Tại sao tất cả những người từng lên vũ trụ sau khi trở về đều thay đổi?
Có người từ bỏ chiếc cao bồng lộng trong quân đội để
đến vùng hoang dã làm công tác bảo vệ môi trường.
Có người từ đó trở nên trầm lặng, ít nói, rồi chuyển sang nghiên cứu thần học.
Thậm chí có người còn tuyên bố rằng thế giới mà ông nhìn thấy còn chân thực hơn
cả hiện thực mà chúng ta đang thấy. Những nghiên cứu đối với hiện tượng này từ
năm 1961 thời đại Gagarin phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ đã bắt đầu rồi.
Ban đầu các nhà khoa học cho rằng đây chỉ là một sự giác ngộ cảm tính của
con người khi bị cô lập trong không gian. Nhưng những kết quả trục quát
y học mới nhất vào năm 2017 lại cho thấy đây thực sự là một sự biến đổi của não bộ.
Vậy tại sao vũ trụ lại muốn thay đổi bộ não của chúng ta?
Hôm nay chúng ta cùng nói về hiệu ứng tổng quan,
bức ảnh đáng sợ nhất lịch sử nhân loại.
xin chào các bạn mình là Miss Ruby.
Câu chuyện bắt đầu từ bức ảnh được mệnh danh bức ảnh đáng sợ nhất trong
lịch sử nhân loại được chụp vào năm một nghìn chín trăm tám mươi bốn này.
Người đang lơ lửng trong không hình là phi hành gia người Mỹ Brook Mc Candless.
Hãy nhìn kỹ, trên người Brook không có bất cứ sợi dây nào cả. Trước ông,
tất cả các phi hành gia khi ra khỏi tàu đều phải có một sợi dây gắn với phi thuyền,
đó chính là dây sinh mạng của họ. Nhưng Brook vào buổi sáng sớm hôm đó,
ông đã chủ động cắt đứt sợi dây gắn kết và chỉ đeo trên lưng một ba lô phun khí
nitơ với tốc độ hai mươi tám chín trăm km/h đơn cô lơ lửng giữa vũ trụ tĩnh lặng.
Qua lớp kính màu vàng trên mũ bảo hiểm,
dưới chân Brook là trái đất xanh khổng lồ đang lấp lánh,
còn phía trên là vực sâu vô tận và sự tĩnh mịch chết lặng.
Xung quanh không có bất kỳ âm thanh nào,
ông chỉ có thể nghe thấy tiếng thở và nhịp đập tim của chính mình.
Theo lẽ thường của khoa học thần kinh, bộ não con người khi đối mặt với sự hư vô
tột cùng như thế này sẽ vì cảm nhận được sự tồn tại nỗi lo ấu rõ rệt mà suy sụp,
gây ra những cơn hoảng loạn nghiêm trọng, thậm chí có thể phát điên ngay lập tức.
Nhưng một điều kỳ lạ đã xảy ra.
Sau khi Bruce trở về, trước ông kính phỏng vấn, mọi người nghĩ ông sẽ nói.
Lúc đó tôi rất căng thẳng, tôi hối hận vì sự liều lĩnh của mình.
Nhưng không, ông chỉ bình thản nói một câu. Tôi cảm thấy thoải mái vô cùng.
điều này thật vô lý. Làm sao có thể thấy thoải mái? Chỉ cần nhìn vào bức ảnh thôi.
Bất kỳ một người yêu thích vũ trụ có lý trí nào cũng sẽ gọi đó là bức ảnh đáng
sợ nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng tại sao Bruce lại cảm thấy thoải mái?
Tại sao ngày khoảng khắc đó ông lại chủ động tháo khóa an toàn?
Có lẽ tố chất tâm lý của ông thực sự thuộc hạng cực phẩm sao?
Thế nhưng ngày sau khi chứng kiến Bruce trôi trở về,
thật bất ngờ là người đồng nghiệp của ông, Robert Stewart, cũng không hề
sợ hãi mà tháo móc nối, đèo balô lên lưng, rồi bay vào vực sâu của vũ trụ.
Thậm chí trong chính năm đó, chỉ trong năm 1984, George Nelson, Jim Hoffman, Joe
Allen và Deo Garner cùng nhiều phi hành gia khác cũng đều sử dụng balô không dây.
Mật độ sử dụng dày đặc đến mức NASA đã phải cho
dừng và thu hồi trang thiết bị balô không dây này.
Vậy tại sao vào năm 1984 tất cả các phi hành gia đều giống như bị mê hoặc,
bị cuốn hút bởi hoạt động đáng sợ này đến vậy?
Hóa ra các cuộc điều tra cho thấy tất cả họ thực sự đã biến đổi.
Trước khi bay vào vũ trụ, Ron Garan là một phi công chiến đấu F mười sáu.
Ông từng tham gia chiến đấu vùng vịnh.
Trong tâm trí ông, thế giới được chia thành những phần rõ ràng, không phận,
trận địa của kẻ địch và những đường biên giới quốc gia cần phải bảo vệ.
Tất cả đều được phân định rạch ròi. Nhưng vào năm hai không linh tám,
khi ông ở trên trạm vũ trụ quốc tế từ độ cao bốn trăm km nhìn xuống trái đất,
cả con người ông đã thay đổi. Garan nói, đó là một lớp không khí mỏng
như cánh ve đang bảo vệ sự sống của toàn nhân loại trên trái đất.
Tôi không nhìn thấy cái gọi là kinh tế toàn cầu,
cũng không nhìn thấy bất kỳ đường biên giới quốc gia nào.
Tôi nhìn thấy một sinh quyền tràn đầy sức sống, lấp lánh sắc cầu vồng.
Ông thậm chí còn nói.
And to take that one step further.
Is that we're not in the universe; we are the universe.
We are the universe becoming conscious of itself.
Ron Garan mô tả trạng thái này là bước ra khỏi hang động của Plato.
Cuộc sống thường ngày của chúng ta trên trái đất giống như đang bị nhốt trong một
hang động tối tăm, chỉ nhìn thấy những ảo ảnh do bộ não tạo ra trên vách hang,
chẳng hạn như tiền bạc, địa vị và sự thù địch trong chiến tranh.
Còn chuyến du hành vào vũ trụ ấy, giống như có ai đó cưỡng chế quèn quắt
đầu tôi lại, để tôi nhìn thấy ánh sáng mặt trời bên ngoài hang động.
Đây không hề là sự trùng hợp.
Kể từ ngày mười hai tháng bốn năm một nghìn chín trăm sáu mốt,
khi Churi Garan trở thành người đầu tiên trong lịch sử bay vào vũ trụ,
phần lớn những người từng lên vũ trụ sau khi trở về đều đã biến đổi.
Garan trở nên vô cùng cảm tính và u sầu.
Ông thậm chí còn tâm sự với một người bạn thân rằng Trái đất nhìn từ
không gian mang một vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng đến mức khiến ông
không thể nào tiếp tục tiếp nhận chủ nghĩa thuần túy duy vật được nữa.
Người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng Neil Armstrong. Sau khi trở về trái đất,
đột nhiên gạt bỏ mọi vinh quang, rồi chạy đến Ecuador tìm kiếm đồng vàng
trong truyền thuyết và cái gọi là thư viện kim loại của nền văn minh tiền sử.
Người thứ hai đặt chân lên mặt trăng Buzz Aldrin trở nên kỳ quặc và sống khép kín,
không chịu đặt tay lên kinh thánh để thề,
thậm chí ông còn tung thẳng cú đấm vào một phóng viên khi bị khiêu khích.
còn có Rusty Schweickert của Apollo chín, ông trở thành một người kiên định
ủng hộ việc giải trừ quân bị và người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường.
Ông từng đặt câu hỏi khi bạn đại diện cho toàn thể nhân loại đứng ở đó,
thì quốc tịch còn có ý nghĩa gì nữa?
Alan Bean của Apollo mười hai sau khi trở về thì bắt đầu điền cuồng vẽ tranh.
James Irwin Apollo mười làm tin chắc là khi ở trên mặt trăng,
mình đã cảm nhận được sự hiện diện của thượng đế. Sau khi trở về,
ông từ chức ngay lập tức để thành lập một tổ chức tôn giáo mang tên High Flight.
Đồng thời, từng nhiều lần dẫn đầu các đoàn thám hiểm đến thổ nhĩ kỳ để tìm kiếm
con tàu Noah. Còn Sharrack Apollo mười sáu sau khi trở về cũng quay ngoắt
sang viện thần học trở thành một nhà truyền giáo, vân vân và vân vân.
Dù thế nào đi nữa, tại sao vũ trụ lại có thể thay đổi một con người?
Ban đầu, điều này đã thu hút sự chú ý của một nhà triết học.
thời gian trở về năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai Frank White khi đó vẫn là một
nhà nghiên cứu chính trị đang ngồi trên một chiếc máy bay chở khách bay ngàn quan
nước mỹ ông nhìn xuống những dãy núi, dòng sông và các thành phố bên dưới trong đầu
đột nhiên nảy ra một ý nghĩa nếu con người thực sự bắt đầu sống lâu dài trong không
gian vũ trụ vậy thì thế giới trong mắt họ có còn giống như hiện tại không liệu họ có
sở hữu một góc nhìn tổng quan từ đó nhìn thấy cách toàn bộ hệ thống vận hành nhìn
thấy vạn vật đan xen với nhau như thế nào hay không sau đó Frank bắt đầu công việc
điều tra kéo dài hơn bốn mươi năm và cho đến nay vẫn chưa dừng lại phương pháp của
ông rất đơn giản lần lượt tìm đến tận nhà những phi hành gia đã nghỉ hưu ông muốn
xem liệu trong những lời mô tả của họ có điểm chung nào hay không kết quả ông phát
hiện bất kể là phi hành gia mỹ hay liên xô phương đông hay phương tây với rất nhiều
hoàn cảnh khác nhau những từ ngữ họ dùng để mô tả khoảng cách nhìn trái đất đều
giống nhau một cách đáng kinh ngạc thứ nhất sự biến mất của biên giới tất cả các phi
hành gia đều đề cập trong không gian tấm bản đồ thế giới trong đầu bạn sẽ mất dụng
bạn không thể tìm thấy đường biên giới giữa các quốc gia cũng không thể tìm thấy lý
do để chiến tranh bạn chỉ cảm thấy việc chia trái đất thành hết vùng này đến vùng
khác là một trong những điều nguồn gốc nhất mà con người từng làm thứ hai cảm giác
mong manh các phi hành gia vốn cho rằng trái đất rất lớn rất vững chắc nhưng sau
khi lên không gian họ phát hiện khí quyển chỉ là một đường mảnh hơn nữa mỏng như
một tờ giấy nhiều phi hành gia sau khi trở về nói rằng từ không gian họ không thể
nhìn thấy vạn lý trường thành cũng không thể nhìn thấy bất kỳ công trình nhân tạo
nào mà chỉ có thể nhìn thấy kết quả hành động của con người để lại chẳng hạn như dấu
vết sói mòn đất và nước nạn chặt phá rừng cùng những cột khói đen bốc lên từ các
nhà máy các phi hành gia cảm thấy đau đớn vì điều đó cảm giác những tổn thương mà
con người gây ra cho trái đất là không giao kệ giết thứ ba cảm giác kết nối nhiều
phi hành gia mô tả lúc nhìn trái đất họ cảm thấy mọi thứ bên trong mình bao gồm
cả chính con tàu vũ trụ không còn là một người quan sát nữa mà trở thành một
phần của cơ thể sống khổng lồ mang tên trái đất sống như việc bạn là một tế bào
trong cơ thể và tế bào này đột nhiên nhận thức được sự tồn tại của toàn bộ cơ thể
con người mà nó sống trong đó vậy cứ như vậy vào năm thứ mười lăm của cuộc điều tra
năm một nghìn chín trăm tám mươi bảy ngoài chính thức đặt tên cho hiện tượng này
là hiệu ứng tổng quan và trong chuyên khảo điều tra của mình ông chỉ ra rằng đây
thực chất là sự tiến hóa của con người đồng thời sự tiến hóa này cũng không phải
là điều mà mọi phi hành gia đều có thể trải nghiệm hay chạm đến trạng thái đó được
Các phi hành gia ở quỹ đạo trái đất thấp,
chẳng hạn như Ron Garan mà chúng ta nói đến phía trước,
ở độ cao bốn trăm km nhìn thấy một bầu khí quyển khổng lồ nhưng mỏng như tờ giấy.
Qua mô tả trạng thái này, sống một loại góc nhìn đảo ma hơn.
Trái đất lúc này vẫn lớn đến mức lấp đầy tầm mắt của bạn và trong trạng thái
này khả năng kích hoạt hiệu ứng tổng quan vốn khủng phọi là một trăm phần trăm.
Tuy nhiên, ngoài phát hiện khi con người bay lên mặt trăng,
một khi khoảng cách vượt quá ba trăm nghìn km,
thì trái đất không còn là một cơ thể mẹ khổng lồ mang lại cho bạn cảm giác
an toàn nữa mà thu nhỏ thành một viên bi sành phát sáng, cô độc và mong manh.
Còn phi hành gia thì lơ lửng giữa không gian tối vô tận.
Qua phát hiện một trăm phần trăm các phi hành gia trở về sau khi bay lên
mặt trăng đều trải qua sự thay đổi nhận thức từ góc nhìn trên mặt trăng,
đặc biệt là khi tận mắt chứng kiến khoảng cách trái đất mỏng,
họ đều cảm nhận được sự chấn động vạn vật hợp nhất,
khoảng cách đã thay đổi mức độ hòa nhập.
Thời gian ở trong không gian càng lâu, thì khả năng kích hoạt càng lớn. Tiếp đó
chính là quan điểm triết học mà Why đề cập trong sách để giải thích nguyên nhân này.
Con người là một dạng sinh vật vũ trụ đang tiến hóa.
Đây không chỉ đơn thuần là một sự xúc động về mặt cảm tính,
mà chính là giai đoạn tiến hóa tiếp theo của loài người.
Nhưng liệu sự biến đổi và tiến hóa này có cơ sở vật lý không?
Rất đáng tiếc là những năm 1980, 1990 sau đó,
nghiên cứu của Why đã đình trệ suốt hai mươi năm,
bởi không có bác sĩ nào chỉ vì một quan điểm triết học mà thực sự
cầm giáo phẫu thuật giúp ông giải phẫu bộ não của phi hành gia.
Thế nhưng bước sang thế kỷ 21, trong thực tế lại xuất hiện hai câu chuyện
bắt đầu khiến các bác sĩ một lần nữa xem xét quá trình tiến hóa này.
năm hai nghìn hai tại thành phố tcherekman mỹ một người đàn ông tên jackson ba chích
trước đêm thứ sáu định mệnh thay đổi cả cuộc đời ông đến chile sống của jackson cực
kỳ đơn giản tập thể hình tiệc tùng và tán gái thậm chí ngay cả đến để toán cấp hai
anh còn thi trượt và cũng chẳng có chút hứng thú nào với khoa học hay nghệ thuật
nhưng chính vào đêm muộn hôm ấy ngay khi jackson vừa bước ra khỏi quán bar hai tên
cướp đã chặn anh ta lại trung đánh mạnh nhiều lần vào phía sau đầu jackson chỉ
trong khoảnh khắc jackson ngất đi sau khi được đưa đến bệnh viện bác sĩ chẩn đoán
anh bị chấn động não nghiêm trọng nhưng không có vấn đề gì đáng ngại sau đó cho
anh về nhà nghỉ ngơi nhưng sáng hôm sau khi jackson bước vào phòng tắm mở vòi nước
và chuẩn bị rửa mặt anh phát hiện toàn bộ thế giới đã thay đổi jackson nhớ lại đó
là sự hỗn loạn đẹp đã khó có thể diễn tả bằng lời thực tại êm đềm đã biến mất dòng
nước trở thành những đường tiếp tuyến hình học phức tạp chúng xoay chuyển co lại
và tái cấu trúc khi bước ra ngoài jackson lại phát hiện mọi thứ xung quanh những
đám mây ánh nắng thậm chí cả bàn tay của chính mình mọi sự vật tất cả tất cả đều
biến thành một màn trận toán học được cấu thành từ các hình tam giác vòng tròn và
hình phần dạng và jackson trở thành một trong số cực ít người trong lịch sử có thể
nhận biết hình phần dạng bằng mắt thường và vẽ lại chúng bằng tay tuy nhiên jackson
cảm thấy vô cùng sợ hãi biến cố này đã khiến anh rơi vào trạng thái hoảng loạn và
trầm cảm kéo dài suốt nhiều năm bởi vì thế giới thực bên ngoài tràn ngập những
chi tiết toán học thực sự có lượng thông tin quá khủng khiếp đối với não bộ của
con người vì thế để làm rõ suốt cuộc mình đang trải qua chuyện gì jackson
bắt đầu viết email cho các nhà khoa học thần kinh triển khắp thế giới điều
này đã thu hút sự chú ý của nhà khoa học thần kinh người Phần Lan berit rogat
Rogat đưa Jackson vào máy cộng hưởng từ.
Kết quả phát hiện, thùy đỉnh và tiền chém của anh ta đã biến dị,
vốn dĩ hai khu vực truyền xử lý không gian, hình học,
logic và tọa độ toán học này tương đối độc lập với các vùng não khác,
nhưng ở đây lại phát hiện chúng đã trở thành những đường cao tốc liên tục phát
xung điện với các vùng não xung quanh. Cứ như vậy, Jackson được chuẩn đoán mắc
hội chứng bác học mắc phải hay hội chứng thiên tài đột xuất cực kỳ hiếm gặp.
đồng thời tiến sĩ De Rocheford, cha đẻ lĩnh vực nghiên cứu hội chứng bác học,
giải thích như sau: trong bộ não của mỗi người khi sinh ra đều được cài sẵn đủ
loại chương trình. phần lớn mọi người không có quyền truy cập vào những phần mềm
này. có những cú đá Jackson phải chịu vừa hay một cách chính xác về mặt vật lý,
đá đá hỏng bức tường lừa ngăn ông truy cập chúng. hiện nay Jackson là
một nhà toán học và nghệ sĩ hàng đầu và cách nói của ông cũng trở nên
vô cùng hiệu ứng tổng quan. ông nói trong vũ trụ này vạn vật đều kết
nối với nhau. tôi không nhìn thấy sự hỗn loạn, tôi chỉ nhìn thấy một
trật tự hoàn hảo. trật tự này đẹp đến mức khiến người ta muốn khóc.
năm 2008, Eben Alexander, bác sĩ phẫu thuật thần kinh cấp cao của trường y Harvard,
một trong những người tiên phong trong phẫu
thuật xâm lấn tối thiểu, đột nhiên ngã bệnh.
trước khi lầm bệnh, ông tin chắc rằng tất cả cảm xúc,
ký ức và thậm chí cái gọi là linh hồn của
con người chẳng qua cũng chỉ là những sản phẩm sinh hóa phụ của quá trình phóng
điện vật lý giữa các tế bào thần kinh trong não bộ. nhưng ngày sau khi lầm bệnh,
tất cả đã thay đổi. ông mắc một dạng viêm màng não
do vi khuẩn cực kỳ hiếm gặp. chỉ trong vài giờ ngắn ngủi,
vi khuẩn đã hoàn toàn làm tan vỏ não của ông. điện não đổ cho thấy toàn bộ vỏ não,
nơi chịu trách nhiệm xử lý ngôn ngữ, logic, thị giác và việc xác định bản thân,
đã ngừng hoạt động. nói đơn giản, đây chính là chết não,
trở thành người sống thực vật. nhưng sau đúng bảy ngày hôn mê sâu,
lúc gia đình sắp từ bỏ mọi hy vọng, thì ông lại mở mắt và khôi phục ý thức
một cách kỳ diệu. ông nói, trong bảy ngày đó, tôi đã trải qua một hành trình
siêu hiện thực. tôi cảm thấy mình biến thành một khối thạch nhầy nhụa,
thấy mình bị bao quanh bởi những bộ rễ. tôi không hề cảm thấy cô độc,
mà lại cảm thấy một sự kết nối tuyệt đối. dang rời biến mất,
thời gian ngừng lại, đó là một loại cảm giác vạn vật kết nối với nhau. tôi
cảm thấy mình biến thành một nguyên tử, nhưng đồng thời cũng là một thiên hà,
cũng là chính vũ trụ. là một bác sĩ thần kinh, việc đầu tiên em mình làm sau
khi tỉnh lại là điên cuồng xem lại bệnh án của chính mình. ông phát hiện,
dù gì thì vỏ não của mình đã ngừng hoạt động hoàn toàn và không hề có
bất kỳ hoạt động dòng điện nào trong suốt bảy ngày đó. vậy theo lý thuyết
khoa học mà trước đây mình tin tưởng tuyệt đối, vỏ não ngừng hoạt động,
tức là không có ý thức. ý thức của ông lẽ ra phải bằng không,
lẽ ra phải là một khoảng hư vô mới phải. nhưng tại sao ý thức của
ông ngược lại lại phình to đến cực hạn? tại sao thực tại mà ông cảm
nhận lại rõ ràng và rộng lớn hơn cả khi bộ não hoạt động bình thường?
liệu có phải mình cũng vì thế mà đã biến đổi về mặt vật lý, từ đó kích hoạt
một dạng tiến hóa rộng lớn hơn và hiệu ứng tổng quan nào đó hay không?
ngoài mỹ liên xô cũng đã sớm phát hiện ra hiệu ứng tổng
quan này nhưng họ gọi nó là sự chuyển dịch giá trị.
Họ phát hiện hệ giá trị cá nhân của hầu hết các phi hành
gia tham gia nhiệm vụ dài ngày đều đã xảy ra biến đổi.
Sự quan tâm của họ đối với đấu đá chính trị và hưởng thụ vật chất giảm mạnh,
trong khi mức độ quan tâm đến môi trường,
vận mệnh nhân loại và hòa bình lại tăng lên theo cấp số nhân.
Ngoài Gagarin nhắc đến phía trước,
còn có một phi hành gia nổi tiếng khác là Oleg Makarov.
Sau khi trải qua hai mươi ngày trên quỹ đạo,
ông đã báo cáo với mặt đất về những biến động tâm lý dữ dội bên trong mình.
cảnh tượng trước mắt nằm ngoài dự đoán,
nó khác hoàn toàn với bất cứ điều gì tôi từng trải qua trên trái đất,
khởi dậy trong tôi một sự cộng hưởng cảm xúc vô cùng sâu sắc.
Bỗng nhiên trong chớp mắt,
tôi đã sinh ra một loại nhận thức mới về bản thân chưa từng có bao giờ.
Tôi ý thức được rằng trước hết tôi là một cư dân của trái đất.
ở một khía cạnh khác, trong thời kỳ chạy đua không gian mỹ xô,
mỹ thực hiện chương trình đổ bộ lên mặt trăng,
còn liên xô thực hiện các trạm vũ trụ. xét về khoảng cách, họ không bay xa bằng mỹ,
nhưng xét về thời gian thì lại vượt xa mỹ. các phi hành gia liên xô thường phải ở
lại trong không gian từ sáu tháng đến một năm. vì vậy nghiên cứu của họ về hiệu ứng
tổng quan thậm chí đã đạt đến mức độ ứng dụng thực tế. từ những năm một nghìn chín
trăm sáu mươi, các nhà tâm lý học nga phát hiện cái gọi là sự chuyển dịch giá trị.
nếu để tích tụ sẽ dẫn đến hội chứng mệt mỏi không gian nghiêm trọng. phi hành gia sẽ
rơi vào trạng thái cáu kỉnh bệnh lý, họ sẽ chửi mắng trung tâm điều khiển mặt đất,
thậm chí còn xuất hiện ảo giác trong giấc ngủ, cảm giác những bức tường
của trạm vũ trụ đang ép vào giữa, thậm chí có người nhìn thấy thiên thần,
nghe thấy những câu chuyện kỳ quái trong không gian của liên xô,
những tín hiệu vô tuyến cầu cứu ma quái của các phi hành gia đã biến mất. tóm lại,
phương pháp giải quyết tất cả những điều này đến từ một
phát hiện tình cờ vào năm một nghìn chín trăm tám mươi hai.
đó là nhật ký của phi hành gia Valentin Lebedev.
Ông đã liên tục ở trên trạm vũ trụ Soyuz bảy suốt hai trăm mười một ngày
và gần như suy sụp. Tôi không nhìn thấy điểm kết thúc của nhiệm vụ.
Tôi rất bực bội. Cái hộp sắt chết tiệt này khiến tôi nghẹt thở.
Nhưng mà chỉ cần tôi chui đến bên cửa sổ nhìn trái đất, là tôi biết nhà vẫn ở đó.
Tôi vẫn là một phần của nhân loại.
Ánh sáng xanh ấy chính là một loại thuốc an thần liều mạnh.
Sau khi đọc được cuốn nhật ký này, các nhà khoa học tại viện nghiên cứu vấn đề
y sinh liên xô đã lập tức tiến hành một bài kiểm tra.
bởi vì họ chú ý thấy rằng từ cuối cùng mà Valentin
viết không phải là tuyệt đẹp mà là thuốc an thần.
Thông qua việc theo dõi sóng não, họ phát hiện khi phi hành gia nhìn trái đất,
thì sóng beta liên quan đến trạng thái lo âu của vỏ não sẽ lập tức biến mất,
thay vào đó là sóng alpha của trạng thái thư giãn sâu.
Vì vậy cơ quan vũ trụ Liên Xô đã đưa ra một quy định bắt buộc,
dù trạm vũ trụ được bố trí chặt chội đến mức nào,
cũng tuyệt đối không được che khuất ô cửa sổ lớn hướng về phía trái đất.
Và họ chính thức đưa ra liệu pháp cửa sổ.
Trung tâm điều khiển mặt đất thậm chí sẽ yêu cầu phi hành gia mỗi
ngày phải có một khoảng thời gian cố định để ngẩn người bên cửa sổ.
Thực ra đó chính là lúc họ đang uống thuốc.
Thời gian đến năm 2019, tiến sĩ Donald Robot của Đại học Y khoa Nam California cuối
cùng đã tìm thấy cái gọi là bằng chứng vật lý về sự tiến hóa của phi hành gia.
Bà đã quét não của 34 phi hành gia và phát hiện rằng trên trái đất do có trọng lực,
não của chúng ta chìm trong hộp sọ, xung quanh được bao bọc bởi dịch não tủy.
Nhưng trong môi trường không trọng lực bên ngoài không gian,
não cũng giống như một quả bóng nước mất trọng lượng,
bắt đầu nổi lên tổng thể trong dịch não tủy.
Vì vậy ở những phi hành gia bay dài ngày, phần trung tâm phía trên của
não gần như hoàn toàn khép lại, đặc biệt là vùng thùy đỉnh và tiền trên.
Trong đó tiền trên về mặt chức năng được gọi là bộ chỉ huy của ý thức con người.
Do chịu sự chèn ép vật lý trong thời gian dài,
vùng não này của phi hành gia lại xuất hiện biến đổi ở cấp độ vật lý.
Nói cách khác, vũ trụ không chỉ mang đến cho bạn trải nghiệm hiệu ứng
tổng quan giống như một sự tiến hóa, mà còn thực sự cưỡng ép thu nhỏ
và điều tiết bằng tiền hàng một cá nhân và cái tuổi trong não bạn.
Sở dĩ các phi hành gia cảm thấy vạn vật kết nối với nhau,
cảm thấy danh giới biến mất, không phải vì họ trở nên cao thượng hơn,
mà thực sự là vì não của họ ở cấp độ vật lý đã không còn phân biệt đâu là bản thân,
đâu là vũ trụ như lúc bình thường.
Điều này nghe có vẻ quả kỳ lạ, nhưng ngay sau nghiên cứu này vào năm 2019 và 2020,
nga, châu âu, canada cũng lần lượt thành lập các bộ phận khoa học chuyên biệt
để quét và nghiên cứu não của các phi hành gia. đáng tiếc là sau đó dường
như vẫn chưa tìm thấy thêm những tiến triển thực chất nào trong nghiên cứu.
Chúng ta hãy tiếp tục chờ đợi. Nhưng tiếp theo, tôi muốn chia sẻ thêm một
số nghiên cứu liên quan được thực hiện trên mặt đất cũng kỳ diệu không kém.
này không mời làm. giáo sư đèo Kehner,
nhà tâm lý học của đại học California Berkeley đã đưa ra một quan điểm gây chấn
động trong một bài diễn thuyết. lòng chắc ẩn và sự kính sợ là những cơ chế uy lực
nhất mà quá trình tiến hóa đã khắc sâu vào bản năng của chúng ta. còn nghĩa là gì?
trước khi đi sâu vào quan điểm của tiến sĩ, mình xin chia sẻ với mọi người một
loại trải nghiệm bản thân và cũng lọc của rất nhiều người khi leo lên đỉnh núi
cao có liên quan. nhiều bạn hỏi mình đã đi đâu mà cảnh đẹp đến vậy đúng không?
thực ra lúc đó đằng sau lưng đổ bì là những dãy núi hùng vĩ vô cùng. khi
thật sự đứng trước một ngọn núi khổng lồ, bạn có cảm giác thế nào?
cảm giác đầu tiên có thể không phải là một suy nghĩ rõ ràng,
mà là sự choáng ngợp trước cảnh tượng hùng vĩ trước
mắt. khi bạn đến gần trước những ngọn núi cao đến nổi,
những vách núi kéo dài đến tận đường chân trời, những tầng mây trồi rất thấp,
những thung lũng sâu hùn hút và những khoảng không rộng đến mức khó
xác định điểm tận cùng, dường như chỉ cách bạn mấy cánh tay. lúc này,
tay bạn gần như không còn nghe thấy tiếng người, chỉ còn tiếng gió lướt qua đá,
tiếng thở của chính mình và đôi khi là một khoảng im lặng rất sâu. bạn
ngừng đầu lên và nhận ra, thứ đang ở trước mắt lớn đến mức cơ thể mình gần
như không thể nhìn xuống hết bằng một cái nhìn. có ai đã từng leo núi cao?
bạn có thể gọi tiền cảm xúc đó được không?
đó không đơn thuần là cảm giác đẹp, nó giống như một sự choáng
ngợp và lẫn kính sợ. bạn biết mình đang nhìn thấy một thứ có thật,
nhưng kích thước và sự hùng vĩ của nó vượt qua khả năng cảm nhận thông thường của
não bộ. và trong vài phút ngắn ngủi ấy, cái cảm giác tôi vốn luôn đứng ở trung tâm,
dường như nhỏ lại, không phải bạn biến mất, mà là thế giới xung quanh đột
nhiên trở nên quá lớn. bạn không còn chỉ đứng trước thiên nhiên để ngắm nó,
mà có cảm giác mình đang đứng bên trong một thứ lớn hơn mình rất nhiều,
rất rất nhiều. lúc này bạn không còn chú ý nhiều đến điện thoại, công việc,
tiền bạc hay những chuyện vừa khiến mình khó chịu chỉ vài giờ trước. những
thứ từng chiếm rất nhiều không gian trong đầu bỗng trở nên nhỏ bé,
cay tôi bỗng chốc nhỏ không đáng kể.
thực ra quan điểm của giáo sư rất giống với quan điểm phá chấp ngã
trong kinh kim cang của phật giáo. ông cho rằng cái gọi là bản ngã,
phần mềm được cài đặt sẵn bên trong bộ não của chúng ta hoàn toàn không phải là
một pháo đài bất khả xâm phạm. trên bức tường lửa của nó tồn tại một lỗ hổng,
mà lỗ hổng này có tên là cảm giác kinh sợ.
tiếp đó để làm rõ rốt cuộc cảm giác kính sợ đã làm gì với bộ não của chúng ta,
giáo sư tiến hành một thí nghiệm trong khuôn viên Berkeley.
ông chia các tình nguyện viên thành hai nhóm, nhóm A được yêu cầu nhìn vào một khu
rừng bạch đàn lớn nhất có lịch sử hai trăm năm trong một phút, nhóm B được yêu
cầu nhìn vào một tháp đồng hồ nhân tạo hiện đại có cùng chiều cao trong một phút.
Sau đó giáo sư sắp xếp nhóm người qua đường thứ ba xuất hiện,
họ sẽ ngã trước mặt các tình nguyện viên và làm rơi bút văng tung tè xuống đất.
Kết quả là những người ở nhóm B nhìn tháp đồng hồ đều thở ơi đi vòng qua,
trong khi những người nhóm A nhìn cây bạch đàn trong một phút
lại thể hiện khuynh hướng vị tha vượt xa người bình thường.
Họ không chỉ nhanh chóng rút nhặt bút mà điều kỳ lạ hơn là trong bài đánh
giá tâm lý sau đó cảm giác tôi quan trọng hơn người khác đã biến mất.
Giáo sư đặt cho hiện tượng này một cái tên rất có chất thiền cảm giác cái tôi nhỏ.
Cho nên có lẽ nào những thông điệp cổ xưa còn lưu lại dưới những ngọn núi tuyết,
những khu rừng cổ đại không nói dối,
những thứ thuộc về tự nhiên cổ xưa khổng lồ mang đầy dấu vết của tháng năm
thực sự có thể sống như trái đất làm biến đổi bộ não của chúng ta sao?
Cảm giác chúng ta gọi là kính sợ thực ra là từ khóa cao tần mà mẹ thiên nhiên
gửi đến não bộ còn người hải trăng. Trong qua là từ khóa khi chạm đến hiệu
ứng tổng quan từ ngoài không gian vũ trụ mạnh liệt hơn hết mà còn cộng thêm
một đường dây nối vĩnh viễn trên bo mạch chủ ở cấp độ vật lý là như vậy sao?
Điều này tuyệt đối không thể dùng những lời giải thích giáo dưỡng kiểu gần gũi
với thiên nhiên tâm trạng sẽ tốt hơn để giải thích nguyên lý sâu xa bên trong.
Bởi ngay cả giáo sư Kessler cũng phát hiện rằng sau khi con người sinh ra
cảm giác kính sợ thì nồng độ sialtrin tiền viêm trong máu cũng giảm rõ rệt.
Nói cách khác, khi bạn nhận thức được sự nhỏ bé của mình,
ngay cả tình trạng viêm trong cơ thể cũng đạt được chữa lành.
Nhà triết học ngoài tương ượn thuật ngữ điện ảnh khít kho kum
để miêu tả sự biến đổi tâm lý này. Khi bạn rời xa trái đất,
tầm nhìn của bạn mở rộng nhưng nhận thức về tầng sâu bên dưới lại đi cuồng tiến lên.
Bạn nhìn thấy sự vi lý của chiến tranh,
nhìn thấy con người giống như những đứa trẻ tranh cãi vì tiền bạc và lãnh thổ.
Có lẽ đây chính là lý do chỉ có chàng tử mới có thể dưới sự ra chỉ của thiên nhiên
viết nên câu ngụ ngôn sâu sắc ấy. Hưu quốc ự hòa chi tả giác giả viết súc thị,
hưu quốc ự hòa chi hữu giác giả viết màn thị. Thời tường giữ tràng điện
nhi chiến phục thi sổ vạn trục bắc tuần hiếu ngũ nhật nhi hộ phạm.
Nhân tài toàn năng lừng danh của nhân loại,
Order Huxley từng dùng cây xương rồng gây kích động để hắt vào bộ não của chính mình
rồi nói rằng các giác quan của chúng ta vốn không phải dùng để cảm nhận thế giới,
vừa hay ngược lại tác dụng của giác quan là dùng để ngăn cản chúng ta cảm nhận
thế giới. Ông cho rằng bản chất của vũ trụ là một trường thông tin vô hạn,
ông gọi nói lại ý thức đại vũ trụ. Nếu bộ não con người hoàn toàn mở,
không ngừng tiếp nhận rung động của từng hạt, sự vương vướng của từng tia sáng,
thì hệ thần kinh của chúng ta sẽ lập tức quá tải, sau đó cháy như chập cầu chì.
càng quan trọng hơn là khi một con hổ đang đòi lào về phía bạn,
nếu bạn vẫn chìm đắm trong suy nghĩ, ô bộ lông của con hổ phù hợp với tỷ lệ vàng,
nó là một phần của năng lượng vũ trụ, tôi cũng là một phần của nó,
chúng ta là thiên nhân hợp nhất, tôi nên ôm lấy nó,
thì chắc chắn bạn sẽ không thể để lại hậu duệ để duy trì gen được nữa,
mà sẽ bị con hổ ăn thịt. vì vậy để giúp bạn sống sót,
tiến hóa đã lắp đặt trong não bạn một van, tức là thủy trước chêm và TmN.
chúng chịu trách nhiệm xây dựng khái niệm về cái tôi. nó nói với bạn,
bạn là một cá thể độc lập, con hổ rất nguy hiểm, bạn cần tiền bạc,
địa vị và lãnh thổ. nó chặn lại 99 phần trăm toàn bộ sự thật,
chỉ để lại cho bạn một chút hiện thực vừa đủ để duy trì sự sống. nó chính là lý
do tại sao chỉ trong những trạng thái cá biệt, sự thật mới có thể lọt vào.
vì vậy năm một nghìn chín trăm năm tư,
odoth husley đã sáng tác kiệt tác văn học cánh cửa của nhận thức
mặc dù khi đó lý thuyết này vẫn chỉ dừng lại ở phương diện văn học,
nhưng sau đó vào năm hai nghìn hai mươi một,
nhà thần kinh học robin harris của đại học hoàng gia london đã dùng thực nghiệm
để chứng minh mô tả của husley. khi những người tham gia thí nghiệm sống như
husley hách vào não và nhìn thấy ý thức đại vũ trụ, máy cộng hưởng từ cho thấy
tmen ở thùy trước chém của họ hoàn toàn tắt. khi chiếc van giảm áp này tắt đi,
những vùng não vốn bình thường chẳng liên quan gì đến nhau đột nhiên bắt đầu
điên cuồng thiết lập kết nối, mọi ranh giới ngay khoảng cách đó đều biến mất.
vùng cảm xúc của bạn trực tiếp bắt tay với vùng thị giác,
ký ức của bạn trực tiếp bùng phát trong các giác quan. đây chính là lý
do những người tham gia thí nghiệm xuất hiện cảm giác đồng nhất,
thậm chí có thể nghe thấy màu sắc, nhìn thấy âm thanh.
Giáo sư Harris còn từng đưa ra một giả thuyết thậm chí còn chấn động hơn,
gọi là giả thuyết não entropy, cho rằng khi con người còn ở giai đoạn sơ sinh,
bộ não thực ra đang ở trong trạng thái entropy cao, vạn vật hợp nhất như thế này.
Nhưng để bạn có thể sinh tồn trong xã hội,
bộ não đã tiến hóa hệ thống tường lửa DMN.
Nó cưỡng chế cắt đứt sự liên kết giữa các khu vực,
cưỡng chế quy định rằng bạn chỉ có thể nhìn thấy những thứ nên nhìn thấy.
Đây chính là cái gọi là lý trí và cái tôi.
Hơn nữa giả thuyết não bộ entropy này thậm chí còn có thể vô
tình giải thích ký ức trước ba tuổi của bạn. Rốt cuộc đã đi đâu?
chúng không biến mất, chỉ là cái tôi hiện tại của bạn không thể vượt
qua tường lửa để đọc chúng. ngay cả khi trong giấc mơ hoặc trong một sự
cố bất ngờ bạn đọc được chúng, thì do đặc tính entropy cao của chúng,
còn cái tôi entropy thấp này của bạn vốn không thể hiểu được, chỉ có thể cảm nhận
một tia sáng nguyên thủy hoặc một mùi hương nào đó. vậy nên nhìn theo cách này,
cái gọi là hiệu ứng tổng quan dưới giả thuyết não entropy không phải
là một loại siêu năng lực mang ngoài vũ trụ ban cho các phi hành gia,
mà là chân tướng vũ trụ vốn luôn ở trong não chúng ta,
chỉ là chiếc van giảm áp tiamen đã kìm hãm nó. khi phi hành gia bay vào không gian,
khi vi trọng lực gây ra sự chen ép vật lý lên thủy trước em,
khi rexin bị đá hỏng não, khiến đường dẫn tiamen của anh bị tổn thương về vật lý,
khi não của baxiel bình gần như ngừng hoạt động, tiamen hoàn toàn mất điện,
thì chân tướng đã bị che chắn hàng triệu năm mấy,
cuối cùng mới như một trận lũ trong khoảnh khắc tràn vào ý thức
con người. chỉ có điều rất khó để đọc hiểu chúng, mà điều này ngược lại chẳng
phải cũng cho thấy rằng mỗi người chúng ta thực ra đều đang đeo một chiếc kính
viền mang tên cái tôi sống trong thế giới ảo giác của bộ não này hay sao?
điều này quả thực đúng hết câu nói trong kinh phật,
phạm sở hữu tướng sai vì hư vọng, nhược kiến chưa tướng phi tướng,
tức kiến như lai. thế nhưng tiếp đó chúng ta không khỏi đặt ra một câu hỏi,
nếu van giảm áp của bộ não thực sự được mở hoàn toàn,
khi chân tướng vô hạn của vũ trụ tràn vào não,
chúng ta sẽ nhìn thấy chân tướng như lai như thế nào?
có lẽ điều này có liên quan đến cơ học lượng tử.
trở về thực tại, trở về với bức ảnh đáng sợ nhất lịch sử này,
người anh hùng cô độc trôi nổi giữa hư không này còn để lại một câu nói như thế này.
trong không trung khi tôi hạ tấm
che mặt màu vàng xuống tôi cảm thấy cái tôi ấy biến mất.
người phía sau tấm che mặt đó không nên là tôi. người đó đại diện cho tất cả
chúng ta. tôi luôn cảm thấy khi kết hợp câu nói này với hình ảnh trái đất trồi
lên và phi hành gia lơ lửng giữa không gian này, mô tả ấy thực sự rất chấn động.
có lẽ sau khi hiểu tất cả những lý thuyết ngày hôm nay, lần tới khi bạn lo âu,
đau khổ, cảm thấy nghẹt thở vì những câu chuyện vụn vặt trong cuộc sống.
hãy thử nhắm mắt lại,
hít thở sâu và tưởng tượng rằng bạn đang lơ lửng ở độ cao bốn trăm km.
nhìn xuống hành tinh xanh đang phát sáng dưới chân mình bạn sẽ phát
hiện rằng người vừa cãi nhau với bạn người đối thủ mà bạn ghét thực ra
cũng chỉ là một đoạn thông tin chảy qua trong cuộc đời bạn mà thôi.
Điều này làm tôi liên tưởng đến một loạt các nhà khoa học đứng danh thế giới.
Tôi đã hiểu hơn tại sao khi khám phá ra càng nhiều về vũ trụ, càng đi đến cuối đời,
thì họ đều chọn dừng chân ở đức tin và tôn giáo tín ngưỡng rồi.
Bởi vì ở đó sớm đã nói cho bạn biết
con người là sống trong mê chỉ là chúng ta không hiểu mà thôi.
Còn không biết bạn thì có suy nghĩ như thế nào? Bạn và các bạn cùng
chia sẻ suy nghĩ của mình ở phần bình luận phía bên dưới video nhé.
Và phần chia sẻ chúng ta ngày hôm nay xin tạm dừng tại đây thôi.
Nếu bạn thấy video này hữu ích mà vẫn chưa nhấn like,
trước khi rời đi hãy nhớ nhấn like nhé.
Và rất mong mọi người hãy chia sẻ video của chúng ta đến càng nhiều người hơn nữa,
bởi vì mỗi tương tác của bạn đều có thể giúp kênh Mr B của chúng ta kích hoạt
thật bản đề xuất của youtube và canchinoo để những nội dung mở mang tư duy,
khám phá một vũ trụ chân thực hơn, đem sự thực ảnh hưởng càng nhiều người hơn nữa.
Xin cảm ơn các bạn rất nhiều. Xin chào và hẹn gặp lại.