thần đồng thanh hét lớn
nhắc nhở vua quay kiếm ra sau lưng
để tuốt bao kiếm dài.
Doanh Chính sực tỉnh, tuốt được bao kiếm,
chém đứt chân Kinh Kha.
Kiếm khách nước yên,
bất lực ném thanh găm vào cột cung điện
rồi cười lớn trước khi bị quân hộ vệ
lao vào tiêu diệt.
Cơn giận dữ tột độ sau vụ ám sát Hục
đã biến Doanh Chính thành một cơn lấp hủy diệt.
Ông lập tức hạ lệnh cho tướng Vương Bí
dẫn quân Tần bao vây nước Nguyện
vào năm 225 trước công nguyên
dùng kế tàn khốc dân nước sông Hoàng Hà
đổ thẳng vào kinh thành Đại Lương
khiến vua Nguyện phải mở cửa đầu hàng.
Đối thủ lớn nhất còn lại cảng bước Doanh Chính
chính là nước sở rộng lớn
ở phương Nam.
Doanh Chính đã mạo hiểm giao toàn bộ 60 vạn quân
tức là toàn bộ vận mệnh của nước Tần
cho lão tướng Vương Tiễn ra trận.
Bằng chiến thuật phòng thủ kiên trì
suốt một năm khiến quân sở trẻ nải
Vương Tiễn bất ngờ phản công
chém chết đại tướng Hàng Yên
bắt sống vua sở vào năm 223
trước công nguyên.
Thừa thắng, quân Tần quét sạch nước yên
vào năm 222 và ép nước tề
quốc gia cuối cùng
phải buôn vũ khí đầu hàng
vào năm 221 trước công nguyên
mà không tốn một giọt máu.
Trải qua 10 năm viễn trinh
đắm máu, Doanh Chính
ở tuổi 38 đã hoàn thành
một kỳ tích vô tiền khoáng hậu
chấm dứt hơn 500 năm phân tranh khốc liệt
của thời xuân thu chiến quốc
Thù Giang Sơn về một mối.
Ông nhận thấy danh hiệu Vương
thông thường không còn xứng tầm với công trạng
vĩ đại của mình.
Doanh Chính đã lấy chữ Thủy
nghĩa là khởi đầu
kết hợp với hai chữ Hoàng và Đế
của các bậc thánh nhân cổ đại
tự xưng là Tần Thủy Hoàng
vì Hoàng đế đầu tiên của một Trung Hoa
thống nhất mở ra một kỷ nguyên
hoàn toàn mới cho toàn bộ lịch sử Á Đông.
Bước lên đỉnh cao quyền lực
ở tuổi 38, Tần Thủy Hoàng
hiểu rằng việc dùng bạo lực để nuốt
chận sáu nước mới chỉ là bước khởi đầu.
Bài toán lớn hơn và gian nặng
hơn gấp bội là làm sao để cai trị
một đế chế rộng lớn bao la
nơi mà người dân mỗi vùng
vẫn dùng những loại ngôn ngữ khác nhau
tiêu những đồng tiền khác nhau
viết những mặt chữ khác nhau
và vận hành theo những luật lệ riêng biệt
của quốc gia cũ.
Để xóa bỏ tận gốc tư tưởng cát cứ
và ngăn dặn nguy cơ các thế lực cũ
trỗi dậy tái lập Giang Sơn,
Tần Thủy Hoàng cùng Thừa tướng Lý Tư
đã đưa ra một quyết định táo bạo
đảo lộn toàn bộ trật tự cũ.
Ông bãi bỏ hoàn toàn
chế độ phong hầu kiến ấp của nhà chu
chế độ vốn chia đất đai
cho các công thần, thân tộc, tự trị.
Thay vào đó, ông chia cả nước
thành 36 quận huyện
đặt dưới sự quản lý và điều hành trực tiếp
của Triều đình Trung ương
thông qua các vị quan lại do chính Hoàng đế
bổ nhiệm và có thể bãi miễn
bất cứ lúc nào.
Đây chính là viên gặp đầu tiên định hình
lên cấu trúc hành chính cai trị của Trung Quốc
suốt hơn 2 thiên nhiên kỷ sau đó.
Không dừng lại ở việc cải cách bộ máy
vì Thủy Hoàng đế ban bố
hàng loạt chính sách đồng hóa
mang tính triệt để trên quy mô toàn quốc
nhằm xóa nhoà giới giữa 6 nước bài trận.
Ông ra lệnh cho toàn bộ
thiên hạ phải sử dụng chung
một loại chữ viết duy nhất là chữ
tiểu triện để mọi chỉ dụ
của Triều đình đều được thông suốt
từ Nam chỉ Bắc.
Hệ thống đo lường, cân nặng, chiều dài
cũng được quy chuẩn hóa lại một cách nghiêm ngặt.
Ông cho thu hồi toàn bộ
các loại tiền tệ phức tạp cũ của 6 nước
để đúc lại thành một loại tiền su tròn
Thậm chí, một sắc lệnh kỳ lạ
nhưng đầy thực tế cũng được ban hành.
Đó là quy định thống nhất khoảng cách
giữa 2 bánh xe.
Điều này đảm bảo mọi cổ xe
trên toàn quốc dù xuất phát
từ vùng đất nào cũng đều có thể di chuyển
vừa vặn trên hệ thống đường xá quang đạo
do Triều đình xây dựng.
Những cải cách đồng bộ này đã trói
chặt 6 quốc gia cũ vào một khối thống nhất
chính thức khai sinh ra một khái niệm
một địa chính trị mang tên Trung Hoa.
Thế nhưng đi đôi với sự vĩ đại
và tầm nhìn vượt thời gian
đó lại là một bàn tay sắt
cai trị tàn bạo vô song
sẵn sàng vắt kiệt sức lực của Bách Tính.
Để bảo vệ biên cương phía Bắc
trước sự quấy phá và cướp bóc dữ dội
của bộ tộc hung nô thiện chiến
Tân Thủy Hoàng đã phái Đại tướng
Mông Điềm dẫn 30 vạn quân
lên biên ải để đẩy lui địch thủ.
Ngay sau đó, ông ra lệnh
cưỡng bức hàng triệu Bách Tính lương thiện
nông dân và tù binh chiến tranh
phải đi phu làm lao dịch
ngày đêm nơi rừng thiên nước độc.
Nhiệm vụ của họ là phải sửa chữa,
nối liền và xây dựng thêm
các đoạn thành lũy cũ của các nước
thành một bức tường thành khổng lồ
vương dài vàng dặm băng qua
các đỉnh núi hiểm trở,
chính là Vạn Lý Trường Thành.
Công trình phòng thủ vĩ đại này được dựng lên
bằng xương máu và mạng sống của hàng vạn con người.
Sự khắc nhiệt của thời tiết
mùa đông phương Bắc cộng với chế độ
làm việc khổ sai, đói khát
đã khiến vô số người gục xuống,
xác của họ bị vùi lấp
ngay dưới chân thành.
Giai thoại về nàng mạnh Khương Ngữ
khóc sập cá một đoạn thành
vì người chồng chết mất xác khi đi phu
đã trở thành một minh chứng đau lòng
cho nỗi oán hận múc trời của người dân
thời bấy giờ đối với những sắc lệnh
của triều đình.
Sự bốc lột sức dân của Tần Thủy Hoàng
không chỉ dừng lại ở Biên Cương phía Bắc,
cùng lúc đó tại kinh đô Hàm Dương
hàng vạn con người khác lại tiếp tục
bị dồn vào các công trường vĩ đại khác
để phục vụ cho sự xa hoa
và khát vọng lưu danh của vị Hoàng đế.
Đó là công trình cung A Phòng
với quy mô nguy nga tráng lệ
chưa từng có, được thiết kế
rộng lớn đến mức có thể chứa hàng vạn
người tham dự đại tiệc.
Sòng sòng với đó là việc dốc toàn
lực xây dựng khu lăng mộ khổng lồ của chính ông
dưới lòng đất núi Ly Sơn.
Khu lăng mộ này được khởi công
ngay từ khi ông mới lên ngôi vua
và liên tục được mở rộng
sau khi thống nhất Giang Sơn,
huy động tới hơn 70 vạn người lao động khổ sai.
Nơi đây được thiết kế
như một thế giới ngầm mô phỏng lại
toàn bộ kinh đô, được bảo vệ
bởi hàng ngàn binh sĩ đất nung
có kích thước bằng người thật,
thể hiện uy quyền tuyệt đối của Hoàng đế
ngay cả khi đã bước sang thế giới bên kia.
Sự độc tài và bóp lột
xích dân tột cùng để phục vụ
cho các đại công trình của Tần Thủy Hoàng
dần vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ
từ giới trí thức, đặc biệt là
các học giả theo nho giáo.
Những người này luôn tôm sùng lễ chế nhà chu
và hoài niệm về thời kỳ phong kiến
phân phong cũ. Họ liên tục mượn lời
của thánh nhân cổ đại để gián tiếp
phê phán các chính sách pháp trị hiện hành
của Triều Đình.
Năm 213 trước Công Nguyên,
bức ngoặt của cuộc xung đột tuy tưởng này
bùng nổ ngay trong một buổi đại yến tiệc
tại Cung Hàm Dương.
Khi một vị tiến sĩ nho học đứng lên đăng đàn
chỉ trích Triều Đình không nói thơ gương cũ
Tân Thúy Hoàng đã vô cùng giận dữ.
Chớp lấy thời cơ đó,
Thư tướng Lý Tư, một người thế trường phái
pháp gia học thuật cực đoan,
đã dân lên Hoàng đế một kế sách tàn khốc
nhằm bóp nghẹt mọi tiếng nói
bất đồng tư tưởng, gọi là
chính sách đốt sách chôm nhò.
Lý Tư lập luận rằng
giới trí thức đương thời đang dùng cái xưa
để chê cái này, lập phái
bàn luận riêng làm lung lạc lòng dân.
Một sắc lệnh kinh hoàng
lập tức ban bố ra khắp bờ cõi
Triều Đình cho tự thu và đốt sạch
toàn bộ các sách sử của các nước
chư hậu cũ, các sách kinh điển
của nho giáo, bách gia chư tử
trong thiên hạ, chỉ cho phép
giữ lại các tài liệu về y học, bối toán,
nông nghiệp và bách khoa kỹ thuật.
Bất cứ ai lén lút
bàn luận về kinh thư, kinh thi
đều bị sử tử. Kẻ nào dùng
truyện xưa để chê bai thời này
sẽ bị tru di tam tộc.
Sự tàn khốc của chiến dịch này đạt đến
đỉnh điểm vào một năm sau đó, tức
năm 212 trước công nguyên,
khi hai vị phương sĩ được giao trọng trách
tìm thuốc trường sinh cho Hoàng đế,
vì sợ hãi không tìm được thuốc sẽ bị phạt,
nên đã lén lút bỏ trốn.
Trước khi đi còn để lại lời phỉ
bán Tần Thứ Hoàng là kẻ bạo ngược,
tham lam quyền lực, vì Hoàng đế
đã nổi lôi đình.
Ông ra lệnh cho người sử lập tức
bắt giữ, tra tấn và thẩm vấn
toàn bộ giới học giả, nhò sĩ
tại Kinh Đô Hàm Dương để truy tìm
phe cánh phản nghịch.
Kết quả, hơn 460
nhò sĩ và phương sĩ bị khép vào tội
phỉ bán Triều Đình và phải chịu hình
phạt thảm khốc, bị chôn sống
tập thể ngay tại Kinh Đô Hàm Dương
để dằn mặt toàn bộ giới trí thức
đương thời.
Hành động bạo ngược này đã chặt đứt sợi dây
liên kết giữa Triều Đình và Tần Lấp Tinh Hoa,
đẩy Vương Triều Tần vào thế cô độc
hoàn toàn về mặt tư tưởng.
Khi đã dùng bạo lực đập tan
mọi sự phản kháng cả về vũ lực
lẫn tư tưởng, Tần Thủy Hoàng nhận ra
kẻ thù duy nhất còn lại mà ông
không thể dùng gươm đao hay luật pháp
để khuất phục, chính là thời gian
và cái chết.
Vì Hoàng đế vĩ đại
bắt đầu rơi vào nỗi sợ hãi tột cùng
trước sự già nua và viễn cảnh
phải rời bỏ vinh quang trần thế.
Sự ám ảnh bệnh hoàng này
biến ông thành một con mồi béo bở
cho các phương sĩ, đạo sĩ
lừa đảo khắp nơi.
Trong số đó, nổi tiếng nhất
là đạo sĩ Từ Phúc.
Từ Phúc tâu với hoàng đế rằng
ở ngoài khơi biển đông
có ba núi thần là Bồng Lai,
Phương Trượng, Doanh Châu
nơi có các vị tiên sinh sống
và nắm giữ bí mật của thần dược
trường sinh bất tử.
Tần Thủy Hoàng đã cấp cho Từ Phúc
một nguồn ngân sách khổng lồ cùng một hạm đội lớn
chở theo hàng ngàn đồng nam, đồng nữ
và thợ thú công giỏi
để vượt biển đi tìm thuốc tiền.
Nhiều năm trôi qua,
thuốc tiền chẳng thấy đâu.
Hạm đội của Từ Phúc một đi không trở lại,
được cho là đã định cư
tại một hoàng đảo xa xôi ngoài biển khơi.
Dù vậy, Tần Thủy Hoàng
vẫn điên cuồn bám lấy hy vọng trường sinh.
Ông liên tục uống những viên linh đan
do các đạo sĩ khác trong cùng bào chế.
Những viên đan dược này
thực chất được luyện từ kim loại nặng,
đặc biệt là thủy ngân kích độc.
Vì sử dụng chúng trong suốt
một thời gian dài không những không giúp ông
cải lão hoàng đồng, mà trái lại
đã âm thầm tàn phá cơ thể,
hủy hoại hệ thần kinh và nội tạng
của vị hoàng đế, đẩy ông vào trạng thái
hoang tưởng, tính khí ngày càng
cấu bẩn và tàn bạo hơn.
Cơ thể bị tàn phá bởi độc tố thủy ngân
kết hợp với áp lực trị vị nặng nề
đã đẩy Tần Thủy Hoàng
vào trạng thái hoang tưởng tột độ
trong những năm tháng cuối đời.
Ông luôn lo sợ bị ám sát, ra lệnh
xây dựng các đường hầm có mái che,
kết nối giữa hơn 200 cung điện
quanh kinh đô và ban bố sắc lệnh.
Kẻ nào tiết lộ vị trí chính xác
nơi hoàng đế đang ngủ
sẽ bị xử tử ngay lập tức.
Năm 210 trước công nguyên,
vị hoàng đế 49 tuổi quyết định
phát động cuộc đại tuần du lần thứ 5
hướng về vùng ven biển phía đông,
mang theo một đoàn tùy tung khổng lồ
gồm thừa tướng Lý Tư,
hoàng tử Úc Hồ Hợi và trung sa
phủ lệnh Triệu Cao,
gã hoàng quan thăm hiểm giữ trọng trách
quản lý Ngọc Tỷ của Triệu Đình.
Chuyến đi dài ngày trong thời tiết mùa hè
khắc nghiệt đã vắt kịp
chút sức tàn cuối cùng của thủy hoàng đế.
Khi đoàn xe hành tiến đến đất xa khâu,
hoàng đế đột ngột đổ bệnh nặng
nằm liệt dương và bắt đầu
hò ra máu.
Nhận thấy đại hạng đã đóng sập trước mắt,
ông sực tỉnh khỏi cân mê trường sinh ảo vọng.
Sai Triệu Cao viết một bức mật chiếu
gửi khẩn cấp cho con trai trưởng
là hoàng tử Phù Tô,
người lúc này đang phải chịu lệnh
đầy trấn giữ biên ải phía Bắc
cùng đại tướng Mông Điểm.
Nội dung chiếu thư căng dặn Phù Tô
lập tức bàn giao lại binh quyền,
tức tóc quay về kinh đô Hàm Dương
để lo liệu tan lễ và kế vị ngai vàng
gánh vác giang sơn.
Tuy nhiên, bức mật chiếu chưa kịp gửi đi
thì ngày 10 tháng 9 năm 210 trước công nguyên
vị hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa
chính thức trút hơi thở cuối cùng
ngay bên trong cổ xe rồng đóng kính.
Cái chết đột ngột của thủy hoàng
tử Phù Tô triệu cao.
Gã hoàng quan này hiểu rõ hoàng tử Phù Tô
là người nhân tử, cương trực và luôn ủng hộ
nho giáo. Nếu Phù Tô lên ngôi
thì những kẻ lạm quyền như gã và phe cánh
chắc chắn sẽ bị thanh trần không thường biết.
Triệu cao đã giấu kín bức mật chiếu
dùng lợi ích cá nhân
và những lời lẽ hiểm đọc để thuyết phục
lùi kéo thừa tướng Lý Tư vào
một âm mưu phản nghịch đồng trời,
giữ bí mật tuyệt đối về cái chết của hoàng đế,
làm giả chiếu thư
để ép hoàng tử Phù Tô và đại tướng
Mông Điềm phải tự sát ở Biên Cương,
đồng thời sửa di chiếu
lập hoàng tử Úc hồ hợi
một kẻ ngu mụi dễ bề thao túng
lên làm người kế vị.
Để che mắt các đại thần và bách tính
trong suốt chuyến hành trình dài hàng trăm dặm
quay trở về Kinh Đô giữa mùa hè oi ả,
triệu cao đã nghĩ ra một kế sắp
tàn khốc và kỳ hoặc chưa từng có
trong lịch sử. Gã ra lệnh
cho binh lính thu mua hàng trăm giỏ cá
ương thối rồi chất đầy lên
các cổ xe đi trước và đi sau
cổ xe rồng của hoàng đế.
Mùi cá ương thối rửa nòng nặt bốc lên
dọc đường đi đã hòa lẫn và ác đi
mùi tử khí từ thi thể đang
phân hủy mạnh của tầng thủy hoàng.
Vì hoàng đế vĩ đại, kẻ từng dùng
bạo lực nghiền nát sáu nước chư hầu
xưng hùng thiên hạ, cuối cùng
lại phải nằm co quắp thối rửa
cô độc trong một cổ xe chứa đầy cá thối
trở về Kinh Thành trong một trò
lừa dối lặng lẽ.
Khi đoạn xe về đến Hàm Dương, hoàng tử
Úc Hồ Hợi chính thức bước lên ngôi báu
lấy hiệu là Tần Nhị Thế.
Nhưng vị vua mới chỉ là một
con rối ham chơi, sa đọa
để mặc cho triệu cao thao túng toàn bộ trừ chính.
Cả hoạn quan độc ác
lập tức phát động một cuộc thanh trừng
đẫm máu ngay trong hoàng tộc, tàn sát
giả mang toàn bộ các hoàng tử công chúa khác
của tầng thủy hoàng để diệt trừ hậu hỏa
và không lâu sau cũng khép tội
chặt đầu thừa tướng Lý Tư
ngay giữa chợ Kinh Đô.
Sự cai trị bạo ngược, ngu mụi
của Tần Nhị Thế, cộng với chính sách vắt kiệt
thuế khoá, lao dịch tính tận xương tủy
của trường đình đã đẩy nỗi út hần
của Bách Tính lên đến đỉnh điểm.
Chỉ một năm sau cái chết của thủy hoàng,
cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng, Ngô Quảng
bùng nổ, chăm ngòi cho ngọn lửa
nổi dày thiêu rùi toàn bộ bờ cõi.
Âm 206 trước công nguyên,
danh tướng Hạng Vũ dẫn
3 tháng trời, chấm dứt hoàn toàn
vương trường nhà Tần ngắn ngũi chỉ sau
15 năm tồn tại.
Đế chế Tần sụp đổ chóng vánh
trong khói lửa, nhưng di sản
khổng lồ mà Tần Thủy Hoàng để lại
thì trường tồn vĩnh cửu cùng thời gian.
Ông là một người đầy rảy
những mâu thuẫn cực đoan, một bạo
chúa chung nho đốt sách,
một vị vua bốc lột sức dân đến kiệt quệ,
nhưng đồng thời cũng là kiến trúc sư
vĩ đại duy nhất đã vẽ
nên hình hài ổn định của một đất nước
Trung Hoa thống nhất.
Hơn 2.000 năm đã trôi qua,
vạn Lý Trường Thành vẫn đứng vững
trên các triền núi lỏng gió, và
đội quân đất nung khổng lồ dưới lòng
đất núi Ly Sơn vẫn ngày đêm
nghiêm trang canh giữ giấc ngủ cho vị
hoàng đế đầu tiên.
