TRẬN BAGHDAD QUÂN MÔNG CỔ HUỶ DIỆT NGƯỜI HỒI GIÁO THẢM KHỐC THẾ NÀO

Đình Sự
537 người theo dõi
Trong suốt những năm tháng thịnh trị, Võ Nguyễn Bông Cổ đã tung hệ khắp các châu lục
tạo nên một trong những đế chế vi đại nhất trong lịch sử loài người kéo ra liền mạch từ Á sang Âu.
Nắm trong tay những chiến tướng dũng bạnh nhất, Thảnh Cát Từ Hãn đã đưa quân Nam Trinh bắt chiến
kiến tạo nên những chiến công hiển hách, sáng dựng trong những trang sử thi và lưu danh tới ngàn đời.
Thảnh Cát Từ Hãn có thể nằm xuống khi không thể chiến thắng được thời gian
Thế nhưng nền móng vững như bản thạch mà ông để lại cho những hậu duệ của mình
thì đủ sức để Mông Cổ bước vào thời kỳ thịnh trị tiếp theo mà không cần sự hiện diện của Đại Hãn.
Trong số những hậu nhân của Thảnh Cát Từ Hãn, Húc Liệt Ngột là một người cháu trai rất đặc biệt
giúp cho đế chế Mông Cổ xưng hùng xưng bá ở khu vực Trung Đông.
Một trong những chiến công đã đưa tiên tùa của ông lưu danh sự sách
chỉ là trận ác chiến diễn ra tại Thảnh Bát Đa.
Dưới góc nhìn của một chiến binh, kỳ công tại Bát Đa của Húc Liệt Ngột
được coi như một thiên anh hùng ca chắc tuyệt về nghệ thuật quân sự.
Thế nhưng, trong mắt của nhiều người, nó chỉ là một cuộc bao vầy và thảm sát đầy ghê rợn,
trà đạp lên tất cả những phẩm giá và đạo đức để chiến thắng.
Vậy thì rốt cuộc, trận chiến này đã diễn ra như thế nào?
Hãy cùng Battlecry đi tìm câu trả lời cho video ngày hôm nay nhé!
Cõng rắn cắn cả nhà
Bát Đa là thủ đô của đế quốc Abbas trong nhiều thế kỷ.
Một trong những thành phố sầm út và nhộn nhịp nhất tại ngã ba của thế giới.
Sự hưng thịnh của Bát Đa khởi nguồn từ khi dòng họ Abbas đớt đổ dòng họ Umayyad
và di dời trung tâm văn hóa từ Đamás tới Bát Đa vào năm 751.
Cùng với việc là cai ruốn của đế chế,
thì toàn bộ tinh hoa từ các bốn phương tam hướng của đế quốc Abbas đã chảy về đây.
Vào thời kỳ thịnh trị, thành phố này là nơi sinh sống của khoảng 1 triệu người,
được bảo vệ bởi một đạo quân lên tới 60.000 tinh bình.
Tinh hoa, dân sinh và những bộ óc tuyệt vời đã cùng tụ họp vào cùng điểm Tô Bát Đa.
Không chỉ trở thành một thủ đô của Abbas mà nó sớm trở thành một thành phố linh thiên,
một trung tâm thương mại văn hóa của cả thế giới Hồi giáo.
Trong thời kỳ thịnh trị này, người nắm giữ các chức vụ cao nhất trong nhà nước Abbas là các Khalif.
Những người vừa có quyền uy, vừa quốc gia mà lại vừa có uy quyền với cả thế giới Hồi giáo nói chung.
Thế nhưng, cùng với sự xoay vần của thế sự, những Khalif đã dần đánh mất đi vị thế của bản thân.
Vào thế kỷ thứ 13, hai thế lực quân Việt mới nổi là Tuốc và Malak đã đánh bay hầu hết các Khalif khỏi chính trường,
khiến cho uy quyền của thế lực xưa cũ dần chìm vào dĩ vãng.
Nhưng dĩ nhiên là các Khalif không chấp nhận sự ô nhục đó một cách dễ dàng.
Họ chấp nhận đánh đổ tất cả để níu giữ quyền lực.
Thậm chí điều đó có thể khiến họ phải bán nước thì họ cũng sẵn sàng thực hiện.
Cùng thời điểm các Khalif đang trên đả suy vòng,
thì tại phía đông, đề chế Mông Cổ dưới sự dẫn dắt của thảnh Cát Tử Hán đang nghiền nát mạng vùng đất mà họ băng qua.
Và không hẹn mà gặp, các vị lãnh đạo của Khalif đã gặp mặt thảnh Cát Tử Hán dưới tư cách là một đồng minh quan trọng ở phía Tây Châu Lục.
Các Khalif muốn mượn tay Mông Cổ để níu giữ lấy quyền lực quân sự trước sự nhăm nhe của Thuốc và Mamlak.
Trong khi Mông Cổ thì muốn có một đồng minh đáng tin cậy cho những cuộc trinh phạt vĩ đại khi tiến sang châu Âu.
Sợi dây lợi ích đã buộc chặt cả hai lại với nhau.
Những người bạn ngoại giao đúng nghĩa khi mà cả hai đều ấp ủ những toan tính của riêng mình.
Để lấy lỏng vĩ đại Hán, các Khalif của Abbas đã nhiều lần trợ chiến cho Mông Cổ trong các chiến dịch trinh phạt tại Trung Đông.
Thậm chí có một số người còn tin rằng những tù binh thậm tự trinh đã bị chính quyền Abbas cầm thù biến họ thành cống phẩm cho Mông Cổ.
Nhưng tiếc thay, người cho Abbas có cung cút như một tên nô lệ thì tham vọng xâm chiếm của Mông Cổ vẫn chưa bao giờ lụi tàn.
Chơi với lửa có ngày bị thiêu và quân Mông Cổ không chỉ là một ngọn lửa mà là một cơn bão lửa.
Hành động cõng rắn cắn cả nhà của các Khalif không đem về cho Abbas bất cứ một lợi ích nào mà còn khiến họ ngày càng vì quân Mông Cổ còn khinh.
Trong mắt của thảnh các tự hãn và các thuộc hạ, sự ô nhục của Khalif chỉ là biểu trưng cho sự yếu hẻn của vương trường Abbas.
Chẳng khác nào một con kiến có thể bị Mông Cổ nghiện nát bất cứ khi nào.
Quân Mông Cổ không cần một đồng minh như vậy và họ đã chọn con nửa chiến tranh.
Những chiến dịch trình phạt liên tiếp được phát động với một mục tiêu duy nhất đó là săn bằng Abbas.
Thảnh các tự hãn và người con trai thứ ba của ông Hoa Khoat Dai ra lệnh cho tướng quân xước nhị mã hãn dẫn theo đạ bình âm âm tấn công vào Erbil
nơi được coi là bức tường thành phía Bắc của Baghdad khi chỉ cách thủ đô của Abbas khoảng 350 km.
Gần như năm nào quân Mông Cổ cũng tổ chức các cuộc tiến đánh vào khu vực này.
Tuy nhiên không phải lúc nào quân đội Mông Cổ cũng giành thắng lợi.
Võ ngựa Mông Cổ tuy rung mãnh tới đâu thì cũng không thể nào chiến thắng được mãi trước kỵ binh Hồi giáo
những người vốn đã quá quen thuộc với địa hình.
Vào năm 1238 và 1245 quân Abbas đã anh dũng chống trả và giành được nhiều chiến thắng quan trọng cho quân Mông Cổ.
Tạm thời đẩy lưu được cuộc tấn công đến những kẻ tiến tới từ phía Đông.
Mặc dù đẩy lưu được đế chế Mông Cổ bằng 2 chiến thắng
nhưng sự hèn hạ đã khiến những người đứng đầu Abbas tiếp tục quỷ gối không lưng
thể hiện sự thuần phục tuyệt đối với Mông Cổ.
Họ vẫn hy vọng rằng Mông Cổ sẽ cho phép binh được cống đạp hàng năm đổi lấy một thỏa thuận lên mình.
Tuy nhiên như đã phân tích ở trên trong hàng ngũ chính quyền Abbas
chỉ có những Khalif là thay đổi chính sách thuần phục Mông Cổ
trong khi các vị đánh đạo khác thuộc 2 phe Tuốc và Mamluk thì không thể tiếp tục chấp nhận điều này.
Những cuộc nội chiến đã bắt đầu len lọ xuất hiện, các Khalif đã không thể khống chế tình hình
quyền lực của Abbas đã đảo chiều và dĩ nhiên là chính sách đối với quân Mông Cổ đã khác đến rất nhiều.
Đối với Mông Cổ, điều này chẳng khác nào một sự xỉ nhục.
Mông Kha khả hãn không thể chấp nhận điều này
và đã quyết định phát động một chiến dịch trinh phạt khổng lồ săn bằng Abbas
để hoàn toàn làm chủ khu vực Trung Đông và nước Hà.
Năm 1257, Mông Kha quyết tâm thiết lập quyền lực vững chắc đối với khu vực nước Hà, Syri và Iran.
Đại hãn đã cho em trai là Khúc Liệt Ngột, quyền lực đối với một hãn quốc phụ thuộc là Y Nhi
chỉ thị phải thuộc các quốc gia Hồi giáo phải quy phục, trong đó có đế quốc Abbas.
Khúc Liệt Ngột nhận lệnh từ đại hãn bằng mọi giá phải khuất phục được Abbas
hoặc chỉ ít là khiến họ quay về thái độ ngoan ngoãn, phục dịch như trước kia
để chuẩn bị cho những chiến dịch tiếp theo của quân Mông Cổ tại Trung Đông và Tây Á.
Việc săn bằng Abbas được xem như nút thắt quan trọng
để quân Mông Cổ có thể tiếp tục mơ mộng những chiến thắng tiếp theo tại Tây Á.
Nếu như không có được nguồn lực từ phúc đất này,
những chiến dịch trinh phạt tới Iran, Syri và nước Hà hay xa hơn là châu Âu sẽ vô cùng khó khăn.
Hạ sát Abbas không chỉ giúp Mông Cổ trả nỗi nhục mà còn mở toan cánh cửa đi tới sự vĩ đại.
Đại quân khổng lồ đều xây dựng cho chiến dịch đầy hệ trọng này.
Cứ mỗi 10.000 đàn ông trên toàn các Mông Cổ thì có một người từng gia nhập đạo quân này.
Sửa sách ước tính một lực lượng trong khoảng từ 100.000 đến 150.000 quân
khiến nó trở thành độ quân đông đạo nhất mà Mông Cổ từng có.
Nó còn được tri viện bởi 20.000 lính công giáo từ Armenia và Antioch,
một công quốc trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ và Syri ngày nay,
cùng với 1.000 pháo thủ Trung Hoa và binh lính dự bị từ Batu đến Thổ Nhĩ Kỳ.
Tất cả đoàn binh âm âm lao ra tiển tuyến chỉ với một sứ mệnh duy nhất, đó là hạ gục Abbas.
Đại quân Mông Cổ đi tới đâu, gió bụi cát mù tới đó, thành trì ngập chiếm trong tăng thương và chết chóc.
Tất cả các công sự của Abbas đều tan rã trọng trước mắt.
Chỉ bằng một cái búng tay, húc liệt ngột đã diệt sạch tổ chức sát thủ khét tiếng nhất bấy giờ là Assassin
và trinh phạt đỉnh pháo đại Alamut, niềm tự hào của người Hồi tại nơi đây
và tiến đại giáo chủ của họ đi gặp Thánh Nga La.
Đoàn quân tiếp tục âm âm tiến lên mà không có gì có thể ngăn cản nổi, rất nhanh chóng đã tiến thẳng tới Baghdad.
Và như một thông tục của các viên tướng lính Mông Cổ,
mỗi khi tiến đánh các thành trì, húc liệt ngột đưa ra lựa chọn đầu hàng cho kẻ ca trị của Baghdad,
bây giờ là Al-Mustasim Bilal, một Khalif thứ ba bảy cũng như là cuối cùng của triều đoạn Abbas,
cơ hội duy nhất để tránh khỏi thảm kịch tắm máu bởi quân Mông Cổ.
Thế nhưng, đáp lại sự đe dọa của quân Mông Cổ,
người đến đầu Abbas lúc bấy giờ vẫn đầy lạc quan và thẳng từng từ chối, thậm chí còn có phần khinh thường kẻ địch.
Đến tận ngày hôm nay, việc tại sao Al-Mustasim Bilal vẫn tự tin như vậy vẫn là một bí yển chưa có lời giải.
Bụi mờ của thời gian đã phủ bóng lên sự thật.
Có ý kiến cho rằng, ông ta lạc quan tới mức tin rằng những đạo quân còn lại của thế giới Hồi giáo sẽ không bỏ rời Abbas
và chỉ cần quân Mông Cổ dám tiến vào Baghdad, chúng sẽ phải trả giá dưới võ ngựa của kỵ binh Hồi giáo.
Thế nhưng cũng có ý kiến cho rằng, đại tể tướng và cũng là cố vấn tin cận nhất của ông Ibn al-Aqami đã có tác động tới quyết định cuối cùng của vị Khalif này.
Al-Qami đã thuyết phục Al-Mustasim từ chối lời đề nghị đầu hàng, có thể vì ông ta không nhận thức được sức mạnh của quân Mông Cổ,
hoặc thậm chí là vì những bưu đổ đen tối hơn.
Thế nhưng dù vì lý do gì như chăng nữa, lãnh đạo tố cao của Abbas đã không có sự chuẩn bị tốt nhất cho trận chiến sắp nổ ra.
Ông ta không hề nỗ lực gia cố các bức tưởng thành bao bọc Baghdad,
hay cho kêu gọi viện quân từ các tiểu vương lân cận cũng như các hoàng đế Hồi giáo khác.
Một bên là quân Mông Cổ thiện chiến, đang trên đả thắng lợi, âm âm tiến đến những thác cuốn
và một bên là quân Abbas yếu đuối, không có sự chuẩn bị kỹ càng.
Có lẽ kết quả của trận đánh này đã được tiên liệu từ trước.
Khi húc liệt ngột tới nơi, ông ta cho các đội trụ quân bao vê tòa thành theo thế gọng kìm.
Ngoài thành, quân Mông Cổ ra trận, khắp bốn mặt đều trùng trùng điệp điệp những kỹ binh
tay đăm lăm nỡ gưởm sắc lẹm, không khí nông nọc sát khí.
Thế nhưng, giờ như Al-Mustasim thì lại một lần nữa đánh gián thấp quân Mông Cổ.
Ông ta không thèm suy xét kỹ tình hình, mà đáp trả bằng việc đưa 20.000 kỹ binh
tiên đánh thẳng quân Mông Cổ trên một trận địa mở.
Không kịp để quân Abbas trở tay, quân Mông Cổ lập tức triển khai thời trận
và nốt trưởng gọn 20.000 kỹ binh vừa xuất chiến.
Đứng trên thảnh cao nhìn xuống, chứng kiến hàng chục ngàn kỹ binh tinh nhuệ
bị tắm trong bể máu. Al-Mustasim mới nhận ra được thảng kịch.
Quân lính thì bị Mông Cổ quét sạch, Badal một lần nữa lại lò giữa vòng vầy
nhưng chỉ khác lần này, họ không còn kỹ binh tinh nhuệ để tiến hành phản công.
Cao tử lĩnh của Mông Cổ chỉ dứt ra một đề xuất quy hạng một lần duy nhất
nếu dám cước tử thì sẽ không có cơ hội thứ hai.
Một khi quân Mông Cổ phá cổng vào thành, thảm cảnh sẽ ẩp tới.
Nhưng từ tận khi này mà Al-Mustasim vẫn không chịu đầu hàng.
Tình binh của Húc Liệt Ngột đã tiến hành bảo vệ Badal từ ngày 29 tháng 1 năm 1258
bằng việc cho công binh bù trí các cỗ máy công thành và triển khai tấn công.
Đến mùng 5 tháng 2, hầu hết các tuyến phòng ngự của thành phố đã bị tiêu diệt.
Viễn cảnh quân Mông Cổ chiếm đóng Badal đã rõ hơn cả ban ngày.
Sự tuyệt vọng đã bao trùng toàn bộ Badal.
Al-Mustasim đã cử sứ giả tới thương lượng với Húc Liệt Ngột
nhưng toàn bộ phái đoàn đều bị giết chết.
Tương tự, khoảng 3.000 quý tộc Badal cũng đã cố tìm gặp Húc Liệt Ngột và đề nghị được quy phục
nhưng ông ta ra lệnh sử tử tất cả.
Chính bởi hành động từ chối lời đề nghị đầu hàng và không ai bị thương đầu tiên
mà Al-Mustasim đã đẩy nhân dân trong thành Badal tới bên bờ phực thẩm.
Ngày mùng 10 tháng 2 năm 1258
quân Mông Cổ đã chính thức phá tan cổng thành, sông vào và nuốt trọn Badal
biến ra đây thành một trong những biển máu ghê dận nhất trong lịch sử nhân loại.
Tai họa đến chìm Badal
Sau nhiều lần công thành của đế chế Mông Cổ, Badal chính thức đầu hàng
vào ngày mùng 10 tháng 2 năm 1258.
Thế nhưng lính Mông Cổ đợi tới ngày 13 tháng 2 thì mới vào thành
và một trong những chỗ ngày đấm máu nhất lịch sử nhân loại đã chính thức bắt đầu.
Thành phố với trừng 1 triệu dân thường đã bị hậu dệ của thành các tư hãn chặn lại
không muốn ai được phép bỏ trốn.
Duy nhất những đối tượng được tha mạng là những kỳ tô hữu thuộc giáo hội Phương Đông.
Mẹ của Húc Liệt Ngột vốn cũng là một tiến độ kỳ tô giáo Phương Đông
nên đó là lý do vì sao mà ông ta đã tha cho họ.
Còn lại toàn thể những người khác quân Mông Cổ đều thẳng tay tàn sát
không phân biệt nam nữ hay giá trẻ.
Những ai họ không hạ sát thì sẽ đưa đi làm nô lệ.
An Mustassim bị bắt giữ và bị ép chứng kiến toàn bộ cuộc thảm sát
cũng như việc phá hoại một trong những thành trị đẹp nhất của thế giới.
Cùng điện, bệnh viện, các nhà tơ hội giáo, lấn kỳ tô giáo
và 36 thư viện công cộng đã bị phá sập hoàn toàn hoặc thiêu rụi.
Ngôi nhà trí tuệ, đại thư viện nơi lưu giữ kiến thức của hàng thế kỷ
từ khắp các nền văn hóa trên hành tình đã bị sàn phẳng.
Bộ sưu tập sách của ngôi nhà và có lẽ là bộ sưu tập lớn nhất từ bây giờ
cũng đã bị phá hủy.
Những quyển sách bị xé nát và ném xuống sông Tigris.
Tương truyền rằng nó đã nhuộm đen dòng sông
với lượng mực từ số sách khổng lồ.
Sông Tigris khi đó không chỉ bị thắt ngén bởi sách
mà còn bởi vô số sát người.
Thậm chí ngựa ủ quân Mông Cổ còn có thể băng qua mặt nước mà không bị chìm.
Thống kê thấp nhất vào khoảng 90 ngàn nhân mạng đã bị sát hại
khi quân Mông Cổ tràn vào thành.
Những thống kê khác thì còn cao hơn từ vài trăm ngàn đến cả triệu người đã mất mạng.
Còn về An Mustasim sau khi chứng kiến toàn bộ thành phố
và cư dân của mình bị xóa sổ ngay trước mắt
và tiếp tục phải nhìn các hung thần Thảo Nguyên thực hiện một nhiệm vụ khác
được xem là phần hay nhất trong cuộc vụ đẫm máu này.
Húc liệt ngột cho hạ sát toàn bộ gia đình của Khalip
ngoại trừ một người con trai sau này được đưa tới Mông Cổ
và một người con gái của húc liệt ngột mang về làm thiếp
và cuối cùng là sử tử vị vua.
Do một xác lệnh của Mông Cổ cống thiệt làm vấy máu hoàng tộc trên đất
nên An Mustasim đã bị cuộn trong một tấm thảm để rồi cho ngựa dẫm đạp cho tới chết.
Như vậy trung tâm học tập của thế giới đã sụp đổ
mà mã sau này người đời nhắc lại nó như một tấn bi kịch.
Sự hủy diệt hoàn toàn của Bát Đa dưới tay quân Mông Cổ
đã khiến cho thời kỳ hoàng kim của Hồi giáo đi tới hồi kết.
Một số nhà sự học cũng cho rằng trận cướp phá, tan sát này ở Bát Đa
là một đòn đau nhất từng dãng vào thế giới Hồi giáo trong khoảng thời gian ngắn như vậy.
Đó chính là lý do vì sao mà nhiều người cho rằng đây là một viết
nhưng không bao giờ có thể rửa trôi trong cuộc đời húc liệt ngột
thay vì ca ngợi đó là một chiến công thiên cổ.
Vậy còn theo các bạn đó rốt cuộc là một cuộc thảm sát ghê rợn
hay chỉ là hậu quả của tất yếu cùng một cuộc chiến?
Hãy cùng để lại ý kiến cùng Battlecry bảo luận nhé!
