Làng khảm trai Chuôn Ngọ

Nghề Truyền Thống
340 người theo dõi
119 Lượt xem video·26 thg 12, 2024
Từ xa xưa, làng Chuôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội đã nức tiếng với nghề khảm trai.
Theo truyền thuyết và thần phà định làng Chuôn Ngọ thì nghề khảm trai xuất hiện khoảng thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 13
do ông Tổ Nghề là Trương Công Thành, một tướng tài thời lý gây dựng.
Sau thời gian làm quan, ông lui về ở ẩn, thường xuyên tìm kiếm vỏ trai để khảm những đồ thờ cúng.
Trước khi mất vào năm 1099, Đức Trương Công Thành đã truyền nghề khảm trai cho người dân thuần ngọ.
Từ đó, nghề khảm trai phát triển và được lan rộng ra nhiều làng trong xã Chuyên Mỹ.
Ngày 9 tháng riêng là ngày sinh của cụ Tổ dân làng mới lại tổ chức lễ đo.
Các xã xung quanh, các nơi này, nhất là làng Chuôn Ngọ,
khoảng năm có nhớ tới công nào to lớn của cụ Tổ truyền nghề khảm trai, truyền thống cho dân, cho làng.
Mọi người, các bộ nhân dân đến dân hương thế nễ.
Ngôi đền này được xây dựng đúng là từ đầu thế kỷ thứ 11
để cho dân hàng năm tụ dọc để dân hương thế nễ, cúng nễ cụ Tổ nghề này.
Cho nên là nghề của người dân đàng Chuôn Ngọ vẫn tồn tại từ ngôi đền này cho đến bây giờ.
Không năm nào ngừng nghỉ, chỉ có phát triển ít hoặc nhiều.
Từ khoảng năm 80-82 trở về đây là phát triển mạnh.
Năm 90-2000 là phát triển cực kỳ mạnh.
Nhiều người cho rằng Chuôn Ngọ là đất Tổ nghề nên được truyền cho những nét đặc sắc trong mỗi tác phẩm.
Nét tinh xảo trong sản phẩm chạm hàm làng Chuôn Ngọ đến từ những mảnh chai luôn phẳng, mịt, không bị gấy, vụt.
Tuy nhiên, để tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao, phụ thuộc vào rất nhiều công đoạn,
trong đó có việc lựa chọn nguyên liệu vỏ chai ốc.
Chai ốc của từng vùng miền, từng nước đều mang những đặc tính riêng biệt.
Chai có loại cánh nhỏ, sậm màu, có loại thì trắng, mình dày, có loại thì nhiều vân.
Ốc biển cũng vậy, màu sắc tùy thuộc vào vùng biển.
Đặc biệt nhất là kiểu khổng, có 9 lỗ ở phía mép vỏ.
Màu sắc ốc phong phú như cầu vồng, sử dụng để khảm cánh phượng, công hay những hình vẽ núi non.
Tỉ nệ con ốc này nó phát hoang được màu sắc tốt nhất thì nó đã đẹp rồi,
thì càng thời gian nó nâu năm thì nó càng già, nó càng thu ánh sáng,
và ưu thự cái chất nước biển của nó thì cái màu sắc nó càng phát ra tự nhiên.
Màu ốc già thì xoay lên thì nó mới ra được nhiều nước,
có thể nhìn nghiêng nó ra được màu sắc, nhìn dọc nó ra được màu sắc, nhìn ngang nó ra được màu sắc.
Thời gian nó càng già bao nhiêu thì ốc càng đắt bao nhiêu.
Từ những con chai ốc thô nhập về, các cơ sở gia công nguyên liệu ở làng sẽ pha chế qua nhiều công đoạn
để có được thành phẩm là những mảnh chai ốc lộ vân nóng ánh, phục vụ cho việc chạm khảm.
Mấy lúc công đoạn rơ cũng nâu, cho vào qua cái máy màu này phẳng đi, chạy bụng,
xong rồi qua cái máy xẻ này nữa, mình sẽ phải pha cắt con ốc thành hai dây,
xong rồi cho vào bần là phẳng ra. Một hai ngày mới xong một yến.
Một yến là có khoảng chục con hơn chục con thôi.
Sinh ra ở cái nồi của nghề khảm chai, nghệ nhân Phạm Văn Bắc cũng được tiếp cận với nghề truyền thống
của gia đình ngay từ khi còn nhỏ. Tình yêu nghề cũng thấm dần trong ông từ đó.
13 tuổi, ông bắt đầu có ý thức về việc học nghề một cách nghiêm túc,
và kể từ đó tới nay, đã hơn 40 năm, với sự tâm huyết, trí tuệ, đôi bàn tay khéo léo,
ông đã cho ra đời không biết bao nhiêu tác phẩm khảm chai tinh xào,
phục vụ nhu cầu của khách khắp mọi miền đất nước và cả khách nước ngoài.
Theo ông Bắc, nghề khảm chai khó hơn mọi nghề.
Một sản phẩm làm ra phải qua rất nhiều công đoạn kỹ thuật khác nhau,
từ vẽ, cưa, đục, cần sa cừ và đánh giáp hoàn thiện.
Để bắt đầu một sản phẩm khảm chai,
thì các nghệ nhân phải vẽ mẫu trên giấy theo ý tưởng của khách hàng.
Họa tiết có thể là hoành phi câu đối, các tích chuyện, những bộ tranh cổ,
ẩn chứa trong đó là chiếc lý sống sâu sắc, có giá trị văn hóa cao.
Nhị thợ tù yếu mình phải bao quản, mình chia hết ra trong một cái bộ ghế này.
Làm sao nói đến cái cốt chuyện nào, có thể mình dịch tả cho được cái cốt chuyện đó.
Gần xong mình dựng cắt phôi lên xong để vào đấy, xong mời khách hàng về thẩm duyệt.
Như này đã được chưa, cái này cần thay sửa gì không, mình phải cộng tác với khách hàng,
thì sản phẩm mình nó mới có tiêu chí được.
Sản phẩm thuật đi các nước rất là nhiều, châu Phi, châu Mỹ, Nam Phi đều có hết.
Từ bản vẽ trên giấy, những người thợ sẽ hiện thực hóa trên các mảnh chai ốc
để đưa vào cưa cắp.
Đây cũng là công đoạn quan trọng nhất để quyết định độ tinh xào của một tác phẩm khảm chai.
Tôi học nghề từ bé, là năm 12 tuổi thôi.
Đến năm nay 49 tuổi thì cũng làm nghề, tính ra cũng phải được 30 mấy năm rồi.
Đây khâu đang cắt khả, đây gọi là cắt khảm chai.
Thợ cắt này là quan trọng nhất.
Tạo định hình lên một tác phẩm là gọi là phôi.
Phôi của một tác phẩm từ nhiên liệu ghép làm sao để cho nó hài hòa với những cái tích.
Tất cả là do người thợ cưa quyết định tạo hình ra.
Họa tiết dù lớn hay bé thì đều đòi hỏi thợ cắp phải tập trung cao độ, kiên trì và tỉ mỉ.
Nói về những người thợ khảm chai, nhà nghiên cứu người Pháp Henry Auger,
tác giả của bộ tư liệu kỹ thuật của người An Nam cũng từng nhận xét.
Thợ khảm là nhà nghệ thuật chân chính, nhấn nại và khéo tay vô cùng.
Họ biết phối hợp các màu sắc của vỏ chai để có sự hoa sắc đẹp mắt,
làm cho bức khảm trở nên rực rỡ.
Chính vì thế mà nghệ thuật khảm Việt Nam nổ trội gần như độc quyền ở Viễn Đông.
Cái hàng này nó đang thủ công.
Chứ không phải là làm theo máy móc mà nó đòi hỏi người thợ là phải tỉ mỉ, chăm chút.
Mỗi lần làm một cái sản phẩm lên là phải để ý gần như là tăng mắt ra.
Ví dụ như một cái sản phẩm này nó gọi là một cái cành khô,
thì khó nhất là cái cành này.
Bởi vì nó nhỏ, cắt không cẩn thận là nó cũng sẽ gãy mất.
Hơn tiếng hay tôi ngủ mới xong rồi.
Và trong quá trình làm cũng phải sáng tạo thêm để cây nó sống động hơn.
Nhìn vào cũng phải có hồn, chẳng hạn nên nó đang bay rất trong gió đó.
Khi lên được cái cây như thế này cũng mất mười mấy hai mươi ngày rồi xong rồi.
Nên cắt của mỗi người thợ là đặc trưng riêng, không có người nào giống người nào.
Ốc này là nhập khẩu từ nước ngoài mang về.
Nên khi chế biến nó ra, nhân hiệu nó rất là đắt.
Có thể mấy chục triệu một nạn ốc như thế này.
Nên khi cưa một miếng ốc như thế này là chúng tôi phải cân nhắc,
tại vì nó rất nhiều tiền.
Có thể người ngoài không biết thì hỏi nó không giá trị,
nhưng đối với chúng tôi là người thợ là khi làm là phải cân nhắc rất là cẩn thận mới được cắt.
Cái cưa của thợ khảm nó thế này.
Mình hất ngược lên như thế này, cưa đều tay.
Không được bẻ, bẻ là nó đứt cái lưỡi cưa này.
Đúng rồi, tì tay thỏa mái đi.
Hất ngược lên, cưa một tí này.
Chỗ cái góc này bấm chéo lên này.
Đấy, đúng rồi.
Tì nó sát sát ở đây.
Nó chắc hơn.
Cứ giữ chắc.
Được rồi.
Đây, cong cong như thế này.
Đấy, xong rồi dứt ra.
Đấy, hiểu chưa?
Cái tay như thế này nó mới không bị đứt cưa.
Ui, khó thế kìa.
Cứ cắt vào đây, cứ cắt thẳng lên.
Để nó vào, nó ăn vào cái thịt của cái xà cưa đấy đã.
Hiểu chưa?
Đấy, cứ cắt đi.
Xong bắt đầu mới lượn, đúng rồi.
Cứ đưa thỏa mái, đưa dài cưa ra.
Cưa giữ chắc nhé.
Giữ là cả vấn đề đúng không?
Ừ.
Đấy, đúng rồi, đúng rồi.
Đấy, đấy, đúng rồi, đấy.
Cho cộng miếng, miếng chai này nó rất dài, hiểu không?
Cứ mấy miếng nhỏ thì thôi mà.
Nhỏ thì vẫn cưa vẫn phải tận dụng được hết mà.
Rồi từ từ thôi, nhẹ nhẹ thôi.
Không, không được bẻ cưa.
Cứ hết ngược cò cái này ra.
Đúng rồi.
Bắt đầu bóc ra, bắt đầu quay nhẹ nhẹ ra.
Đấy, đúng chưa?
Chuẩn chưa?
Không công lắm nhưng mà hơi cũng được.
Nó nghe là thế mà, hiểu chưa?
Ok, cảm ơn anh.
Chai ốc sau khi được cưa cắt tỉ mỉ sẽ ghép lại thành bức tranh đem dán lên gỗ,
dùng bút vạch và nhấc ra để thợ đục trổ mặt gỗ theo đường vạch.
Công đoạn này cũng đòi hỏi người thợ phải hết sức khéo léo.
Đục có độ chính xác cao thì khi gắn chai vào gỗ mới được khít.
Khi mình đục thì phải đục cho nó chuẩn xác theo các đường của cái miếng xà cừ dán sãn này.
Mình vạch sao cho nó khít và không để nó bị gãy.
Không đổ sâu quá, không đổ lông quá.
Nếu mà lông nó sẽ bị gắn, nó sẽ bị lỗ xà cừ lên.
Sẽ mất đi độ dày của cái miếng ốc.
Nếu mà mình gắn sâu quá thì nó sẽ bị chìm xuống gỗ.
Những này thì có mất nhiều thời gian không ạ?
Có chứ, mỗi công đoạn đều phải làm tỉ mỉ cho nên nó cũng lâu lắm.
Khi mà mình đã lấy đất lên như thế này rồi, lấy sạch sẽ các chân.
Sao cho nó phù hợp độ lông sâu với độ dày của miếng ốc.
Khi mà mình gắn cũng phải cần yêu cầu cẩn thận.
Bởi vì gắn sao cho cái mặt ốc này nó phải bằng với cả mặt gỗ này.
Để nó không bị lồi.
Đúng rồi, để không nó bị lồi lên.
Nếu mà lồi lên thì khi mà mình mài đi để đánh bóng thì nó sẽ mất cái độ dày của ốc.
Nói chung là các đoạn nào cũng phải cần rất là cẩn thận.
Ngồi nhiều cũng đau lưng lắm.
Cái nghề đó lỗi yêu cầu sự cẩn thận và tỉ mỉ.
Bạn nào mà chân chạy là không ngồi được cái nghề này đâu.
Nhờ đường nét tinh xảo sống động trong từng công đoạn
mà những sản phẩm khám trai của làng Chuân Ngọ nổi tiếng có giá trị thẩm mỹ cao.
Để bức tranh có chiều sâu, ngay từ khi cưa cắt
những người thở đã phải tỉ mỉ lựa chọn màu sắc của từng mảnh chai ốc
trong hàng ngàn chi tiết của bức tranh khám trai ghép lại.
Bộ ghế tiêu chí 2 tỷ thì tất nhiên chúng ta phải đòi hỏi
những cái cốt truyện nó vẫn là như thế.
Nhưng mà mình làm sao trong cốt truyện đấy nó phải sống động lên.
Cái màu ốc nó phải tương phản, nó lớn lên.
Cho nên rằng là muốn làm đẹp được một cái bối cảnh đoạn người.
Chẳng hạn một người này, nó một màu ốc khác.
Một người này, một màu ốc khác.
Trong một người này có thể đã phân biệt ra 4-5 màu ốc nó khác nhau.
Nón này, một màu ốc khác.
Một khuân mặt, một màu ốc khác.
Một cái cổ áo, một màu ốc khác.
Cái ốc này mình làm cho nó sống động ra
thì một phần ở bên, một phần âm, một phần dương.
Phần âm nó nằm trong cái lòng cầu này.
Còn phần dương nó nằm nổi trên mặt cầu này.
Hai cái nó phối tác vào với nhau
thì nó có thể nảy nên cái màu sắc tỉ mỉ nắm.
Công đoạn cuối cùng để hoàn thiện là gắn chai vào gỗ
bằng một loại sơn làm từ nhựa cây.
Công đoạn này được gọi là cần xa cừ.
Sau đó dùng giấy ráp đánh bóng
tạo sự tương tác giữa nền gỗ
và màu sắc óng ánh của chất liệu chai ốc.
Từ đây, các sản phẩm khảm trai của làng
được chuyển đến khách hàng khắp cả nước.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử,
làng nghề khảm trai chuồn ngọ
cũng có lúc thăng, lúc trầm, lúc mai một
như bao làng nghề truyền thống khác.
Nhưng bằng tình yêu nghề,
nhiều nghệ nhân của làng vẫn quyết giữ nghề
và đau đáo mong muốn chuyển lại
cho các thế hệ thanh niên của làng
để tiếp tục bồi đắp, phát huy
những giá trị văn hóa đặc trưng
của làng nghề truyền thống mà cha ông đã để lại.
Bây giờ cần nhất là người học nghề.
Tương lai của cái đất nghề
mà không có người học nghề
thì không bao giờ có những sản phẩm.
Tuyệt ra được trong 10 người học nghề
thì đặc thủ yêu nghề và hiểu nghề sâu sắc nhất
thì là chỉ được 1 đến 2 người
và 1 người làm nghề thì ít ra
phải có tuổi tầm khoảng độ 10 năm sau
mới tìm hiểu hết được
cái kỹ thuật và cái chất sắc
của cái màu, màu nguyên liệu.
Nói chung là nghề cũng có lúc thắng, lúc trầm.
Cái thời của mình lúc còn nhỏ
thì cũng đông lắm.
Rất là nhiều người làm.
Sau một thời gian thì nó cũng hạn chế bước đi
và người ta sẽ chuyển một số
sang các công việc khác.
Bây giờ thì nói chung là
về quan tâm của nhà nước
và cả cái nộm của thôn, xã
người ta cũng vận động nhiều là
giữ gìn cái làng nghề truyền thống
thì cũng có mở thêm một số các lớp học
cho các bạn nào mà yêu thích
thì sẽ cũng học thêm
giữ gìn cái nghề của nhà.
Vừa là cái đam mê
mà nó cũng vừa là cái công việc
mình kiếm sống hằng ngày luôn.
Công việc này nó ở tại cái gương của mình
thì mình làm nó cũng thuận tiện hơn.
Không phải đi đâu xa cả.
Người phải tâm huyết với nghề
và yêu nghề
thì mới tạo lên được cái đẹp của làng nghề.
Hiện số lượng các hộ quay trở lại
với nghề truyền thống trên toàn xã
đã ngày càng tăng.
Lớp thế hệ kế cận không chỉ ham học hỏi
mà còn giỏi vận dụng công nghệ
để phục vụ trong việc thiết kế mẫu mã khảm trai mới.
Ứng dụng trong đời sống hằng ngày
đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú
của thị trường trong nước và quốc tế
như đồ lưu niệm khảm trai,
hộp đựng trà, bát đĩa.
Cùng với đó, chính quyền và hiệp hội
làng nghề của xã cũng đặc biệt quan tâm
đến những hướng đi mới để cùng với
các cơ sở sản xuất tìm ra
các giải pháp giúp phát triển kinh tế địa phương
như kết hợp sản xuất,
kinh doanh với phát triển du lịch.
Mức đóng góp của làng nghề
đối với tổng thu nhập trong nhân dân
đã 80% trở lên.
Thu nhập rất là cao.
Các doanh nghiệp và hiệp hội làng nghề
cũng đã tìm ra các giải pháp
liên kết với cả các chuỗi du lịch và nghề
của các đơn vị bạn,
bao gồm các huyện trong thành phố
và các huyện khác.
Và theo các cái tour
từ các nơi về và điểm cuối
làng xã Truyền Mỹ
xã cũng có một trung tâm triển lãm làng nghề
để đón khách về để tham quan
liên kết với cả các doanh nghiệp
và công ty của nước ngoài
và công ty có trụ sở tại Việt Nam
tìm các đối tác
ký được rất là nhiều hợp đồng sản xuất
kể cả với các đơn vị nước ngoài.
Trong những năm vừa qua
tình trạng người dân bỏ nghề
đã không còn
và các mặt hàng của Truyền Mỹ
cũng đã được các bạn bè trong nước
và ngoài nước biết đến.
Đặc biệt nữa là một số các sản phẩm
đã xuất khẩu đi như Trung Quốc
rồi Nhật Bản
và các nước Tây Âu
và cũng được tất cả các nước bạn
rất thích và yêu mến sản phẩm của Truyền Mỹ.
Sau hơn 10 thế kỷ
những tiếng cưa tiếng đục vẫn còn đó
làng nghề chôn ngọ
vẫn giữ được nghề truyền thống của Tổ tiên.
Cứ lớp thế hệ các nghệ nhân
làng chôn ngọ già đi
thì lại có lớp khác đứng lên
tiếp tục duy trì và phát triển.
Đối với họ
khảm trai không chỉ là nghề miêu sinh
giúp người dân chôn ngọ
có cuộc sống ổn định, ấm no
mà đó còn là hồn cốt văn hóa của làng.
