Tri thức về ruộng bậc thang của người Hà Nhì Lào Cai

Di sản Văn hóa Lào Cai
51 người theo dõi
1 Lượt xem video·14 thg 11, 2024
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Lào Cai năm 2019,
người Hà Nhì ở Lào Cai có 4.661 người.
Họ cư trú tập trung ở 5 xã thuộc huyện Bát Sát,
là Nậm Pung, Trịnh Tường, A Lù, A Mùa Xung và Y Tí.
Trong đó, Y Tí được coi là vùng đất người Hà Nhì đặt chân đến đầu tiên,
sau đó lan tỏa đến các khu vực khác.
Với tập quán cư trú ở các vùng núi cao,
nên các bản của người Hà Nhì ở Lào Cai thường có độ cao từ 1.500 đến 2.000 mét so với mực nước biển.
Các thôn bản của người Hà Nhì thường nằm ở lưng trường núi,
phía trên là rừng rậm, phía dưới là các triển dụng bậc thang tạo một hệ sinh thái bền vững.
Mỗi thôn bản của người Hà Nhì bao gồm vài chục nóc nhà chung sống quê quẩn với nhau,
tạo nên mối đoàn kết cộng đồng bền chắc.
Cũng như nhiều dân tộc anh em khác đang sinh sống trên vùng núi cao Lào Cai,
đời sống kinh tế của người Hà Nhì cũng trải qua nhiều giai đoạn,
từ khai thác tự nhiên đến canh tác nương rẫy và phát triển loại hình canh tác dụng bậc thang.
Với việc đưa cây lúa nước từ vùng thấp lên vùng cao,
biến cây lúa thành cây lương thực chính đã phần nào cho thấy khả năng chinh phục tự nhiên đạt đến trình độ cao của người Hà Nhì,
nhất là khi họ đang sinh sống ở những khu vực có môi trường tự nhiên,
hết sức khắc nghiệt, quanh năm lạnh giá, hiện tượng băng giá và tuyết rơi thường xuyên xuất hiện.
Trong canh tác dụng bậc thang, tìm đất để khai phá dụng bậc thang được xem là công đoạn khó khăn nhất,
đòi hỏi người đi tìm phải có sự am hiểu sâu sắc về môi trường họ đang sinh sống,
về địa thế, về đất đai và khả năng cung cấp nước cho các khu dụng.
Để khai phá ra được những khu dụng bậc thang, người Hà Nhì sẽ tìm chọn những vị trí đất đảm bảo các tiêu chí,
những khu đất có độ dốc vừa phải, phía dưới các khu rừng, dưới các thôn bản,
có nhiều cây dại mọc, có các mạch nước chảy qua, màu đất xám đen, tơi xốp, có nhiều mùn, có lẫn đá.
Người Hà Nhì thường nói một viên đá bằng 3 miếng thịt mỡ, để cho thấy đất có lẫn loại đá mềm là đất tốt.
Với tất cả những tiêu chí này cho thấy, người Hà Nhì có những kinh nghiệm hết sức giá trị,
thể hiện những trí thức dân gian đã được họ đúc kết, trao truyền qua suốt bao đời sinh trụ trên vùng đất này.
Để tạo ra được các thử dụng bậc thang, người Hà Nhì sẽ bắt đầu bằng việc phát cây, đốt cỏ,
sau đó là săn gạt mặt bằng dụng.
Tùy thuộc vào địa thế của khu vực khai phá, họ sẽ tạo ra được những thử dụng có mặt phẳng khác nhau và diện tích khác nhau.
Kỹ thuật khai phá được thực hiện từ trên xuống dưới, săn từ trong ra ngoài.
Khi có được mặt phẳng và diện tích phù hợp, họ sẽ đắp bờ dụng để giữ nước.
Bờ dụng là phần quan trọng để giữ nước, nên bờ dụng thường được đắp rộng từ 20 tới 30 cm.
Kết cấu bờ dụng được xếp bằng các viên đá có sẵn trong quá trình săn gạt và đất để không có nước thấp qua, gây mất nước sạt lở.
Một trong những bộ phận quan trọng khác của hệ thống dụng bậc thang của người Hà Nhì là mương dẫn nước.
Với kỹ thuật khai phá dụng đạt đến trình độ cao,
thì việc tạo ra hệ thống mương dẫn nước vào dụng cũng là yếu tố quan trọng không thể coi nhẹ của người Hà Nhì.
Người Hà Nhì rất giỏi trong làm mương dẫn nước.
Dù nguồn nước có xa đến đâu, dù các thử dụng có cao đến đâu, thì họ cũng có cách dẫn nước vào dụng.
Người Hà Nhì thường có câu nói, dụng cao đến đâu thì nước cao đến đấy.
Nếu nước không thể đưa từ trên cao xuống, thì họ có thể đưa nước từ dưới thấp lên các thử dụng cao.
Điều này nói lên một điều là người Hà Nhì không bao giờ trốn bước trước những khó khăn.
Bằng sự hiểu biết và khả năng sáng tạo siêu việt, họ có thể làm được tất cả đến đảm bảo cho đời sống được đầy đủ hơn.
Nhằm tận dụng các nguồn phân bón tự nhiên cho dụng,
người Hà Nhì phát triển mạnh hai vị trí dụng là dụng phía dưới các khu rừng rà,
khe suối nhỏ để tận dụng nguồn sinh dưỡng cho cây lúa từ trong rừng rà chảy ra.
Hai là vị trí các thử dụng phía dưới các thôn bàn để tận dụng nguồn phân bón từ các chuồng chạy chăn nuôi ra sốc ra cầm của các gia đình trong thôn.
Với tập quán canh tác dụng bậc thang này của người Hà Nhì đã cho thấy mô hình phát triển hết sức bền vững.
Rừng, thôn bàn, dụng bậc thang, đây là mối quan hệ qua lại lẫn nhau và con người luôn là trung tâm,
cầu nối, cân bằng giữa các thực thể trong tự nhiên mang lại sự phát triển hài hòa.
Trong canh tác dụng bậc thang, người Hà Nhì có câu đàn ông không đi cấy, đàn bà không đi cày.
Điều này cho thấy sự phân công công việc giữa nam và nữ trong mỗi gia đình là hết sức rõ.
Người đàn ông thực hiện những công việc nặng nhọc, con người phụ nữ thực hiện những công việc nhẹ nhàng hơn nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, chi tiết hơn.
Trong đó, họ đảm nhiệm các công việc từ xeo mạ, chăm sóc mạ, nhổ mạ và mang đi cấy cho đến khi thu hoạch.
Trước mỗi mùa cấy, thường là trước và sau Tết Nguyên đán, người Hà Nhì bắt đầu thả nước ủ đông đối với các dụng thấp,
những khu dụng cao sẽ được để khô. Trước mỗi mùa cấy, họ mới bắt đầu cày vỡ và thả nước ủ ruộng.
Thời gian thả nước ủ ruộng được xem là một trong hai thời điểm đẹp nhất đối với các nhiếp ảnh, các họ sĩ yêu cái đẹp của tự nhiên tìm đến sáng tác.
Phương pháp ủ đông cho ruộng nhằm tạo ra một lượng mùn cần thiết cho mặt ruộng, kích thích sự tăng trưởng và phát triển của cây lúa trong mùa vụ mới,
đồng thời loại bỏ những loại cỏ dại mọc ở trong ruộng.
Theo lịch mùa vụ vào tháng riêng, tháng hai làm đất sửa bờ và cày vỡ lần một, cày lần hai.
Cùng với đó là việc mang phân xanh ra cày rớt vùi xuống làm phân cho lúa để chuẩn bị cho mùa canh tác mới.
Để có mạng đi cấy, cứ vào cuối tháng ba hàng năm, các gia đình bắt đầu gieo mạng cây lúa.
Trước khi gieo mạng, người Hà Nhì sẽ tổ chức các nghi lễ tâm linh.
Đầu tiên là lễ cúng rừng Mù Thu Do được tổ chức vào ngày ngọ tháng ba âm lịch.
Đây là nghi lễ quan trọng nhằm báo cho thần rừng, thần đất để chuẩn bị cho mùa vụ mới.
Người dân trong các thân bản chỉ tổ chức cây, cây lúa sau khi nghi lễ Mù Thu Do được tổ chức.
Họ tin vào sự bảo vệ của thần linh, thần nông nghiệp sẽ bảo vệ cho cây lúa được tốt tươi,
sai quả, cây lạc, cây đỗ, ra nhiều hoa, đậu nhiều quả.
Buổi sáng, ngày đi gieo mạng, chủ nhà sẽ mang lễ vật là con gà gói xôi, quả trứng gà luộc
và rượu ủ bay ở đầu bờ ruộng và cầu khấn.
Trời đất ơi, năm nay cây lúa đã tốt rồi, hãy phục vụ cây lúa năm sau còn tốt hơn nữa.
Con gà năm nay còn nhỏ, sang năm con gà mùa sẽ to hơn nữa.
Khấn xong, ông chủ nhà vụ đầu dạy về hướng gieo mạng với hàm ý tạ ơn thần linh
và cầu mong cây lúa được tốt tươi.
Sau đó, thầy cúng cầm quả trứng bè thành các miếng nhỏ trộn với hạt thóc sống
để gieo lên mặt ruộng nhằm cầu mong cho cây mạ lớn nhanh, khỏe mạnh.
Do thời tiết đầu năm lạnh giá, nên họ sẽ phủ lên lúa mạ một lớp cho để giữ ẩm và giữ ấm.
Tùy theo dòng lúa địa phương hay dòng lúa mới,
số ngày cây mạ được cấy kéo dài trong khoảng thời gian từ 40 đến 50 ngày.
Khi cây mạ lên cao, các gia đình bắt đầu chuẩn bị đất cấy.
Đầu tiên là công việc sửa lại mương dẫn nước vào các khu dụng, đảm bảo nước chảy đều, không bị tắc.
Sau đó là công đoạn đi cây.
Do nước ngâm đã lâu, nên khi cày cấy, đất sẽ rất mềm, dễ cày bừa.
Họ cày bừa lần một để vỡ đất, để vùi lớp cỏ xuống bùi.
Sau đó đi đắp, sửa lại bờ dụng để giữ nước.
Mỗi bờ dụng sẽ mở một cửa nước để thoát xuống dụng phía dưới.
Cửa nước dụng trên với cửa nước dụng phía dưới luôn nằm so lê nhau để giữ nước và giữ phần tròn đất.
Tiếp theo là đến công đoạn cây lần hai.
Với những dụng khô đất cứng, sẽ phải cây thêm lần ba, lần bốn.
Lần cây bừa cuối để tạo mặt phẳng, chuẩn bị cho phụ nữ xuống cây lúa.
Các báo mạ được chảy đều trên ruộng để những người phụ nữ gỡ từng con mạ cắm xuống bùn.
Mỗi góc cây từ bốn đến sáu nhánh.
Khoảng cách giữa các góc từ 10 tới 12 cm, hàng rộng 15 cm.
Khi cây xong, họ thường xuyên phải chăm sóc để cây lúa lớn nhanh, bụng lúa hiệu hẳn.
Sau khi cây xong, chủ ruộng chuẩn bị lễ vật là một đôi gà trống mái,
một bát cơm, một bát rượu dân lễ cúng cầu thần ruộng phụ hộ cho cây lúa phát triển.
Sau khi chủ ruộng dựng dàn lễ để cắm lông gà và cắm cây lau xuống bốn góc,
lấy lễ vật đặt lên trên màn đàn lễ, lấy cơm thịt và rượu đặt ở giữa đàn lễ,
rồi tiến hành lễ cúng ruộng, ông chủ khấn.
Hôm nay gia đình đã cây lúa xong rồi.
Gia đình có thịt gà, cơm, rượu đem về cúng thần đất, thần ruộng.
Cầu mong thần đất, thần ruộng phụ hộ cho ruộng lúa của gia đình họ ly chúng tôi
luôn được tơi tốt, không bị sâu bệnh phá hoại.
Cầu mong thần linh che chở phụ hộ đảm bảo cho ruộng nhà tôi thu được nhiều thóc, cất đầy sản.
Khấn xong, ông chủ ruộng hối lấy trước đàn lễ, sau đó đến lượt người con.
Làm lễ xong, ông chủ ruộng đổ bát rượu, bỏ một ít cơm, ít thịt trên ruộng.
Có ý nghĩa, giao thịt rượu cho thần ruộng.
Cầu mong thần ruộng đảm bảo khu ruộng canh tác của gia đình luôn được tơi tốt.
Để các ruộng lúa được phát triển tốt, các gia đình sẽ thường xuyên phải chăm sóc cho ruộng lúa.
Các công việc cần làm là phát cỏ bờ ruộng, tháo nước, giữ nước, xem sâu bệnh.
Thời gian sinh trưởng của cây lúa sẽ là tháng 5 cây xong, tháng 6 phát cỏ bờ.
Tháng 7 lúa trổ đồng, tháng 8 đứng hạt.
Cuối tháng 9 đầu tháng 10, lúa bắt đầu chín và thời gian thu hoạch lúa bắt đầu.
Trong suốt quá trình từ khi cây lúa đến khi thu hoạch, người Hà Nhi thường tổ chức một nghi lễ
nhằm cầu mong thần linh phù hộp cho cây lúa tốt tươi.
Trong đó, điển hình là lễ hội Khô Già Già được tổ chức vào ngày Con Rồng của tháng 6 âm lịch
Tại khu rừng công viên, người Hà Nhi gọi nghi lễ này là lễ cầu mùa, là lễ hội lớn nhất trong năm,
được đồng bào tổ chức nhằm cầu cho mưa thuận gió hỏa, sâu bệnh không phá, chìm thú không về
để cho cây lúa được lớn nhanh, sai bông, chắc hạt, mua mang bộ thu, dân bạn được no ấm.
Trong lễ hội này, con trâu là vật tế quan trọng nhất, được cả cộng đồng cùng chung đóng góp tiền của
Thị trâu cũng là lễ vật thiêng được các gia đình dâng lên tổ tiên trong lễ hội Khô Già Già này
nhằm tạ ơn tổ tiên và cầu mong tổ tiên bảo vệ cho gia đình luôn bình yên phát triển.
Sau các nghi lễ là hoạt động vui chơi với các trò chơi truyền thống của dân tộc.
Khi thu hoạch lúa, người Hà Nhi sẽ tổ chức lễ mừng cơm mới,
vừa nhằm giúp bồn lúa về kho, vừa nhằm tạ ơn tổ tiên đã phủ hộ cho gia đình trong năm.
Lễ mừng cơm mới cũng được thực hiện với đầy đủ các nghi thức.
Đầu tiên là người phụ nữ lớn tuổi trong nhà sẽ đi cắt 9 bó lúa,
mỗi bó 9 bông lúa đẹp nhất để mang về nhà làm lễ.
9 bó lúa được gia đình tuốt, hông khô và dã lấy gạo.
Mang gạo mới này trộn với gạo cũ để nấu cơm dân tổ tiên với ý niệm.
Gạo năm trước ăn vẫn chưa hết nên phải mang trộn với gạo mới.
Sau lễ cúng, con vật được ăn cho tất cả là con chó.
Theo truyền thuyết kể lại, con chó chính là bạn đồng hành của người Hà Nhi
lên xin Ngọc Hoàng cho trời mưa để cây trồng không bị chết vô, con người không bị chết đói.
Khi đi qua cánh đồng lúa trên thiên đình, con người muốn xin hạt giống về trồng cấy dưới trần gian
nhưng Ngọc Hoàng không cho nên con người không có được hạt giống.
Nhưng do con chó đi theo đã chạy vào cánh đồng lúa nên đuôi nó đã dính những hạt thóc.
Khi xuống trần gian, con người nhìn thấy các hạt thóc ấy đã mang đi gieo trồng và cứu đói cho mọi người.
Để ghi nhớ công ơn ấy nên sau khi dân tổ tiên cơm mới, con chó sẽ là con vật ăn trước con người.
Do thời gian nắng ngắn thường xuyên mưa nên người Hà Nhi thường mang lúa về nhà ngay sau khi gạt sông.
Lúa được mọi người đổi công nhau gạt, đập ngay tại ruộng
sau đó mới mang số lúa ấy về hong khô trên sàn gác của mỗi gia đình
bằng việc lợi dụng hơi nóng của các bếp nấu phía dưới.
Từ xa xưa ai đặt tên nơi này thùng đất thiêng thanh tuyển diệu
được thiên nhiên bán tặng cho cây rừng, dòng suối trong thảo hòa thơ.
Về y tế lắng nghe tiếng đài ngàn ru
Người y tế sống trong đài ngàn phi vô
Dừng cho nước khai sông bậc thang
Dừng cho gỗ bàn ta làm nhà
Dừng cho nước về dân bàn vui
Và xua đi lạnh giá mùa đông
Về y tế ngắm sương rơi đón mặt trời nghe
Có thể nói, dụ bậc thang và các trí thức dân gian liên quan
là các thành quả của sự sáng tạo phi thường là công trình nghệ thuật
làm nên những giá trị, biểu tượng văn hóa tiêu biểu
trong quá trình chinh phủ và thích ứng với môi trường tự nhiên hết sức khắc nghiệt.
Trí thức dân gian trong kinh tếc dụ bậc thang của người Hàn nhì
là sự thể hiện hết sức độc đáo
và có giá trị về quá trình thích ứng với môi trường
tạo nên một quan hệ chặt chẽ và bền vững giữa con người với môi trường tự nhiên.
Trước việc rừng cung cấp nước cho sinh hoạt và canh tác
bảo vệ cho các thôn bàn khỏi lũ lụt
người Hàn nhì cũng có những quy định trong hương ước của cộng đồng
về bảo vệ cho sự bền vững của các khu rừng.
Giờ đây, những giá trị của hệ thống trí thức dân gian
liên quan đến canh tác dụ bậc thang của người Hàn nhì
rất cần được bảo vệ, vinh danh và nhân dọng trước khi mài mộ.
Về y tế lắng nghe tiếng đài ngàn ru
Người y tế sống trong đài ngàn vi vu
Rừng cho nước khai rừng bậc thang
Rừng cho gỗ bàn ta làm nhà
Rừng cho nước về dân bàn vui
Và xua đi lành ra mùa đông
Về y tế ngắm sương rơi đón mặt trời mềm
Người y tế sống trong sương mơ
