Thiên thượng là dựa vào cái gì để định đoạt phúc lộc phú quý của một con người đây? Trước tiên, có một phần khá lớn những người mang mệnh phú quý, kiếp trước hoặc nhiều kiếp trước của họ thảy đều là người tu luyện, vì tu luyện tích được Đức, nhưng lại chưa thể viên mãn; hoặc giả Phó nguyên thần đã tu viên mãn rồi, nhưng Chủ nguyên thần còn phải tái luân hồi chuyển thế làm người, do đó đã mang Đức đến nhân thế gian, chuyển hóa thành phúc lộc của thế gian, thế là thành cái mệnh phú quý phúc lộc rồi.
............................................................... Giọng đọc : Lưu Thu Thái Nguyên Phần 2 Nguồn tư liệu: “Mai Ưu Tập”, “Tiền Huy Lục”, “Tử Bất Ngữ” Chịu trách nhiệm biên tập: Cổ Dung https://www.epochtimes.com/b5/13/12/1/n4023615.htm Trần Lê Hiệp dịch
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video thảo luận về nguồn gốc của phú quý và phúc lộc trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, cho rằng những người thành đạt thường là những người tu luyện tích đức từ kiếp trước. Thông qua các câu chuyện về Nghiêm Ngã Tư và Kim Đức Anh, video khẳng định đức hạnh là nền tảng của mọi phước báo và phê phán thuyết tiến hóa của Darwin vì làm xói mòn niềm tin vào nhân quả.
Thuyết định mệnh và thiệt đạo cảnh mệnh trong văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Phú quý của con người từ đâu mà đến? Phần 2
Thiên Thượng là dựa vào cái gì để định đoạt phúc lọc phú quý của một con người đây?
Trước tiên, có một phần khá lớn những người mang mệnh phú quý,
kiếp trước hoặc nhiều kiếp trước của họ, thầy đều là người tu luyện.
Vì tu luyện tích được đức, nhưng lại chưa thể viên mãn,
hoặc giả Phó Nguyên Thần đã tu viên mãn rồi,
nhưng Chủ Nguyên Thần còn phải tái luân hồi truyền thế làm người,
do đó đã mang đức đến nhân thế gian,
truyền hóa thành phúc lọc của thế gian,
thế là thành cái mệnh phú quý phúc lọc rồi.
Nghiêm ngã tư 1629 1700
Tự tự tư hiệu Tồn An,
người Quy An, nay thuộc thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang,
nằm Khang Hy thứ 3, 1664.
Ông bổ sung vào kỳ thi điện và đoạt trạng nguyên,
quan vị làm đến lễ bộ Thị Lan.
Nghiêm ngã tư thuở trẻ từng dạy học
ở trường Tư Thục bên cạnh cầu Nghi Phong,
có một đêm nọ khi trời sắp tảng sáng,
ông nghe thấy trên cầu có tiếng rội nước quét sân,
lại nghe thấy có người hỏi là vị thần nào sắp đi qua vậy,
quét giọt nghiêm túc đến thế.
Người quét giọt niềm đáp rằng,
đêm mai vào thời khắc bũ canh,
đá tiên sẽ từ nơi này đi qua.
Nghiêm ngã tư âm thầm ghi nhớ đời này trong lòng.
Đêm khuya ngày hôm sau,
sau khi mọi người đã trình sâu vào giấc ngủ,
ông bền lặng lẽ đi đến trên cầu để chờ đợi,
bấy giờ đang là cuối thu.
Trên trời có một vầng trăng sáng,
soi dọi trên cầu một màu trắng bạc,
muốn bề yên tĩnh, làn khí lạnh, thấu vào da thịt.
Chờ đợi đã lâu, bất giác mệt mỏi, buồn ngủ,
ông bền tựa vào lan can để ngủ gậch.
Trong lúc mông lung,
nghiêm ngã tư bỗng nhiên nghe thấy có tiếng người nói chuyện.
Ông vội vàng mở mắt ra,
chỉ thấy một đám ăn mày đi qua.
Người nào người nấy, vừa bẩn vừa xấu,
dáng vẻ say xưa đáng ghét.
Người cuối cùng là một kẻ khập khiễng,
quẩy một đòn gánh trông giống như một thợ sửa giày ra.
Nghiêm ngã tư âm thầm đếm,
vừa vặn đúng táng người,
liền vội vàng tiến lên phía trước để chào hỏi.
Bảy người phía trước đã đi qua rồi,
chỉ có người thợ giày què chân,
là bước thấp bước cao tụt lại phía sau.
Nghiêm ngã tư không quản ngại nhiều như thế nữa,
ôm chặt lấy một bàn chân của người thợ giày,
quỷ xuống cầu xin.
Xin Đại Tiên chỉ đường dẫn lối.
Người què kia nói, ta làm cách nghề khâu da thủ công,
đến ngay cả bản thân còn nuôi không nổi,
đặc biệt đi theo một lũ âm mảy để tìm một trận say.
Người có chủ ý gì, lại xem ta là tiên nhân.
Bất luận, ông ta giải thích thế nào,
Nghiêm ngã tư vẫn chết sống,
quấn lấy không chịu muôn tay cho ông ta đi.
Kẻ què bất lực,
bền mở một chiếc thùng ở phía sau đòn gánh ra cho Nghiêm ngã tư xem.
Ông ghé đầu nhìn vào,
chỉ thấy bên trong thùng là một khoảng manh mông sông nước,
giống như đại dương,
bên trong sóng lớn ngút trời,
ngư long ẩn hiện.
Đang lúc kinh ngạc, sững sờ,
người què đẩy đòn gánh lên,
dùng lực đẩy một cái và nói,
đúng là một con trâu đứng bỉnh họ Nghiêm A.
Trong chết mắt,
người và đòn gánh thầy đều biến mất,
không thấy đâu nữa.
Nằm dắp thìn thầy Khang Hy 1664,
Nghiêm ngã tư đỗ đầu chạm nguyên,
sau đó thăng chức dần đến lễ bộ tả thị Lan.
Một ngày nọ, Khang Hy đế triệu ông vào
để tư vấn đàng luận hồi lâu.
Thân hình của ông vô cùng cao lớn, vạng vỡ,
lúc bái lạnh đứng lên ngồi xuống đều có chút vượt sức.
Khang Hy lệnh cho các thái giám
dịu đỡ ông, mỉm cười nói,
đúng là một con trâu bướng bỉnh họ Nghiêm A.
Nghiêm ngã tư sực nhớ tới vị tiên quẻ
cũng từng nói qua câu này,
liền minh bạch rằng,
quan chức của bản thân chỉ có thể
làm đến đây là cùng.
Về sau có sóng lớn,
đèn thỉnh cầu thôi chức về quê làm ruộng.
Thời điểm đó, ông 59 tuổi,
ở tại quê nhà,
hưởng bồng lọc hơn 10 năm mới tạ thế.
Vài ngày trước khi nghiêm công qua đời,
trong giấc mộng,
ông đi đến một ngôi chùa lớn,
nhìn thấy các vị tọa sư,
phòng sư,
cùng một số người đồng niên,
đồng liêu của mình,
thầy đều khoác áo cà sa, áo đạo,
xếp bằng đoạn tọa trong một căn phòng.
Ông vô cùng kinh hãi,
bền hỏi người bên cạnh,
đây là nơi nào?
Người đó nói,
người đã quên mất bản lai diện mục,
bộ mặt thật ban đầu của mình rồi sao?
Hãy nghĩ lại xem.
Nghiêm công cuối đầu trần tư suy nghĩ một lát,
bỗng nhiên nhớ lại kiếp trước của mình,
cũng ở nơi này,
từng có một đôi giày vải,
phơi ở hậu viện,
bền vội vàng chạy qua đó xem,
mặt trời vừa mới lệch bóng về tay,
đôi giày vừa vặn phơi khô,
hoa cúc đầy vườn,
sắp sửa, nở rộ rồi.
Sau khi tỉnh giấc,
Nghiêm công viết bài thơ tuyệt mốt rằng,
tung sơn đạo lũ lai tương ước,
tiếu chi hoàng hoa yêu vị thai,
bạn đạo núi tung đến hẹn ước,
biển cười chỉ đóa hoa vàng,
vẫn chưa nở.
Từ trong thiên ghi chép này,
có thể nhìn thấy,
Nghiêm ngã tư cùng các vị vạ sư,
phòng sư và một số người đồng niên,
đồng lưu của ông,
kiếp trước hết thầy đều là những vị
đạo lũ núi tung sơn vốn quen biết nhau,
đời này truyền sinh là mệnh quan triều đình
của triều đại Khang Hy Hoàng Lế,
đương nhiên thầy đều mang
cái mệnh phú quý phúc lập rồi.
Bây giờ lại xem thêm một ví dụ khác,
Kim Đức Anh, 1701-1762,
tự nhữ bạch, hiệu quất môn,
mộ trai, người nhân hòa,
nay thuộc tỉnh phố Hàng Châu,
tỉnh Chiết Giang,
năm cản lăng thứ nhất,
1736, chúng tiến sĩ,
Cao Tông, vua cản lăng,
đức thân tự mình rút từ hạng 6,
đặt lên vị trí thứ nhất,
trạng nguyên, quan vị,
làm đến lễ bộ, tả thị lang,
tả đô ngự sử.
Vào tháng 4, năm cản lăng thứ nhất,
1736, khi diễn ra kỷ thi điện,
vương sĩ Tuấn đang làm binh bộ
hiểu thị lang,
đảm nhiệm chức quan chấm thi
của Khoa Bình Thìn,
tức năm cản lăng thứ nhất,
ban đêm ông mộng thấy văn xương đế quân
mế một vị đạo sĩ,
có tròng dâu ngắn sang cho chính mình.
Điều này có ý nghĩa gì đây?
Ông suy nghĩ trong đường không hiểu nổi.
Về sau, lúc hô danh đỗ đạt,
kim trạng nguyên Đức Anh vừa lộ diện,
diện mạo chính là hoàn toàn giống hệt
như vị đạo sĩ trong giấc mộng.
Ông lại vừa vặn xuất ra
từ dưới môn hạ của vương sĩ Tuấn.
Có thể thấy trạng nguyên kim Đức Anh
kiếp trước cũng là người tu luyện.
Một vị đạo sĩ dâu ngắn
là do văn xương đế quân
ở trên trời sớm đã định sẵn.
Ông là trạng nguyên sau khi truyền thế.
Từ nhiều ví dụ nêu trên có thể nhìn thấy
muốn có được một cái mệnh phú quý,
phúc lọc thì bắt buộc trước tiên
phải có Đức làm cơ sở.
Bởi vì Đức là nguồn gốc quyết định
tất cả phúc lọc ở nhân thế gian.
Mà người tu luyện vì tu luyện tích được Đức,
đem Đức mang đến nhân gian,
điển biến thành phúc báo.
Đây chính là nguồn gốc của một phần
mệnh phú quý vậy.
Học thuyết tiến hóa của Darwin cho rằng
nhân loại là do khỉ tiến hóa mà thành.
Thực sự là một sự sỉ nhục lớn nhất
đối với nhân loại, lừa dối,
làm lạc lối sự phát triển
của vài thế hệ và người.
Bắt đầu từ thời đại của Darwin,
ban minh nhân loại tự cho là đã tiến bộ,
thực chất là hướng thuộc lùi,
dẫn đến thuyết vô thần, tràn lan hung hãn,
không công nhận con người có kiếp trước,
đời sau, nên to gan, làm càng,
không mảng nhân quả, không sợ báo ứng,
không giảng đạo đức,
hoàn toàn không chịu trách nhiệm
đối với sinh mệnh của chính mình,
cho rằng con người sau khi chết là hết,
thế là thường lúc còn sống,
muốn gì thì làm nấy.
Đây chính là nguyên nhân chủ yếu
khiến đạo đức nhân loại ngày nay
sụt ra trên diện rộng.
Những ví dụ kể trên
không chỉ đơn thuần là truyền thuyết,
câu chuyện hay sự giáo hóa
mà nhiều người thầy đều tưởng rằng
do bịa đặt để nói mà thôi,
mà chúng là hiện tượng chân thực
tồn tại ở một không gian khác,
khoa học hiện tại đã có đầy đủ chứng cứ
để chứng minh quá trình tiến hóa
của Darwin là không đúng.
Nếu như có thể tiến thêm một bước
đột phá không gian sinh tồn của nhân loại,
nhìn thấy toàn bộ chân tứ
của một không gian khác,
con người sẽ bừng tỉnh ngộ.
Hóa xa những việc được ghi chép
trong suốt hơn 5.000 năm lịch sử Trung Quốc
vốn từng bị người hiện đại
xem là phong kiến mê tính,
ngu nguội, lạc hậu,
hoang đường, bất kính,
phẩm cách thấp kém,
làm mất phong phạm của nho ra, v.v.
Hóa xa, thầy đều là chân thực,
thực tồn tại vậy.