Thuyết Định Mệnh Và Thiện Đạo Cải Mệnh Trong Văn Hóa Truyền Thống Trung Hoa | Vận mệnh con người là đã định sẵn từ trước sao? - Cùng chung Bát tự | Uyên Nhân Kiệt
Khảo sát xem vận mệnh của con người có phải là đã định sẵn từ trước hay không, còn có một phương pháp khác, chính là dùng hai người có cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ sinh ra để tiến hành khảo sát, đối chiếu trải nghiệm nhân sinh của họ. Bởi vì hai người một khi đã có ngày sinh, giờ sinh giống nhau thì Bát tự sẽ giống nhau, sau đó kết quả vận toán dựa trên sự sinh khắc của Bát tự ngũ hành cũng sẽ giống nhau, do đó, trải nghiệm nhân sinh của hai người này sẽ có sự tương tự (gần giống nhau).
Bài nói chuyện thảo luận về mối quan hệ giữa định mệnh (thông qua Bát tự) và những yếu tố tác động đến cuộc đời con người. Tác giả lập luận rằng dù ngày giờ sinh tạo ra một khung vận mệnh cơ bản tương tự nhau, nhưng môi trường sống, địa điểm sinh ra và sự can thiệp chủ động (cải mệnh) sẽ tạo nên những khác biệt cụ thể trong trải nghiệm thực tế của mỗi cá nhân.
Thuyết định mệnh và thiện đạo cải mệnh trong văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Vận mệnh con người là đã định sẵn từ trước sau, cùng chung bác tử.
Khảo sát xem vận mệnh của con người có phải là đã định sẵn từ trước hay không.
Còn có một phương pháp khác, chính là dùng hai người có cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ sinh ra
để tiến hành khảo sát, đối chiếu trải nghiệm nhân sinh của họ.
Bởi vì hai người một khi đã có ngày sinh, giờ sinh giống nhau, thì bác tử sẽ giống nhau.
Sau đó, kết quả vận toán dựa trên sự sinh khắc của bác tử ngũ hành cũng sẽ giống nhau.
Do đó, trải nghiệm nhân sinh của hai người này sẽ có sự tương tự, gần giống nhau.
Tại sao ở đây kết quả sau cùng chỉ dùng từ tương tự, chứ không phải là tương đồng, giống nhau hoàn toàn?
Bởi vì mặc dù bác tử xuất sinh giống nhau, nhưng địa điểm xuất sinh khác nhau,
thời khác trước sau khi xuất sinh khác nhau.
Hơn nữa còn có sự khác biệt về môi trường trưởng thành và môi trường xã hội.
Tổng kết lại chính là sự khác biệt của thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
Từ đó sẽ tạo nên sự sai biệt này.
Thế nhưng nếu gạt bỏ các sự thực cụ thể sang một bên để xét,
nhìn từ góc độ chiều tượng,
thì đường cong phát triển sinh mạnh trong một đời của hai người này sẽ có sự tương tự nhau.
Trạng nguyên thời thanh là Vương Dĩ Hàm 1761-1823, tự Thự Bang,
người chấn Lăng Hồ, huyện Quy An, nay là thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang.
Khi ông vừa mới xuất sinh, có nhà tinh tướng, thầy bói xem sao,
Thế là nói với thái phu nhân của ông,
Thế là họ tìm đến một người đàn bà làng trài, cung cấp tiền gạo cho bà ta,
đem tiểu nhi ký thác nuôi dưỡng trên thuyền trài của bà ấy đủ một trăm ngày.
Về sau, Vương Dĩ Hàm, trúng trạng nguyên vào năm 1560-1795,
được bầu nhiệm làm hàn lâm viện tu soạn, quang vị, làm đến nghị phẩm lễ bộ hữu thị làng.
Ví dụ này là vì trong mệnh khuyết thủy, cho nên sau khi sinh ra,
đã liền đưa ông đến ở trên mặt nước dùng sữa nuôi dưỡng,
mục đích là để bù đắc và chỗ bất túc, thiếu hụt của thủy trong mệnh.
Giả như có một bác đự hoàn toàn tương đồng như vậy, nhưng lại không làm như thế,
yếu tố khuyết thủy trong mệnh không được bù đắc,
thì phúc khí về sau của người đó sẽ bị thiếu hụt.
Đây chính là nguyên nhân tạo nên việc, mặc dù sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ,
nhưng trải nghiệm hậu thiên của hai người lại có sự khác biệt.
Lại như ở Trung Quốc đại lục, sau năm 1949,
tất cả tiền bạc, tài sản của những người có tiền,
các nhà tư bản trong thành thị, địa chủ và phú nông ở nông thôn,
tất cả đều bị đảng chấp chính cướp sạch.
Mãi cho đến năm 1978, suốt khoảng thời gian dài gần 30 năm,
trong số gần 100 triệu người Trung Quốc đại lục,
không hề sản sinh ra một vị triệu phú nào.
Thời kỳ đó, người có địa vị cao nhất là công nhân,
tiền lương mỗi tháng làm cũng ba sáu, không làm cũng ba sáu,
tức là ngay cả ở trong công sường, bất luận anh ta có làm việc hay không làm việc,
thì tiền lương mỗi tháng đều cố định là ba sáu nhân dân tệ.
Nhìn từ điều này, chẳng lẽ trong suốt 30 năm đó,
trong số mấy ức, một ức là 100 triệu,
nhân khẩu lại không có ai mang cái mạnh triệu phú ông sao.
Không phải vậy mà là ở dưới bầu không khí môi trường của đại lục thời bấy giờ,
cho dù có người mang mạnh triệu phú ông đi nữa,
thì ở nơi đó hoàn toàn không cho phép anh ta phát huy nó ra ngoài.
Ví dụ như nông thôn đại lục thời bấy giờ,
nghèo sơ, nghèo sát, có người lén lút nuôi vài con gà,
gà đẻ trứng liền lén lút mang ra ngoài bán.
Kết quả sau khi bị phát hiện, không chỉ gà bị tịch thu,
mà người còn bị lôi ra để phê bình, đấu tố,
bảo rằng đó là muốn khôi phục lại chế độ tư hữu của chủ nghĩa tư bản.
Dưới môi trường và bầu không khí khủng bố này,
cho dù là người giàu nhất toàn cầu, Bill Gates,
sinh ra ở đây thì cũng chỉ biết ôm lòng than thở mà thôi.
Trái lại, ở nước Nhật Bản chỉ cách một vài nước,
chính vào thời kỳ tái kiến thiết sau chiến tranh,
dưới sự phò trợ của nước Mỹ đã thực hành nền kinh tế tự do
của thể chế chủ nghĩa tư bản vốn phù hợp cho cái mạch ức vạn phú ông,
tỷ phú phát huy khiến cho các bậc ức vạn phú hào
ở nơi đó mọc lên như nấm sau mưa.
Ví dụ như người sáng lập ra công ty đa quốc gia Nhật Bản,
Matsushita Electric, điện khí Matsushita là Matsushita Konosuke.
Khi tạ thế vào năm 1989, đã lưu lại di sản hơn 15 ức đô la Mỹ.
Nhà thực nghiệp Nhật Bản, người sáng lập tập đoàn Seibu là Tatsumi Yasushiro.
Khi qua đời vào năm 1964, ông đã là một trong những phú ông lớn nhất Nhật Bản v.v.
Rất nhiều người, thầy đều được sản sinh ra ở thời đại đó.
Có thể thấy, môi trường hậu thiên có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với sự phát triển của sinh mệnh.
Đây cũng là nguyên nhân cấu thành việc những người xuất sinh vào cùng năm, tháng, ngày, giờ,
nhưng trải nghiệm và kết cục hậu thiên lại không hoàn toàn tương đồng.
Cổ nhân có một câu nói,
Cây quất sinh ra ở phía nam sông Hoài thì là cây quất vị ngọt,
sinh ra ở phía bắc sông Hoài thì biến thành cây chỉ, cây gai vị đắng.
Chính là dùng để biểu thị ảnh hưởng to lớn của yếu tố môi trường đối với sự phát triển của sinh mệnh.
Mặc dù về sau cũng có người nói rằng,
Thực ra chỉ và quất là không phải cùng một chủng loại,
chẳng qua là cây của hai loại thực vật này trông rất giống nhau mà thôi.
Kỳ Hiểu Lam Thầy Thanh nói,
Tôi từng lấy những bằng chứng xác thực nhất trong số những điều mắt thấy tai nghe để suy ngẫm sâu sắc.
Sự quý tận bẩn phú trong bác tự chỉ có thể suy toán đến mức đại khái như thế mà thôi.
Sự gia giảm co giãn ở trong đó là có chút khác biệt.
Ví dụ như, phu nhân của phu tử Châu Tiểu Sơn, người Vô Tích,
và phu nhân của phu tử Trần Mật Sơn, người Triều An Châu,
có thời thần bác tự hoàn toàn tương đồng giống nhau.
Phu tử Tiểu Sơn làm lễ bộ Thị Lan, phu tử Mật Sơn làm quý châu bố chính xử.
Thầy đều là quan nghị phẩm.
Luận về tước vị thì bố chính xử không tôn quý bằng Thị Lan.
Luận về bồng lộc thì Thị Lan lại không hậu hĩnh bằng bố chính xử.
Hai bên đã tự bù trừ qua lại cho nhau rồi.
Hai vị phu nhân đều hưởng thọ cao.
Trần phu nhân thuở trẻ ở hóa, nhưng những năm cuối đời khỏe mạnh vui vẻ.
Châu phu nhân thì vợ chồng bạc đầu tương thân tương ái,
thế nhưng những năm cuối đời lại bị bù lòa,
da cảnh cũng bạc béo, lại tự bù trừ qua lại cho nhau rồi.
Điều này hoặc giả là do địa vực có sự phân chia Nam Bắc,
thời thần có sự phân chia nửa đầu, nửa sau vậy.
Kỷ hiểu Lam quý vi hàn lâm viện thị độc học sĩ
là người thường xuyên ra vào ở bên cạnh Hoàng đế.
Những lời ông nói ra chắc chắn là có tính chân thực vô cùng lớn.
Ngoài ra trong thanh bại loại sao có một ví dụ khác.
Có những người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ
mà vận mệnh không tương tự nhau.
Các nhà tinh tướng cho rằng đó là do nguyên cớ địa điểm xuất sinh khác nhau.
Lễ Bộ Thượng Thư Uông Đình Chân và Thành Thư Trịch Kinh Thẩm Dương
chính là sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ.
Khi Uông Đình Chân làm quan lục phẩm, Thành Thư làm quan ngũ phẩm.
Uông làm quan ngũ phẩm, Thành Thư lại là tứ phẩm.
Thành Thư nhậm chức thị Lam, Uông Đình Chân liền làm quan tam phẩm.
Về sau, lúc Uông Đình Chân nhậm chức Thượng Thư
thì Thành Thư vẫn là nhị Lan, tước vị của hai người này luôn không cách nhau bao xa.
Còn có việc càng thì lạ hơn, diện mạo của hai người cũng vô cùng giống nhau.
Năm tuổi, gặp Phái Đinh Ngoại Gian là Đinh Nội Gian.
Con gặp Tăng Cha hoặc Cháu Đích Tôn gặp Tăng Ông Nội gọi là Đinh Ngoại Gian.
Con gặp Tăng Mẹ hoặc Cháu Đích Tôn gặp Tăng Bà Nội gọi là Đinh Nội Gian.
Hai ví dụ trên đây chính là hai cặp thực tế của những người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ,
trải qua sự nghiệp chứng một đời của họ, quả thực là vô cùng tương tự.
Dùng phương pháp phản chứng này có thể thấy được rằng,
vật mệnh của con người quả thực là vừa xuất sinh, liền đã định sẵn rồi,
là có thể dựa vào bác tự lúc con người xuất sinh để suy toán ra được vậy.