Văn hóa Đông Sơn Nền văn hóa cổ Việt Nam Thời kỳ hoàng kim của nhà nước Văn Lang Âu Lạc | Lisuvina

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
Có những nghiên cứu cho rằng trên cơ sở văn hóa Đông Sơn nhà nước văn minh đầu tiên của người Việt, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng và nối tiếp là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương đã phát triển, trước khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Hán. Theo đánh giá của các nhà khoa học, thì nền Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục và kế thừa từ các thời kỳ tiền Đông Sơn trước đó là Văn hóa Phùng Nguyên đến Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun.
======================================
#van_hoa_dong_son
#nha_nuoc_van_lang_au_lac
#lisuvina
#lich_su_viet_nam
#van_hoa_viet_nam
=====================================
Nền văn hóa Đông Sơn, thời kỳ hoàng kim của nhà nước Văn Lan và Âu Lạc
Văn hóa Đông Sơn thuộc thời đại đồng thâu, sắc sớm, tức sơ kỳ thời đại đù sắc.
Địa bàn phân bố của nền văn hóa Đông Sơn phân bổ khắp miền Bắc đến phía Nam Đèo ngang thuộc Quảng Bịnh ngày nay.
Theo thống kê sơ bộ, từ năm 1924 đến nay,
đã phát hiện và tiến hành nghiên cứu khoảng 275 địa điểm thuộc văn hóa Đông Sơn.
Kết quả nghiên cứu ở 28 tỉnh thành cho biết, văn hóa Đông Sơn có 379 di tích,
vị trí địa lý phân bổ của các di tích nền văn hóa Đông Sơn.
Di tích của nền văn hóa Đông Sơn được tìm thấy trên nhiều địa hình,
từ miền Thượng Du đến Đồng Bằng ven biển.
Cũng có khi là một cụm di tích, như di tích Quang Vinh thuộc Hoài Đức,
di tích Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh,
di tích Đông Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa,
di tích Làng Vạc thuộc tỉnh Nghệ An.
Nhìn chung cư dân Đông Sơn đã chiếm những vùng đất cao ven đồi, ven sông,
thuận tiện cho việc đi lại.
Họ thực sự đã làm chủ được vùng thun lũng núi và những vùng đất cao ở Đồng Bằng Bắc Bộ.
Văn hóa Đông Sơn phát triển ở cả 3 khu vực,
mà mỗi khu vực đó đều có nguồn gốc địa phương.
Có 3 khu vực chính.
Thứ nhất là Đồng Bằng Sông Hồng,
bắt nguồn từ văn hóa Gò Môn.
Thứ hai là khu vực Sông Mã,
phát triển từ văn hóa hay nhóm di tích Quỳ Trữ.
Thứ ba là lưu vực Sông Cả,
lại nhóm di tích Dú Trăng.
Qua các kết quả giám định Carbon cho biết,
nền văn hóa Đông Sơn có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên
và kết thúc vào thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên.
Các hiện vật nền văn hóa Đông Sơn.
Văn hóa Đông Sơn được biết đến dự trên việc thu thập,
nghiên cứu một khối lượng hiện vật vô cùng phong phú.
Chúng được chế tác từ đá, gốm, thủy tinh và đồng.
Trong nền văn hóa này, đồ đá không còn là loại công cụ phổ biến.
Tuy nhiên, một số loại dù tứ giác, dù có vai, bàn mài, bàn kê
cho đến các khuôn đúc bằng đá vẫn được sử dụng,
nhưng với số lượng không nhiều.
Duyên với đồ trang sức bằng đá như vòng tay, vòng tai,
chuỗi hạt bằng thạch anh, mã não vẫn được cư dân Đông Sơn sử dụng nhiều.
Vật dụng bằng gốm.
Đồ gốm là loại di vập thường thu được khá nhiều trong các di chỉ giai đoạn Đông Sơn.
Đồ gốm vẫn là vật được sử dụng khá phổ biến
trong đời sống của cư dân Đông Sơn.
Không những thế, đồ gốm còn được sử dụng làm quan tài,
đồ tùy tán, mảnh gốm vỡ, một số nơi còn dùng làm vật kê
hay để lát mộ người chết.
Đồ gốm Đông Sơn về loại hình gốm, khuôn đúc, nồi nấu đồng,
dọi xe chỉ, đồ da dụng như bình, vò, trậu, bát.
Về kiểu dáng và hoa văn trang trí,
giai đoạn đầu vẫn tiếp thu kế thừa truyền thống gốm gò mùn.
Giai đoạn muộn đã có biểu hiện về dự phi thoái,
thể hiện ở việc thể hiện hoa văn trang trí nghèo nàng.
Đồ thủy tinh
Ở giai đoạn văn hóa Đông Sơn,
vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên,
thuộc sơ kỳ đồ sắt,
đã tìm thấy nhiều đồ trang sức bằng thủy tinh,
với khoảng 5.000 hiện vật bao gồm vòng tay,
quyên tai và hạt chuỗi.
Phần lớn chúng được làm từ thủy tinh nhân tạo
với đủ các màu sắc,
từ trắng đục đến xanh đen,
dao cam, tím, đỏ.
Kỹ thuật chế tạo thủy tinh chưa đạt đến mức độ điêu luyện
Do còn nhiều bọt khí,
chưa phối được các màu sắc với nhau,
họ mới chỉ chế tạo được màu sắc đơn lẻ.
Đồ che, gỗ,
những vết tích và di vật về đồ gỗ,
che, nứa, lá,
cũng được tìm thấy trong văn hóa Đông Sơn.
Hình nhà sàn và hình thuyền được khắc trên trống đồng Đông Sơn.
Bộ biệt khê,
quan tài làm bằng cả một thân cây gỗ rất lớn,
dài 4.76m,
rộng đến 0.77m,
chứng tỏ đương thời nghề một đã phổ biến và thành thục.
Nếu nghề một chưa khéo thì
cư dân Đông Sơn khó có thể dựng lên
những ngôi nhà sàn chắc và đẹp như ta thấy
trên trống đồng để cư chú lâu dài.
Hoặc khó có thể hạ và được khoét
những thân cây gỗ lớn để làm
quan tài như mộ thuyền Việt khê.
Rõ ràng những đồ gỗ, che,
nứa, lá đã tham gia tích cực
vào đời xóm của cư dân Đông Sơn.
Đồ đồng,
văn hóa Đông Sơn nổi tiếng với bộ sưu tập đồ đồng.
Các di vật đồ đồng vô cùng
phong phú về số lượng, loại hình đa dạng,
đạt tới trình độ cao
về kỹ thuật chế tác.
Diện mạo của đồ đồng Đông Sơn mang sắc thái
của một nền văn hóa riêng.
Nó không giống bất cứ một nền văn hóa nào
trong khu vực và trên thế giới.
Công cụ sản xuất và chiến đấu
Đồ đồng dùng làm công cụ sản xuất gồm
dìu, lưỡi xéo hình bàn chân.
Chúng được gót tròn hoặc gót buông,
dìu hình chữ nhật, dìu xoài cân bán nguyệt,
dìu xoài cân hình cung, dìu lưỡi lệch.
Trên một số chiếc dìu,
người Đông Sơn khắc hoa văn sinh động
như hình người, hình động vật, hoa văn hình học.
Dìu là công cụ quý,
dùng để phát cây làm nương giẩy,
làm vườn quanh nơi cư chú,
dùng để đẩu cục dựng nhà.
Dìu là thứ vũ khí chiến đấu chống thú dữ
hoặc chống lại kẻ thù để bảo vệ bộ lạc.
Chiếc dìu đồng, sau này là dìu sắc,
đã gắn bó với con người lâu dài
Công cụ sản xuất,
lửa cày đồng với nhiều hình dáng khác nhau
như lửa cày hình quả tim, hình tam giác,
hình chân vịt, hình cánh mướm.
Cho đến nay, đã tìm thấy gần 200 chiếc lửa cày
với 4 loại hình nêu trên.
Việc tìm thấy nhiều lửa cày đồng,
hiện vật độc đáo của văn hóa Đông Sơn
cho thấy một nền nông nghiệp dùng cày
đã được áp dụng.
Việc dùng người hay châu, bò làm sức kéo
còn cần phải tiếp tục được nghiên cứu.
Trong các di chỉ được tìm thấy của cư dân Đông Sơn,
cũng đã tìm thấy nhiều xương châu, bò.
Có thể châu, bò là vật nuôi thân thiết
trong nhà của người Đông Sơn.
Quốc đồng, sản đồng,
thuộng đồng lại những nông cụ khá quen thuộc
của cư dân Đông Sơn.
Dùng để làm dụng hoặc để làm vườn xung quanh nhà,
tạo ra nguồn lương thực,
thực phẩm nuôi sống chính mình.
Người Đông Sơn đã làm ra những lửa dao gạc,
lửa liềm hay lửa nhép bằng đồng
để thu hoạch lú dứt thuận tiện.
Đục có loại đục phủm, đục lửa dẹt chui đặc.
Đó là dụng cụ không thể thiếu khi làm một.
Công cụ sản xuất còn có
kim, đinh ba, đinh hai,
lửa câu, dao ao,
dao khắc và mọc bằng đồng.
Người Đông Sơn còn làm ra quả cân bằng đồng
để thay cho quả cân bằng đái trước đó.
Theo đoán định, quả cân dùng
để cân đồng, thiết trước khi đục,
luyện hay chế tác đồ vật,
vũ khí chiến đấu.
Chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn còn chế tạo ra
nhiều loại vũ khí từ đồng,
đặc biệt là dưới thời nhà nước Âu Lạc.
Loại dùng để đánh xa gồm
có lao, đồ mũi tên.
Để bắn tên tất nhiên cần có cung,
nỏ bằng gỗ hoặc bằng tre.
Việc phát hiện bộ lẫy nỏ có hộp,
có dạnh đặt mũi tên, có nứt để giữ dây nỏ,
có lẫy dùng để bóp cò không còn
nguyên vẹn ở làng vạc.
Điều này cho thấy việc dùng nỏ của người Đông Sơn
nhất lợi hại khi săn bắn
và chiến tranh là điều có thể tin được.
Dáo hình gốc đa, hình lá mía.
Lao cũng giống như dáo,
nhưng trích thước nhỏ hơn.
Loại vũ khí đánh gần có dao găm.
Dao găm có nhiều kiểu dựa
vào phần cán và nóc trắng.
Nhiều chiếc dao găm được đút dứt công phu.
Chui dao được đục hình tượng người nam hoặc người nữ,
y phục trang trí hoa văn đẹp đẻ,
sống động.
Phần cán dao găm có những chiếc được chạm trỗ
rất độc đáo với hình tượng động vật như
dắn ngậm chân hổ, hổ ngậm chân voi
hay dắn ngậm chân voi.
Ngoài ra, vũ khí của cư dân Đông Sơn
còn có dự chiến, bú chiến,
bao tay, bao chân, tấm che ngực.
Những tấm che ngực hình vuông
hoặc hình chữ nhật ở bốn góc đều
có chỗ buộc dây.
Trên tấm che ngực có trang trí hoa văn hình
người hóa trang lông chim đang chèo thuyền như trên trống đồng.
Một số tấm che ngực được
tìm thấy trong mộ ở làng Cảm Thiệu Nhương,
Lập Phương đều có kích thước nhỏ lại
rất mỏng.
Dụng cụ sinh hoạt.
Giai đoạn văn hóa Đông Sơn được dùng sinh hoạt rất phong phú.
Ví dụ như, bình, lọ,
vò, ô, nồi,
ấm, trậu, bát, đĩa, khay.
Đặc biệt là những chiếc thố và thạp
được đúc với nhiều kích thước to nhỏ
khác nhau, được trang trí hoa văn sinh động.
Thạp đồng Đào Thịnh
thuộc loại điển hình to và đẹp.
Trên nắp cũng có hoa văn giống như hoa văn
trên trống đồng, và có bốn khối tượng
người đuôi nam nữ đang giao phối hồn nhiên.
Thân thạp lại những giải hoa văn hình thuyền,
hình chim lạc như trên trống đồng.
Chiếc môi đồng ở Việt Thế thuộc loại
đẹp nhất, đầu một giống như chiếc ca
hình chủ, cáng dài, đầu uống cong,
trên đó gắn tượng người người thổi khen.
Như vậy, những trang trí hoa văn,
hình tượng người, chim lạc trên thạp,
thố, môi, phản ánh khát vọng
về một cuộc sống xinh xôi,
lo đủ của cư dân Đông Sơn.
Các loại nhạc cụ
Các loại nhạc cụ bằng đồng bao gồm
còng, chiên, thanh la, lục lạc,
khen, chuông, trống.
Nhưng các nhà khảo cổ cho tới ngày nay
mới chỉ tìm thấy chuông và trống.
Đặc biệt trống đồng nhất đặc sắc
khiến nền năng hóa Đông Sơn trở nên
rất nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam
mà cả ở trên thế giới.
Trống đồng thuộc loại di vật điển hình nhất văn hóa Đông Sơn.
Theo phân tích của EF,
hệ gơ những trống đồng thuộc văn hóa Đông Sơn
đều thuộc loại 1, hệ gơ 1.
Các nhà khoa học đều thống nhất
gọi chúng là trống đồng Đông Sơn.
Trong toàn bộ trống đồng đã tìm được
cho tới ngày nay thì trống đồng Ngọc Lũ
là tiêu biểu nhất cho trống đồng Đông Sơn.
Địa bàn phân bổ thập trung nhất
của trống đồng Đông Sơn là thuộc miền Bắc Việt Nam.
Ngoài ra cũng có mặt ở Vân Nam,
Quảng Tây Trung Quốc và một số nước
Đông Nam Á như Lào, Campuchia,
Malaysia, Indonesia.
Đồ trang sức
Trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn
thì đồ trang sức bằng đồng phong phố hơn trước
bao gồm các loại vòng đeo cổ,
đeo tay, đeo chân,
tuyên tai, khóa thắt lưng.
Tiêu biểu là chiếc khóa thắt lưng
được tìm thấy ở làng cả
gồm 2 mảnh đồng nối với nhau
bằng 2 chiếc móc.
Mỗi mảng đúc nổi hình 4 tượng vừa
cùng với nhiều hoa văn khác.
Chiếc khóa thắt lưng tìm thấy ở Đông Sơn
rất độc đáo cũng gồm 2 mảng nối với nhau
bằng móc. Những khóa dây lưng kiểu như
ở làng cả, Đông Sơn có lẽ dành cho
những người thuộc tầng lớp trên.
Loại tượng đồng ít gặp trong văn hóa Đông Sơn
Những loại tượng tròn rắn trên các đồ vật
lại rất phong phố hơn hẳn
những giai đoạn trước.
Ví dụ như đôi tượng nam lử
trên thạp đồng Đào Thịnh, tượng người
thổi khen trên mưa Việt Khê, tượng người
trên cán giao găm, tượng góc trên các trống đồng
loại xê. Hay như khối tượng
dù trên khóa thắt lưng, hoặc khối tượng
chim đứng trên lưng voi ở làng Vạc
tượng chó lượt đắn trên thanh đồng, trên mặt
trống minh khí. Tất cả những khối tượng
người, các loài động vật đều
hòa nhập vào thế giới hiện thực của người Việt
cổ thể Đông Sơn hơn. Tượng tròn Đông Sơn
tuy chưa đạt đến đỉnh cao như
kỹ thuật đút hoa văn trên trống đồng
thạc, nhưng đã góp phận tạo nên
phong cách nghệ thuật đút đồng Đông Sơn
riêng biệt. Đồ sắt trong văn hóa Đông Sơn
Trong văn hóa Đông Sơn
đồ sắt chưa nhiều như đồ đồng
nhưng trong kỹ thuật khai mỏ, luyện quặng
đã có những bước tiếng đáng kể
qua các quan sát thực nghiệm cho thấy
bằng phương pháp hoàn nguyên hoặc thổi sống
người Đông Sơn đã luyện da sắt, đút
gan, chế tạo da các công cụ sắt
trong quá trình nhèn và da công người
Đồ sắt thời kỳ này gồm công cụ
quốc, liềm, dao, đục
cùng các loại vũ khí như dao, lao
kiếm, diều. Ngoài ra
còn xuất hiện một số ít đồ trang sức
như vòng cổ, vòng tay và khuyên tai
Vào giai đoạn cuối văn hóa
Đông Sơn, sắt còn là thứ kinh loại
quý hiếm. Nhưng dựa vào những
di vật sắt được tìm thấy chứng tỏ
cư dân Đông Sơn đã làm chủ về kỹ thuật
khai luyện và chế tạo các công cụ từ sắt
Bước nhảy vọt từ công cụ đồng
sang công cụ sắt đã nâng cao hiệu quả
Cảm ơn các bạn đã theo dõi video
Nếu thấy hay, các bạn hãy nhớ
LIKE, SHARE, ĐĂNG KÝ
và ẤN CHUÔNG để nhận được
những video mới nhất từ chúng tôi nhé
Xin chào các bạn
và hẹn gặp lại ở các video tiếp theo
