Trong sách mệnh thường nói: Một khi lá số Bát tự có cấu trúc đẹp, tìm được ngũ hành cứu giải phối hợp một cách hòa hợp và mạnh mẽ; khí thế trong lá số lại thuần khiết không bị thông tạp; khi đi vào các chặng đường đời lại gặp đúng những năm tháng tương sinh giúp cho ngũ hành tốt phát huy tác dụng, thì người có lá số này đương nhiên cả đời sẽ được giàu sang, có địa vị xã hội, gặp nhiều may mắn và trường thọ. Cũng có người nói: Trong Bát tự ngũ hành cân bằng, âm dương cân bằng, lạnh ấm, khô ẩm cân bằng, tự nhiên là phú quý phúc lộc rồi. Vấn đề là sự cân bằng này từ đâu mà đến? Ai quyết định nó? Tại sao mệnh của một số người lại đắc được ngũ hành cân bằng, mà mệnh của một số người lại thuộc về ngũ hành lệch lạc khô héo?
............................................................... Giọng đọc : Lưu Thu Thái Nguyên Phần 4 Nguồn tư liệu: “Mai Ưu Tập”, “Tiền Huy Lục”, “Tử Bất Ngữ” Chịu trách nhiệm biên tập: Cổ Dung https://www.epochtimes.com/b5/13/12/16/n4035852.htm Trần Lê Hiệp dịch
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Đoạn video bàn về nguồn gốc của sự phú quý và vận mệnh con người trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Tác giả cho rằng thay vì chỉ nhìn vào lá số tử vi hay logic thông thường, cần nhìn nhận vận mệnh dưới góc độ nhân quả và tâm linh. Sự giàu sang, hiển đạt không chỉ do thiên định mà còn đến từ việc tu hành, tích đức của bản thân và tổ tiên.
Thiết định mạnh và thiện đạo cải mạnh trong văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Phú quý của con người từ đâu mà đến. Phần 4
Trong sách bệnh thường nói, một khi lá số bác tử có cấu trúc đẹp,
tìm được ngũ hành cứu dài, phối hợp một cách hòa hợp và mạnh mẽ,
khí thế trong lá số lại thuần khiết, không bị thông tạp,
khi đi vào các chặng đường đời lại gặp đúng những năm tháng tương sinh,
giúp cho ngũ hành tốt phát huy tác dụng,
thì người có lá số này đương nhiên cả đời sẽ được giàu sang,
có địa vị xã hội, gặp nhiều may mắn và trường thọ.
Cũng có người nói, trong bác tử ngũ hành cân bằng,
âm dương cân bằng, lạnh ấm, khô ẩm cân bằng,
tự nhiên là Phú Quý, Phúc Lộc rồi.
Vấn đề là sự cân bằng này từ đâu mà đến,
ai quyết định nó, tại sao mệnh của một số người lại đắc được ngũ hành cân bằng,
mà mệnh của một số người lại thuộc về ngũ hành lệch lạc khô héo.
Đáp án trong các sách mệnh là,
hai khí âm dương giao cảng với nhau,
người tiếp nhận phần thanh khiết thì làm mật trí giả hiền đức,
được Phú Quý trường thọ,
người tiếp nhận phần vần đục thì làm kẻ ngu mội,
bất tài, chịu bần tiện, đoàn mệnh.
Thế nhưng tại sao bác tự này sinh ra lại thanh,
mà bác tự kia sinh ra lại chọc?
Trong sách mệnh không hề có sự giải thích rõ ràng,
bởi vì nguyên lý trong các mệnh vốn chỉ thuộc về Phạm Chù Chi Thức bên trong lô dích và thôi,
một khi vượt ra khỏi Phạm Chù Chi Thức này,
thì không cách nào giải đáp được nữa.
Do đó, tư duy của chúng ta cũng phải thay đổi góc nhìn,
từ Phạm Chù Lô Dích Thông Thường chuyển sang Phạm Chù Lập Luận Lô Dích Lý Tính,
thì mới có thể nhìn thấy được chân tướng của sự vật.
Lấy một ví dụ đơn giản để nói,
nhìn từ trong quan niệm của người bình thường,
tức là nhìn từ trong Phạm Chù Lô Dích Chi Thức,
có chính là có,
có không bằng với không, vô,
lại cho rằng đó là thiên kinh địa nghĩa, đạo lý hiển nhiên.
Thế nhưng, khi thăng hoa đến Phạm Chù Lập Luận Lô Dích Lý Tính,
người ta sẽ phát hiện ra rằng,
có chính là không,
có và không là sự đối lập thống nhất.
Do đó, hết thầy mọi sự vật trên thế gian,
những thứ thuộc về Phạm Chù Sự Vật Hiểu Hạn,
nếu dùng quan điểm của Phạm Chù Lô Dích Chi Thức để đi phân tích thì đều đúng cả.
Thế nhưng, một khi chạm đến những vật vô hạn,
như nguồn gốc sinh mệnh, tôn giáo, tín ngưỡng, vũ trụ,
vật pháp, nguồn gốc vật chất, v.v.
thì sẽ không còn phù hợp nữa.
Dùng quan điểm của Phạm Chù Sự Vật Hiểu Hạn
để đối đải với những sự vật bên trong thế giới vô hạn
thì chẳng khác nào, ếch ngồi đáy giếng mà nhìn trời.
Nay khảo sát vấn đề mạng tốt của con người từ đâu mà đến,
không nghi ngờ gì, chính là thuộc về sự vật bên trong thế giới vô hạn,
đáng phải chuyển đổi sang Phạm Chù Lập Luận Lô Dích Lý Tính để khảo sát.
Nếu như vẫn cứ dừng lại trên Phạm Chù Thưởng Thức để nhìn,
tất nhiên sẽ nói những cái này, thầy đều là không có khả năng,
không cách nào lý giải, giống hệt như trước đó đã nói,
có chính là có, có không thể nào bằng với không vậy.
Ví dụ như, dùng quan điểm của Phạm Chù Lô Dích Chí Thức để đi phân tích,
khái niệm chuyển thế đầu thai chính là không được,
là điều không có khả năng, là sự việc không cách nào lý giải.
Mấy bài trước con nói đến việc, một phần mệnh phú quý của con người
là do các vật tu hành tăng đạo, chuyển thế đến nhân gian,
đem số đức tu thành, chuyển hóa thành phúc báo ở thế gian con người.
Thế là sinh ra đã mang cái mệnh phú quý công danh rồi.
Nay xin tiếp tục bài trước.
Cũng có một phần khá lớn phúc lộc phú quý của con người
là do tổ tiên hoặc cha mẹ làm việc thiện, tích âm đức,
khiến cho con cháu đời sau của họ đắc được phúc báo
mà đạt được công danh phú quý.
Trong việc tích âm đức, lại lấy việc cứu mạng người làm trọng,
cứu một mạng người còn hơn xây tháp Phật bảy tầm.
là một trong những vị trạng nguyên trẻ tuổi nhất của Triều Thanh,
chưa đầy 30 tuổi, đã làm quan nhị phẩm,
quan chức từ Thị Lan tiến lên Thượng Thư,
rồi làm đến Đại học sĩ, quân cơ Đại thần,
chấp chính nhiều năm,
vinh dự hàm từ Thái tử Thái Bảo, Tấn Thăng đến Thái Phó.
Năm hàm phong thứ nhất, 1851,
ông về hưu, hưởng đại ngộ, giữ nguyên lương.
Sau khi hưu trí, lại hai lần tham gia tiệc lộc minh và ân vinh,
đồng thời được ban tặng lại bậc tiến sĩ.
Một đời trải qua bốn triều đại, ân sủng không gì sánh bằng.
Con cháu hết thầy, đều làm quan giữ chức vụ trọng yếu.
Đời đời hiền quý, chọn vẹn trước sau.
Người tập hợp cả tinh hoa, phú quý, sống thọ vào một thân.
Trong số các trạng nguyên Triều Thanh,
thì đầu tiên phải đề cử về này.
Sau khi mất, được đưa vào thờ tại hiền lương từ.
Cha của Phan Thế Ân, tính tình, thích làm điều thiện, vui vẻ bố thí.
Người ta vì những chuyện hôn tang mà thiếu hụt tiền bạc đến thông báo.
Ông không có lần nào là không rộng rãi, mốc hầu bao giúp đỡ.
Toàn thành phố, mọi người đều xưng tụng ông là bậc thiện nhân.
Một ngày nọ, ông thong thả đi bộ đến vùng ngoại ô,
nhìn thấy trong đỉnh mát có một vị lão già đang ngậm nước mắt,
chuẩn bị treo cổ tự tử.
Ông vội vàng tiến lên phía trước, khuyên can ngăn chặn,
hỏi lão già vì sao lại tìm đến cái chết.
Lão già nói, mấy ngày nay đang chuẩn bị cưới vợ cho con trai,
hướng về thân hữu vây mượn được 30 lạng bạc,
hôm nay vào thành mua quần áo làm ruộng.
Tất cả tiền bạc đều bị tên trộn, móc mất sạch.
Hiện tại không có cách nào trở về đối diện với người nhà,
cho nên tìm đến cái chết.
Phan ông an ủi rằng, đây là chuyện nhỏ, ta cấp tiền cho ông.
Ông hãy về chuẩn bị chu toàn để lo liệu hỷ sử đi,
đừng vì việc này mà coi thường mạng sống.
Thế là lập tức kéo ông lão vào trong thành,
hướng về một cửa tiệm, bốn quen thuộc,
vây mượn 30 lạng bạc giao cho ông lão.
Lão già cảm kích khôn cùng, liên tục dập đầu tạ ơn.
Tạ ơn xong, đang định hỏi ham tính danh của ân nhân,
thì Phan ông lại chẳng nói một lời nào, liền rời đi.
Vài năm sau đó, Phan ông muốn vì Tổ tiên tìm kiếm một mảnh đất trôn cất.
Đã lâu rồi mà không thành công,
có một lần ngỗ nhiên dẫn Thầy Phong Thủy xem đất đi theo đến Chánh Quang Phúc.
Nhìn thấy ở giữa khoảng nước sông có một cái vò đất,
hai bên trái phải có đê bao bọc xung quanh,
trông giống như dáng vẻ hai dòng chanh ngọc,
nhị long khí trâu.
Nhà tướng địa kinh dị nói,
đây là một mảnh đất bảo địa,
an táng tiên nhân tại nơi này,
tương lai nhất định sẽ xuất ra trạng nguyên tể tướng.
Thế nhưng xung quanh không có một bóng người,
không cách nào biết được chủ đất họ gì tên chi.
Tạm thời đi đến một quán rượu bên sông để thăm dò,
vừa mới ngồi xuống,
chỉ thấy ông lão đun lửa,
trông có vẻ sống hệt,
như vị lão già đã được cứu mạng vào vài năm trước.
Ông lão đó cũng nhận ra phan ông.
Đại hỷ nói,
đây chẳng phải là ân nhân của tôi sao,
vì sao ngài lại đến nơi này?
Phan ông liềm giải thích mục đích đến.
Ông lão càng thêm vui bừng hơn,
nói đây là một mảnh đất bỏ hoang của tôi,
thùa ban đầu được ngài ra tay giải cứu,
hậu ân cho đến nay vẫn thủy chung chưa từng dám quên,
muốn báo đáp lại,
không biết đáp báo bằng cách nào.
Chỉ biết sớm tối thắp hương,
chúc ngài tăng phúc thêm thọ,
nay ngài cảm thấy mảnh đất này có chỗ hữu dụng,
tôi tình nguyện chắp tay cung kính đưa tặng ngài.
Phan ông không chịu tiếp nhận biểu tặng không,
bảo ông lão hãy đưa ra một giá tiền,
nhưng ông lão lại nhất định không chịu đưa giá,
đẩy nhường qua lại vài ba bận.
Kết quả liền dùng đúng 30 lạ bạc đã tặng cho năm xưa
để làm tiền mua đất,
viết một tờ văn tự làm mẳng chứng sao cho ông lão.
Phan ra sau khi an táng tiên nhân và trăng mảnh đất này,
Phan Thế Ân cùng với con cháu đời sau của ông
liền hiền, quý, phát đạt hẳn lên.
Quả nhiên ứng nghiệp lời của nhà tướng địa đã nói.
Cổ thoại có câu,
cát địa bị bất nan hoa,
căn tử tại ư tâm địa.
Đất lành vốn chẳng khó tìm,
cái gốc cốt lõi nằm ở lòng người.
Đây chính là cái gọi là âm địa không bằng tâm địa.
Lòng người lương thiện thì âm địa cũng theo đó mà tốt lên vậy.
Từ trong ghi chép này có thể nhìn thấy,
Phan ông bình thường đã là bậc đạ thiện nhân,
vui làm việc thiện, thích bố thí.
Sau khi cứu sống một mạ người,
lại còn không lưu lại danh tính,
càng thấy rõ đức hạnh cao thượng,
hành thiện không cầu có sự đền đáp.
Thế nhưng thiên lý chiêu chiêu,
đạo trời rõ ràng,
đã để cho ông đắc được mảnh đất trạng nguyên bảo địa,
thiện hữu thiện báo.
Càng kỳ lạ hơn chính là phong thủy bảo địa
đã phát huy ra hiệu ứng,
khiến cho con cháu đời sau của ông đời đời hiền quý.
Hết thảy những điều phát sinh này
ở bên trong không gian của quan niệm thưởng thức
thì bị xem là điều không thể lý giải,
không thể tin được,
bởi vì sự hoàn thành của các quá trình này
vốn được tiến hành
ở bên trong một tầng không gian khác sâu hơn.
Vượt ra ngoài thời không trong quan niệm của người thường,
nếu như dùng quan niệm chuyển bồi phạm trù
để lý giải,
thì vĩnh viễn không có cách nào lý giải được
chân tướng của sự vật vậy.