Suy cho cùng, nghịch cảnh không đến để đánh gục ta, mà để nhắc ta nhớ về nguồn nguyên lai vốn có của chính mình. Bạn hãy nhìn một đứa trẻ vừa cất tiếng khóc chào đời, trong tâm trí thuần khiết ấy hoàn toàn chưa hề có khái niệm về "Khổ". Đứa trẻ vấp ngã rồi lại bật cười, tò mò chạm vào vạn vật mà chẳng hề e sợ. Bản chất nguyên sơ của sinh mệnh vốn dĩ rất nhẹ nhàng và tự do. Cái "khổ" chỉ bắt đầu xuất hiện khi chúng ta bắt đầu bám chấp và vắt óc truy cầu. Vì vậy, từ hôm nay, mong bạn hãy chọn buông bỏ việc nhớ lại những vị đắng của ngày cũ, cũng ngừng vẽ nên những bóng ma lo âu về ngày mai. Đừng trao cho nỗi khổ và sự sợ hãi quyền làm chủ tâm trí mình. Cảm ơn bạn đã dành thời gian cùng Ngẫm Radio đi qua những khoảng lặng hôm nay. Chúc bạn luôn giữ vững một tâm thái bình an, kiên định và một trái tim nhẹ nhõm trước mọi biến động của cuộc đời. ----------------- Kênh Ngẫm Radio được lập ra với mong muốn chia sẻ với quý khán giả những kiến thức mới mẻ từ nhiều góc độ về những chủ đề như: dự ngôn, bí ẩn, lịch sử, tâm linh huyền bí cùng những câu chuyện nhân sinh cảm ngộ, khám phá thế giới. Hy vọng sẽ mang đến cho quý vị những phút giây thư giãn đầy ý nghĩa, đồng thời được truyền cảm hứng để luôn sống tích cực và thiện lương.
Hoan nghênh quý vị chia sẻ ý kiến, trải nghiệm và những khám phá của mình ở phần bình luận bên dưới để giúp chúng tôi cùng xây dựng cộng đồng yêu thích khám phá và chia sẻ kiến thức!
Để không bỏ lỡ những nội dung thú vị khác, hãy kết nối với chúng tôi qua: ✿ YouTube: / ngẫmradio ✿ Liên hệ và góp ý qua hòm thư: [email protected]
Chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã luôn đồng hành và yêu mến Ngẫm Radio! Chúc mọi điều bình an và tốt lành đến với mọi người! #NgamRadio#bian#tientri
Trí Tuệ Cổ Nhân Quả Chữ Khổ
Chào mừng các bạn đến với Ngẫm Radio, nơi chúng ta cùng láng động giữa nhịp sống hối hảt tìm về sự bình yên chân thật trong tâm hồn.
Bạn thân mến, trong cõi nhân sinh này, có ai chưa từng một lần nếm chải đáng cay? Có ai chưa từng một lần đối diện với nỗi sợ?
Nhưng đã bao giờ bạn lùi lại một bước và tự hỏi, vì sao cái khổ cứ bám theo ta mãi không buông?
Có một câu chuyện như thế này.
Vào một buổi chiều thu nhạt nắng, sương mù bắt đầu sang kín con đường dẫn vào ngôi chùa cổ trên đỉnh núi.
Một vị thiền sinh bước vào thiền thất với dáng vẻ mệt mỏi, áo tràng còn nguyên bụi đường.
Khoảnh khắc quỳ gối xuống nền gạch lạnh trước mặt vị thiền sư già, bào nén trựu trong manh như vỡ hòa.
Thưa Thầy, sao đời con lắm khổ đến thế? Đi đâu cũng gặp bất công, làm gì cũng chảy chóc.
Cái khổ như chiếc bóng đen cắm dễ vào đời con, không làm sao thoát nổi.
Vị thiền sư không đáp, ông lặng lẽ bước ra vườn, hái một chiếc lá khổ quà đắng ngắt đưa cho anh.
Con hãy nhai chiếc lá này đi.
Thiền sinh vừa cho vào miệng nhai đã vội nhân mặt nhẹ ra.
Đắng quá Thầy ơi, đắng tê cả lưỡi.
Lúc này, thiền sư mới múc một thịa đường khuấy vào chén nước mát đưa cho anh.
Vị ngọt rượu lan tỏa xua đi cảm giác đắng chát.
Bây giờ, ông mê ôn tồn bảo, vị đắng của chiếc lá là bản chất tự nhiên của nó,
cũng như cái khổ là một phần của quy luật nhân sinh.
Nhưng chiếc lá không tự chui vào miệng con, nó cũng chẳng bắt con phải nhai thật lâu,
là tự con cho vào miệng, giữ nó ở đó, rồi kêu lên rằng nó đắng.
Nỗi khổ ở đời cũng vậy.
Một lời xúc phạm, một sự cố trớ trêu, đó chỉ là vị đắng thoảng qua.
Nhưng con lại cất nó vào lòng, ngẫm đi ngẫm lại, nhai đi nhai lại từ năm này qua năm khác.
Đó không phải đời làm con khổ, mà là con đang tự bắt mình nhai lại vị đắng mãi không buông.
Thiền sinh bừng tỉnh.
Thưa thầy, vậy làm sao để tan đi vị đắng?
Thiền sư mỉm cười, chỉ vào chén nước.
Con không thể xóa bỏ sự tồn tại của chiếc lá đắng,
nhưng con có thể chọn không nhai nó nữa, hoặc chọn rót vào tâm mình sự bao dung và tĩnh lặng.
Khổ chỉ tồn tại khi tâm con còn bám chấp vào nó.
Bạn thân mến, nhìn lại mình giữa cuộc sống hôm nay,
có bao giờ bạn thấy mình cũng giống như vị thiền sinh ấy?
Đó là những đêm dài chăn chọc với vô số câu hỏi không hồi kết.
Tại sao lại là mình?
Sao họ lại đối xử với mình như thế?
Đáng lẽ lúc đó mình không nên tin?
Những suy nghĩ ấy cứ quẩn quanh ngày này qua tháng khác,
tự sới tung một nỗi đau vốn dĩ đã qua.
Để hiểu vì sao tâm trí ta lại dễ mặc kẹt như vậy,
hãy cùng nhìn lại cách người xưa cắt nghĩa về chữ khổ.
Trong Hán tự, chữ khổ gồm bộ thảo, chỉ có cây ở trên,
và chữ khổ, nghĩa là xưa cũ ở dưới.
Nguyên thủy, đây là từ dùng để chỉ một loại khổ đắng.
Ở tâm nghĩa đơn sơ nhất, khổ chạm vào ta qua vị giác.
Đó là vị đắng chát của thiền nhiên, đối lập với vị ngọt.
Người xưa dặn, khổ tận cam lai, đắng hết thì ngọt mới đến.
Giống như mầm cây phải trải qua cơn lạnh bút giá của mùa đông
mới đón được cái ấm áp của xuân về.
Nhưng khi bước vào đời sống con người, chữ khổ rộng hơn thế nhiều.
Người xưa nhìn nhận là người, vốn dĩ đã mang theo cái khổ.
Thế nhưng, cái khổ nhân sinh ấy, đa phần chúng ta hôm nay lại đang hiểu chưa thấu.
Ta thường nghĩ thân thể đau ốm là khổ, hàm muốn không được đáp ứng là khổ,
thiếu tiền, thiếu bạc là khổ.
Nhưng đó mới chỉ là cái khổ sinh tồn, thứ chạm ngay vào da thịt khiến ta đau đớn.
Ở trong cái khổ ấy, người ta chỉ quanh quẩn lo làm sao ăn đủ no, mặc đủ ấm,
bỗ xòa cho thân xác được dễ chịu.
Ta ngỡ thế là xong, mà quên mất rằng người giàu sang cũng có cái khổ rất riêng của họ.
Sâu xa hơn, giới tu liện và các tín ngưỡng cổ xưa cho rằng,
cái khổ lớn nhất của kiếp người là khi bước vào nhân gian,
ta bị rơi vào sự vô minh.
Mang cái vỏ thân xác này, ta chỉ nhìn đời bằng đôi mắt thịt hạn hẹp,
không thấy được chân tướng sự vật.
Ta vắt óc tìm mọi cách tổ vẽ, phụng sự cho cái vỏ ấy.
Để rồi cuối cùng nó vẫn phải vai tản theo thời gian, trả về cho đất bụi.
Mang thân người, ta cũng mất đi những năng lực nguyên sơ.
Muốn làm gì cũng phải nhọc nhằn dùng tay chân.
Đói, lạnh, nóng, bệnh đều khiến ta trao đảo.
Nhưng vì vừa sinh ra ta đã sống như thế rồi,
nên ta quên đi và chẳng còn nhận ra đó là một loại gùm cùm.
Từ sự thiếu thốn của thân xác,
con người tiếp tục rơi vào cái khổ của tinh thần,
cái khổ của sự truy cầu và bám chấp.
Nó khiến tâm trí ta chẳng mấy khi được nghỉ ngơi.
Kẻ nghèo khó dằn vặt vì giấc mơ giàu có,
kẻ hiếm muộn khổ vì cầu con,
kẻ có con lại khổ vì mong con thành sanh,
người cô đơn khao khát một tấm chân tình.
Còn người đang ở trong sự bình yên,
lại thấy nhảm chán, lao vào những cảm xúc mới
để rồi tự làm đau mình.
Chưa có thì muốn có,
có rồi lại muốn tốt hơn.
Chính sự không biết đủ ấy mới là thứ gặm nhấm tâm trí
khiến ta khốn khổ ngược xuôi.
Nhưng ở một góc nhìn khác,
cổ nhân không coi cái khổ là một sự trừng phạt
để thụ động gánh chịu.
Họ coi khổ nạm như một người thầy,
một trường tì khắt khe để thanh lọc bản ngã.
Nhưng chớ trêu thay,
gian nàn tìm đến thực ra là để ta hoàn trả những nỡ nẩn cũ,
đồng thời làm lộ ra những chỗ chấp chước trong tâm
mà tự tay buông bỏ.
Thông qua những va đập và đau đơn ấy,
nghiệp mới được tiêu giải,
sinh mệnh mới có cơ hội trở nên thuần khiết
và tốt đẹp hơn.
Mục đích tối thượng của khổ nạn không phải là đầy đoạn,
mà là để con người tỉnh thức,
nhận ra sự huyễn hoạc của những truy cầu
mà tự tay buông bỏ.
Đó mới chính là nội hàm thật sự
của cái khổ trốn nhân gian.
Sau đây, xin mời bạn cùng lắng nghe câu chuyện.
Ngày nọ, trước một cửa quán ăn sầm uất,
có lau ăn mày dài yếu, lưng tòng
bốc ra mùi hồi thối nông nặc.
Lão gầy gò, bụng đói dã rời,
run dẩy chia tôi bàn tay nứt nẻ xin miếng ăn.
Đúng lúc tiếp khách quý,
chủ tiệm vừa chồng thầy lão liền câu mặt,
bịt mũi, vung gậy su đuổi không tiếc lời.
Giữa lúc ấy, một vị Pháp Sư đi ngàm qua.
Vị Pháp Sư mang khí độ siêu phàm,
tướng mạo uy nghì thoát tục.
Nhìn thấy ngài, chủ tiệm lập tức đổi thái độ,
cuối đầu cung kính, vội xài gia nhân
dọn đồ chày thượng hạng
và dâng tặng tiền tài, áo mới.
Pháp Sư đón nhận tấm lòng,
khẽ mịp cười cảm tạ, rồi không ngần ngại
bước thẳng về phía người ăn mày
đang có quốc góc đường.
Nhìn vị Pháp Sư từ từ tiến lại,
với mắt mờ đục của lau ăn mày
tự nhiên sáng rõ lạ thường.
Bằng sự tử bi vô lượng,
ngài nhẹ nhàng sửa sàng lại mái tóc dối bời,
khoác lên thân thể cây cuộc của lão
trước áo ấm, rồi bảo lão
hãy ăn bát cơm chay
khi còn nóng hổi.
Giữa trốn nhân giản lạnh lẽo,
lần đầu tiên lão ăn mày nhận được sự tôn trọng
và ấm áp đến thế.
Nước mắt lão cứ thế chảo ra,
lăn dài trên gò má nhằn nheo.
Khi Pháp Sư sửa soạn rời đi,
lão ăn mày đột nhiên quỷ hụt xuống,
hai tay ung chẳng lấy chân ngài,
nghẹn ngào.
Pháp Sư ơi, xin cho lão giả này
được đi theo ngài,
có được không?
Ta là người xuất gia, không tài vật,
chẳng tiền bạc.
Dù tâm mang tử bi, nhưng quả thật
chẳng biết lấy gì để cung dưỡng lão.
Lão ăn mày khóc nức lên.
Lão không cầu được cung dưỡng,
lão chỉ mong trước khi
nhắm mắt xuôi tay,
được nghe một lần vật Pháp,
để tâm hồn được giải thoát
mà thôi.
Nhìn thấy cơ duyên đã chín mùi,
vị Pháp Sư nhẹ nhàng nỡ lão dậy,
ôn tồn. Hãy đi theo ta,
từ sớm ta đã biết hết
sự tình của ông rồi.
Thế là ngài dìu dắt thần xác bệnh tật
tàn về ấy về chùa,
mỗi ngày tụng niệm vật Pháp cho lão nghe.
Cả một đời người ăn mày
là một chuỗi dải cay đắng.
Lão sống cảnh mạn trời chiếu đất,
chịu đựng cái xét thấu xương
hay cái nóng cháy ra,
chưa từng một lần biết đến cảm giác ăn no.
Lão chịu khổ từng ngày,
từng giờ,
nhưng khổ thực sự là gì,
lão lại chẳng thể gọi tên.
Có những lúc út hận vì số phận bất công,
lão chạy ra giữa trời phân út
chỉ tay lên cao mà gào lớn.
Ông trời ơi!
Ông không có mắt sao?
Sao lại đối xử với tôi tản nhận thế này?
Nhớ lại những lần ấy,
giữa lúc trời quang
bỗng dền lên những tiếng xấm xét dữ dội
khiến lão khiếp sợ không dám kêu thang nữa.
Lão đâu biết rằng,
những khi lão bị người đời xua đuổi,
bị chó hoàng đuổi cắn,
trốn vào góc tối thì trời lại đổ mưa rào.
Trận mưa ấy chính là nước mắt
của chốn thần Phật
rủ lòng thương xót cho nỗi khổ
của kiếp người.
Từ ngày về chùa nghe kinh,
gương mặt lão ăn mày sáng sủa lên trông thấy.
Một hôm, lão tò mò hỏi Pháp Sư
Thưa Đại Sư,
khổ rốt cuộc của hình dáng ra sao?
Pháp Sư không đáp,
ngài ngửa bàn tay ra.
Trong nháy bắt, một bó hoa đủ màu sắc
rực rỡ từ không trung, bỗng dường biến hiện,
nhẹ nhàng phiêu động trên tay ngài,
tỏa ra hảo quàng đẹp đẽ vô ngần.
Lão ăn mày kinh hạng,
tự nghĩ
Hóa ra cái khổ lại trông đẹp đẽ đến thế này sao?
Pháp Sư ngắt một cánh hoa
đưa cho lão.
Ông hãy nếm thử xem nó có vị gì.
Theo thói quen của một kẻ chịu đói khác lâu năm,
lão ăn mày nhận lấy rồi
nút chửng ngay vào bộng.
Nhưng ngay khoảnh khắc cánh hoa chạm vào tâm trí,
một vị đắng kinh hoàng.
Cái đắng của vô tận đau khổ bùng phát.
Vị đắng dữ dội xé sách
từng thớ thịt khiến lão đau đớn.
Đau đớn lăn lộn trên sàn nhà.
Ông chớ động đẩy.
Pháp Sư cất tiếng.
Lão ăn mày gắn răng nằm yên.
Vị đắng ấy bắt đầu len lõi,
thấm qua từng đường kinh lạc,
xông vào xương cốt, thịt ra,
rồi từ từ tàn biến.
Khi cơn đau qua đi,
lão ngơ ngác nhận ra.
Thì ra cả một đời chịu khổ của mình cộng lại
cũng chẳng bằng vị đắng
của một cánh hoa nhỏ bé này.
Pháp Sư bảo lão đứng dậy,
khi rượu thay.
Lúc này lão mới bàng hoàng phát hiện
tấm lưng tòng từ khi nào đã thẳng tắp
hay chân hoại tử vì băng giá đã lành lặn.
Hàng trăm bệnh tật gạm nhấm
thần xác bấy lâu nay
bỗng chốc biến mất hoàn toàn.
Thần thể lão nhẹ nhõm,
khoan khoái từ bên trong ra bên ngoài.
Lão cụp xuống,
giập đầu lia liệng,
nước mặt được mũi lưng tròng vì hạnh phúc.
Bây giờ, vị Pháp Sư nhẹ nhàng
phẩy tay, tức thì toàn bộ
gian phòng thiền từ sàn nhà,
bách tường cho đến mái nhà,
đông loạt nở rộ môn vàn đoá hoa lộng lẫy,
lung linh ánh quang,
và tỏa ra thứ hương thơm khi rượu
thấm đượm lòng người.
Pháp Sư nhìn lão ăn mây,
ôn tồn giang dài.
Những bông hoa này gọi là
thánh khổ linh hoa. Đây là thứ
mà ta đã đời đời kiếp kiếp
đi khắp mọi xó xình của thế gian,
chịu đủ mọi đắng cay nhân gian.
Nhờ khổ tu dưới sự
bảo hộ của chính Pháp mà luyện ra,
người đời nếu chỉ đơn thuần
chịu khổ thụ động, thì không bao giờ
có được. Lão ăn mây
chắp tay hỏi,
Đại Sư chịu trăm đắng ngàn khổ,
dùng cạn tông nguyết vun trổng lên rừng hoa này,
Rốt cuộc là vì điều gì?
Vì chúng sinh đấy.
Pháp Sư nghiêm tràng đáp,
sau này ông cũng sẽ chịu khổ tu luyện,
cũng sẽ tự mình khai mở ra
thánh khổ linh hoa để
tế thế độ nhân.
Lão ăn mây ngầm ngừng,
Đứng lão từ khi sinh ra đã chịu khổ,
sao chẳng hiểu ra điều gì?
Lại còn đố kị, căm phẫn cuộc đời.
Pháp Sư mỉm cười nhìn lão,
bởi vì trước đây ông chưa gặp được
chính Pháp. Việc ông vừa sinh ra
đã bị bỏ rơi, đi xi năn,
bị chửi mắng đánh đập.
Đó không phải là nghiệp lực đơn thuần,
mà là con đường chịu khổ do chính
ông đã phát nguyện lựa chọn trước Phật như lai
trước khi chuyển sinh.
Ngài nhìn rực hoa rực rỡ xung quanh
nói tiếp, thánh khổ linh hoa
mang theo cái khổ của bạn vật
chúng sinh. Nhờ có cái khổ ấy
được gánh vác, chúng sinh mới có
cơ duyên bước vào tu luyện chính Pháp,
đạt đến sự tự tại
và quàng mình vĩnh hằng.
Trong quá trình ông chịu khổ tu luyện
không chỉ hình thành nền linh hoa,
mà chính sự chịu đựng của ông
còn mở ra cơ duyên lành
để chúng sinh có thể bước vào
thế giới thiên quốc.
Nghe đến đó, mọi mê mờ trong tâm trí
lão ăn mày vỡ tan.
Lão hiểu ra nguồn cội của mọi
đáng cay mình đã trải qua,
mỉm cười đón nhận sứ mệnh
và chính thức bước vào con đường tu hành
cùng vị Pháp Sư.
Bạn thân mến, đúng như
mánh tử tâm viết, khi trời
sắp giao sứ mệnh lớn cho người nào
trước hết phải làm cho tâm trí họ chịu
thử thách đáng cay, gân cốt chịu
nhọc nhằn, thân thể chịu đói khát,
làm cho mọi việc họ làm đều
bị cản trở, xáo trộn.
Chính là để làm lày động khi tâm
ghen rũa tính nhẫn lại và
bồi đắp thêm những năng lực mà
trước này họ chưa từng có.
Duy cho cùng, nghịch cảnh không đến
để nánh gục ta, mà để nhắc ta
nhớ về nguồn nguyên lai, vốn
có của chính mình.
Bạn hãy nhìn một đứa trẻ vừa cất tiếng
khóc chào đời, trong tâm trí thuần
khiết ấy, hoàn toàn chưa hề có
khái niệm về khổ. Đứa trẻ vấp
ngã rồi lại bật cười, tò mò
chạm vào vạn vật mà chẳng hề
e sợ. Bản chất nguyên sơ của
sinh mệnh bốn dĩ rất nhẹ nhàng
và tự do. Cái khổ
chỉ bắt đầu xuất hiện khi chúng ta
bắt đầu bám chấp và bắt óc
truy cầu. Vì vậy từ hôm nay
mong bạn hãy chọn buông bỏ
việc nhớ lại những bị đắng của
ngày cũ cũng ngừng vẽ nên những bóng
mà lo âu về ngày mai. Đừng
trao cho nỗi khổ và sự sợ hãi
nguyên làm chủ tâm trí mình.
Cảm ơn bạn đã dành
thời gian cùng ngắm radio đi
qua những khoảng lặng hôm nay. Chúc
bạn luôn giữ vững một tâm thái bình an
kiên định và một trái tim
nhẹ nhõm trước mọi biến động của
cuộc đời. Xin chào và hẹn
gặp lại bạn trong số phát sóng
tiếp theo.