Nhắc đến triều đại nhà Đường huy hoàng, nếu "Thi Tiên" Lý Bạch là một đám mây trắng tự do bay lượn giữa vòm trời lãng mạn, thì "Thi Thánh" Đỗ Phủ lại là một tảng đá trầm mặc, mang trên mình ngập tràn những vết xước của thời cuộc đau thương.
Sinh ra trong nhung lụa, mang hoài bão "trí quân trạch dân" (giúp vua cứu đời) ngút ngàn, nhưng cả cuộc đời Đỗ Phủ lại là một chuỗi dài những bi kịch thăng trầm: thi trượt, con chết đói, chạy loạn An Sử, bị giáng chức, và cuối cùng là trút hơi thở lạnh lẽo trên một chiếc thuyền rách nát giữa dòng Tương Giang vô định. Ông không có được vinh hoa phú quý, nhưng lại để lại cho nhân loại hơn 1400 bài thơ được mệnh danh là "Thi Sử" – cuốn biên niên sử bằng máu và nước mắt chân thực nhất về một thời đại khói lửa.
Cùng Cổ Phong古風 quay ngược dòng thời gian, lần theo những bước chân phiêu bạt để thấu hiểu trọn vẹn cuộc đời bi tráng của một con người đã vắt kiệt sinh mệnh mình vì nhân thế.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This video chronicles the life of Du Fu, the \"Poet Sage\" of the Tang Dynasty. It traces his journey from a gifted youth to a suffering official and wanderer. His poetry evolved into a realistic mirror of his era, capturing the devastation of the An Lushan Rebellion and the plight of the common people, ultimately cementing his legacy as a compassionate voice for the oppressed.
Chào mừng quý vị và các bạn đã quay trở lại với kênh Ngẫm Sử Đông Tây.
Quý vị thân mến, khi nhắc đến triều đại nhà đường,
chúng ta không thể không nhắc đến một thời kỳ hoàng kim của nền thi ca,
nơi những vị sao sáng nhất trên bầu trời văn học phương Đông cùng nhau hội tụ.
Trong muôn vàng vị tinh tú ấy, có hai cái tên đã vĩnh viễn tạc vào lịch sử,
định hình nên diện mạo của cả một nền văn hóa rộng lớn.
Một người là Thi Tiên Lý Bạch,
với những vần thơ phóng khoáng lãng mạn, bay bổng tận chính tận mây.
Còn người kia trầm mặt hơn, sâu sắc hơn, mang trong mình ngập tràn nổi niệm của nhân thế.
Đó chính là Thi Thánh Đỗ Phủ.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau quay ngược dòng thời gian, lần theo những bước chân thăng trầm
để tóm tắt lại toàn bộ cuộc đời của một con người đã dùng máu và nước mắt của chính mình
để viết nên bức tranh chân thực nhất về một thời đại khói lửa đầu thường.
Vào năm 712, trừ đại nhà Đường đang bước vào những năm tháng huy hoàng nhất
dưới sự trị vị của đường huyền Tông.
Tại huyện Cũng, Lạc Dương, một cậu bé đã cất tiếng khóc chào đời trong gia tộc họ Đỗ.
Cậu bé ấy tên là Đỗ Phủ, tự tử Mỹ.
Gia tộc họ Đỗ vốn không phải là một gia đình tầm thường.
Ông nội của cậu, Đỗ Thẩm Ngôn, là một nhà thơ vô cùng nổi tiếng triệu sơ đường.
Mang trong mình dòng máu trầm anh thế phiệt, từ nhỏ Đỗ Phủ đã bộc lộ tư chất thông minh xuất chúng.
Cậu bé say mê đọc sách, sớm tiếp xúc với kho tàng văn học đồ sộ của gia đình.
Nằm lên 7 tuổi, khi những đứa trẻ khác còn đang say xưa với những trò chơi nghịch ngợm ngoài ngõ,
Đỗ Phủ đã có thể tự mình ngâm ngợi và sáng tác những vần thơ đầu tiên.
Có lần, cậu bé đã tự hào ngẫn cao đầu, thốt lên trước mặt những bậc trưởng bối trong dòng họ.
Ta mở miệng là thốt cha lời ca ngợi chim phượng hoàng, thơ của ta rồi sẽ sánh ngang với những bậc vĩ nhân thi cổ.
Lời nói ngông cuồn nhưng đầy khí phách ấy của một đứa trẻ đã khiến cả gia tộc kinh ngạc
và đặt trọn niềm kỳ vọng vào tương lai sáng lạng của người con dòng họ Đỗ.
Thời niên thiếu của Đỗ Phủ trôi qua trong sự êm đềm và sung túc.
Khi bước sang tuổi 19, mang thơ bầu máu nóng của tuổi trẻ và khát khao thu trọn cả thiên hạ vào tầm mắt,
Đỗ Phủ quyết định sách nãi bái biệt gia đình, bắt đầu những quyến viễn dù mãi miết.
Chàng thanh niên họ Đỗ đã xuôi dòng dương tử, đi qua những vùng đất ngô, việt, trụ phú,
chim ngưỡng vẻ đẹp sơn thủy hữu tình mà trước đó chàng chỉ được biết qua những tràng sách cổ.
Những năm tháng gian hồ ấy đã hung đúc nên một tâm hồn tự do, phóng khoáng,
đồng thời cũng giúp chàng tận mắt chứng kiến cuộc sống sinh hoạt đa dạng của người dân muôn nơi.
Đến năm khai nguyên thứ 23, tức năm 735, Đỗ Phủ mang theo hoài bão lớn lao
và sự tự tin múc ngàn trở về Lạc Dương để tham gia kỳ thi hương.
Trong thâm tâm chàng thanh niên lúc bấy giờ, vị trí trên bảng vàng đã nằm chắc trong lòng bàn tay.
Thế nhưng trớ trêu thay, cuộc đời không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, Đỗ Phủ thi trượt.
Thay vì sập đổ hay ủ rũ rã rời, chàng thanh niên bấy giờ chỉ bật cười sản khoái,
đứng trước dòng sông Lạc Thủy mà tự nhủ với chính bản thân mình.
Chỉ là một chút không may, bảng vàng lần này chưa có tên ta,
nhưng non sông rộng lớn ngoài kia vẫn đang vẫy gọi, công danh rồi sẽ đến vào một ngày không xa.
Không màn đến ánh mắt ái ngại của người đời, Đỗ Phủ lại một lần nữa khăn gói lên đường,
tiếp tục cuộc hành trình rong rũi tới vùng đất Tề, Triệu, tức khu vực Sơn Đông và Hạ Bắc ngày nay.
Tại đây, chàng đã trải qua những ngày tháng tự do, tự tại nhất trong cuộc đời.
Chàng kết giao với vô số bạn hữu, cùng nhau uống rượu ngao du,
săn bắn trên những cánh đồng cỏ rộng lớn, đêm về lại cùng nhau ngâm thơ đàn hát.
Trong một lần đứng dưới chân núi Thái Sơn hùng vĩ,
nhìn ngắm ngọn núi sừng sửng đâm toạt mây trời, nhiệt huyết trào dân,
Đỗ Phủ đã viết nên những vần thơ bất khủ trong bài Vọng Nhạc,
kết lại bằng một câu nói đầy chí khí.
Sẽ có ngày ta bước lên đỉnh cao nhất kia,
thu vào tầm mắt muôn trùng núi non, chỉ là những gò đống nhỏ bé.
Đó là khát vọng vườn tới đỉnh cao, không chỉ của cảnh giới thiên nhiên,
mà còn là đỉnh cao của sự nghiệp, của mong muốn tề gia trị quốc.
Thế nhưng thời gian không chờ đợi một ai,
những chuyến đi dài ngày rồi cũng đến lúc phải dừng lại.
Khí phách của tuổi thanh xuân dần nhường chỗ cho những trăng trở
về trách nhiệm của một người Nam Nhi, Đại Trượng Phu.
Khi mái đầu đã qua đi cái tuổi bồng bột,
Đỗ Phủ nhận ra rằng nếu cứ mãi ròng chơi thế này,
lý tưởng phò vua giúp đời mà ông ấp ủ từ thuở ấu thơ sẽ vĩnh viễn chỉ là mây khói.
Mang theo hoài bão chưa từng vụt tắt, ông quyết định thu xếp hành trang,
thẳng tiến về kinh đô Trường An Phùng Hòa, nơi tập trung quyền lực tối cao
và cũng là nơi ông tin rằng mình sẽ tìm được minh chúa để thi thố tài năng.
Nhưng Đỗ Phủ đâu thể ngờ, bước chân vào cổng thành Trường An bấy giờ
lại chính là bước chân mở đầu cho chuỗi ngày bi kịch bế tắc nhất,
cũng là bước ngoặt đưa ông từ một gã thư sinh ngạo nghế
trở thành một chứng nhân lịch sử trong một thời đại loạn lạc,
với những cuộc gặp gỡ định mệnh đang chờ đợi ông ngay phía trước.
Nhưng trước khi nếm trải trọn vẹn vị đắng cay của chốn quan trường,
Bánh xe định mệnh đã đưa Đỗ Phủ đến với một trong những cuộc gặp gỡ
vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Trung Hoa.
Đó là vào năm Thiên Bảo thứ ba, tức năm 744 tại Lạc Dương.
Lúc này, Đỗ Phủ 32 tuổi đang hừng hực ngọn lửa tuổi trẻ.
Tại đây, ông đã gặp Lý Bạch, người lúc bấy giờ đã là một thi tiên lừng danh thiên hạ,
vừa bị đường huyền tông bán vàng cho tự quan rời khỏi kinh thành.
Ngay từ lần đầu hội ngộ, hai con người với hai cá tính trái ngược
nhưng chung một bầu nhiệt huyết đã lập tức kết làm tri kỷ.
Đỗ Phủ bước tới, chắp tay cung kính nhưng ánh mắt đầy sự say mê.
Lý Huynh, thơ của Huynh tài hòa xuất chúng, tựa như trích tiên gián trần,
tài hạ từ lâu đã vô cùng bái phục.
Lý Bạch đang nâng vò rượu, miếm cười sảng khoái đáp lời.
Đỗ đệ quá lợi rồi, rượu ngon trên đời này không thể thiếu vắng tri kỷ.
Chúng ta hôm nay có duyên kỳ ngộ, nhất định không say không về.
Cùng với nhà thơ Cao Thích, ba người họ đã cùng nhau rong rũi qua vùng Lương, Tống.
Ngày thì săn bắn cửi ngựa, đêm về lại uống rượu ngâm thơ, đàm đạo việt nước.
Khoảng thời gian ngắn ngũi nhưng rực rỡ đó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng Đỗ Phủ,
khiến ông sau này cả đời vẫn không ngừng viết những vần thơ thương nhớ về người anh em Lý Bạch.
Mùa thu năm sau, hai người chia tay nhau ở Sơn Đông.
Từ đây, Đỗ Phủ chính thức đặt chân đến Trường An,
âm mộng lớn thi đổ làm quang để trí quân Nhiêu Thuấn Thượng tái xử phong tục thuần,
tức là giúp vua trở thành minh chúa như Nhiêu, Thuấn, làm cho phong tục xã hội trở nên thuần hậu.
Năm 747, Đường Huyền Tông ban chiếu chỉ
với tất cả những người có tài năng văn chương nghệ thuật trong thiên hạ đến Trường An ứng thí.
Đỗ Phủ vô cùng mừng rỡ, lập tức ghi danh.
Thế nhưng vị tể tướng đương quyền lúc bấy giờ là Lý Lâm Phủ,
một kẻ giang thần nổi tiếng với giả tâm, miệng nam mô, bụng một bộ dao găm.
Lại lo sợ những người tài giỏi từ dân gian sẽ dân thư vạch trần tội ác và sự tham nhũng của mình.
Lý Lâm Phủ đã lũng đoạn kỳ thi, đánh trượt toàn bộ sĩ tử.
Sau đó, hắn trơ trẻn bước vào triều, quỳ rạp trước mặt Đường Huyền Tông và giống giạc tâu.
Khải tấu Bệ Hạ, thiên hạ thái bình, muôn dân nò ấm.
Kỳ thi lần này không có ai đổ đạt.
Điều đó chứng tỏ mọi nhân tài kiệt xuất đều đã được triều đình thu dụng hết cả rồi.
Trong dân gian không còn kẻ sĩ nào bị bỏ sót.
Xin được cuối đầu chúc mừng Bệ Hạ.
Nghe tin mình đánh trượt cùng toàn bộ sĩ tử,
Đỗ Phủ đứng sửng giữa Trường An,
cây đắng nhận ra con đường khoa cử Đường Hoàng đã hoàn toàn bị bịt kính.
Không còn cách nào khác,
ông buộc phải tìm kiếm cơ hội bằng cách kết giao,
dân thơ lên cho những vương tồn công tử,
những kẻ quyền quý trong kinh thành mong được họ tiến cử.
Suốt gần 10 năm trời,
cuộc sống của Đỗ Phủ ở Trường An là chuối ngày túi nhục và bần hàng.
Ông phải đi bán thuốc nam ngoài chợ để đáp đổi qua ngày.
Sống trong những quán trọ tồi tàn,
sáng gõ cửa nhà giàu,
tối theo xe ngựa người ta,
chịu đủ mọi sự lạnh nhạt, cười chê.
Đến năm 751,
nhân dịp triều đình tổ chức ba buổi lễ lớn,
Đỗ Phủ dồn hết tâm huyết viết bài Đại Lễ Phú dân lên Hoàng đế.
Đường Huyền Tông đọc xong,
tỏ ra vô cùng kinh ngạc trước tài văn trường xuất chúng,
liên lệnh cho ông đợi ở tập hiền viện để khảo hạch thêm.
Đỗ Phủ vui mừng khôn siết,
cứ ngỡ cơ hội đổi đời đã tới.
Nào ngờ, quyền lực triều đình lúc này lại rơi vào tay tể tướng Dương Quốc Trung,
anh họ của Dương Quý Phi.
Kết quả,
chứa chỉ bổ nhiệm cứ bị ngâm mãi.
Đỗ Phủ lại tiếp tục chuỗi ngày mòn mỏi, chờ đợi trong tuyệt vọng,
nhìn tuổi xuân dần qua đi.
Mãi đến năm 755,
khi đã 44 tuổi,
Đỗ Phủ mới được triều đình ban cho một chức quang vô cùng nhỏ bé,
hữu vệ xuất phủ lục sự tham quân,
coi việc giữ binh khí và chìa khóa của kho vệ.
Tuy chức vụ thấp kém,
nhưng ít ra cũng có một khoảng bổng lọc nhỏ để nuôi gia đình.
Tháng 11 năm đó,
ông xin phép rời Kinh Thành,
lặng lội về Phụng Tiên,
nay là Bồ Thành, Thiểm Tây,
để thăm vợ con đang phải lánh nạn đói ở đó.
Trên đường đi,
Đỗ Phủ phải đi qua núi Ly Sơn,
nơi có cung điện Hoa Thanh Địa Sa Hoa.
Bên trong cung điện,
đường Huyền Tông cùng Dương Quý Phi
và các quan lại đang tắm suối nước nóng,
tổ chức yến tiệc linh đình,
đàn xáo vang trời.
Nhưng ngay bên ngoài cổng cung điện,
gió rét căm căm,
sát người chết cống nằm la liệt bên vệ đường.
Cảnh tượng tương phản tàn khốc ấy,
khiến Đỗ Phủ đau đớn thốt lên câu thơ cào xé tâm can.
Cửa son rượu thịt ôi,
ngoài đường xương chết chét.
Nhưng bi kịch lớn nhất vẫn đang đợi ông ở phía trước.
Ngay khi vừa bước chân vào cổng nhà ở Phụng Tiên,
chưa kịp nở nụ cười đoàn tụ,
Đỗ Phủ đã nghe thấy tiếng khóc xé lòng của vợ cất lên từ trong buồn.
Ông lao vào,
thấy vợ đang ôm một thân xác nhỏ bé lằn ngắt.
Người vợ ngước lên,
đôi mắt đỏ ngầu đầy tuyệt vọng, nứt nở.
Chàng ơi, muộn rồi.
Con trai út của chúng ta,
nó chết đói mất rồi.
Đỗ Phủ như bị xét đánh ngang tài,
nhả quỵ xuống sàn nhà.
Ông ôm lấy thi thể đứa con trai bé bỏng,
nước mắt trào ra không thể kìm nén.
Chàng thanh niên ngạo nghệ năm xưa,
nay chỉ còn là một người cha bất lực.
Ông tự trách bản thân,
mình mang danh là quan chức triệu đình,
mà còn không cứu nổi con trai khỏi nạn chết đói.
Thì thử hỏi những người dân đen thấp cổ bé họng ngoài kia,
sẽ còn phải chịu đựng thảm cảnh khốc liệt đến mức nào?
Và dường như,
cái chết của đứa con trai nhỏ bé của Đỗ Phủ,
chính là tiếng chuồng báo hiệu cho một thảm kịch kinh hoàng
sắp dán xuống toàn bộ triều đại nhà đường.
Chỉ đúng vài ngày sau khi Đỗ Phủ về đến Phụng Tiên,
vào tháng 11 năm 755,
tại Phạm Dương,
viên tiết độ sứ An Lộc Sơn
đã viện cớ thảo phạt Dương Quốc Trung,
kéo 15 vạn quân thiết kỷ ồ ạc tràn xuống phía Nam,
chính thức phát động cuộc phản loạn chấn động lịch sử,
An Sử Chi Loạn.
Trống trận rền vang,
gót ngựa quân thủ xéo nát sự bình yên của Trung Nguyên,
quân chủ định thất bại thám hại,
kinh đô Trường An vĩ đại rơi vào cảnh nghìn cân treo sợi tóc.
Cuộc đời Đỗ Phủ,
cùng với vận mệnh của cá Vương Triều,
bắt đầu bước vào những năm tháng đẫm máu và bi thương nhất.
Bị giam lỏng giữa chốn kinh kỳ Trường An,
Đỗ Phủ như một bóng ma vật vờ giữa những tàn tích của một thời vàng son,
này đã hóa cho bụi.
Quân phản loạn An Lọc Sơn cướp bóc, giết chóc không gớm tay,
biến một Trường An phồn hoa bậc nhất thiên hạ
thành một bãi tha ma khổng lồ.
May mắn thay, vì chức quan của Đỗ Phủ quá nhỏ bé,
phiến quân không thèm bận tâm giam giữ ông vần một tối.
Nhờ đó, ông vẫn có thể bước đi trên những con phố điêu tàng.
Mùa xuân năm 757 lại đến,
cỏ cây vẫn đâm trồi nảy lọc,
nhưng cảnh vật đã nhớm màu tan thương.
Đứng trước đống đổ nát của cung điện Hoàng gia,
nước mắt tuôn rơi,
ông xót xa ngâm lên những vần thơ cào xé tâm can.
Nước mất, núi sông còn,
thành xuân cỏ cây rậm,
cảm thời hoa rõ lệ,
hận biệt chim kinh tâm.
Giữa biển máu của thời cuộc,
nỗi nhớ gia đình ở Phu Châu lại trào dân mảnh liệt.
Trong những đêm trăng sáng lạnh lẽo,
ông ngước nhìn lên bầu trời,
thì thầm với người vợ hiền phương xa.
Nương tử ơi,
đêm nay ở Phu Châu,
chắc nàng cũng đang nắm vần trăng này mà rơi lệ.
Không biết đến thổ nào,
vợ chồng ta mới lại được cùng nhau tựa rẹm chung bóng,
lau khô những giọt lệ đoàn viên.
Nhưng đổ phủ không cho phép mình gục ngã trong bi lụy,
khí tiết của một bậc trung thần thôi thúc ông phải hành động.
Tháng tư năm 757,
nhưng lúc quân gác lơ lạ,
ông liều mạng trốn khỏi Trường An.
Chuyến đi ấy ngàn cân treo sợi tóc,
ông phải lẫn trốn trong những cánh rừng rậm rạp,
băng qua những ngọn núi hiểm trở,
ngày đêm đối mặt với thú dữ và sự truy lùng gác gao của loạn quân.
Đôi giày vải rắc bươm,
bàn chân rớm máu,
quần áo tơi tả như một gã ăn mây.
Nhưng ánh mắt ông vẫn hướng về phía phượng tường,
nơi Hoàng đế Đường Thúc Tông đang đóng quân.
Khi bóng dáng tiều tuỵ của Đỗ Phủ xuất hiện trước doanh trại,
khoác trên mình bộ y phục rách nát đến mức lộ cả hai cùi chỏ,
chiếc mũ quang bằng vải thô đã sờn rách,
cả bá quang vàng vỏ đều không khỏi sửng sờ, rơi lệ.
Đường Thúc Tông đích thân bước xuống bậc thềm,
đỡ lấy vị bá quang trung thành mà phán rằng,
Khanh một lòng trung hiếu,
vượt muôn trùng hiểm nguy,
băng qua vòng vây của giặc để về với trắm.
Trắm phòng Khanh làm tả thập di,
giữ chức can gián bên cạnh ngai vàng.
Giấc mộng phò tá Minh Chúa tưởng như đã thành hiện thực,
nhưng bạn tính ngay thẳng bọc trực của một thập di
là chính là nhát dao cắt đứt con đường quang lộ của ông.
Cuối năm đó,
Tể tướng Phòng Quảng,
một người bạn tâm giao và cũng là vị tướng tài ba của Triệu Đình,
vì sử dụng chiến thuật sai lầm nên đã chuốt lấy thảm bại trước quân An Lọc Sơn.
Đường Thúc Tông nổi trận lôi đình,
gián tội Phòng Quảng và bệ phái.
Cả Triệu Đình trung sợ,
không một ai dám hò hè nửa lời.
Riêng Đỗ Phủ,
thân mang trọng trách can gián hoàng đế,
đã dũng cảm bước ra khỏi hàng, lớn tiếng tàu.
Bế Hạ,
Phòng Quảng tuy có tội binh bại,
nhưng ông ấy là một tể tướng trung thần,
tận tâm vì xã Tắc.
Lúc này Triệu Đình đang cần người tai,
xin Bế Hạ rộng lượng khoan hồng,
đừng vì một lần thất bại mà phế bỏ rường cột của quốc gia.
Lời can gián thẳng tháng ấy,
như đổ thêm dầu vào lửa.
Đường Túc Tông giận dữ đập bàn thét lớn.
Nhặn người to gan,
dám cãi lên trẩm để bên vực cái tội đô sao?
Từ nay về sau,
cấm người không được sen vào chuyện Triều Chính nữa.
Kết quả của lòng trung thành ấy,
là một tờ chiếu chỉ,
dán chức dán xuống đầu ông vào năm 758.
Đỗ Phủ bị đuổi khỏi Triệu Đình,
đẩy đi làm ti công tham quân ở Hoa Châu.
Một chức quan nhỏ,
lo việc tế tự và coi ngục ở vùng xa xôi.
Rời khỏi kinh thành với trái tim ngụy lạnh,
ông nhận ra rằng,
Triều Đình này không còn chỗ cho những người nói thật.
Trên đường đến Hoa Châu,
bức tranh bi thảm của nhân gian,
lại một lần nữa phơi bậy trước mắt ông.
Quân Triều Đình thất trận liên miên,
mắc đậu điên cuộn bắt lính.
Một đêm nọ,
khi tá túc tại thôn Thạch Hào,
Đỗ Phủ tận mắt chứng kiến nha dịch nửa đêm đập cửa âm âm,
để bắt người ra trận.
Ông lão chủ nhà hoãn loạn phải trèo tường bỏ trốn,
để lại bà lão già nùa méo máu ra mở cửa.
Lão ẩu quỳ rạp xuống đất,
khóc lóc vang sinh viên quang lại.
Sinh quang lớn thương tình,
ba đứa con trai của lão đều đã bị bắt đến thành nghiệp để đánh giặc.
Hai đứa mới gửi thư báo tử,
chết thảm ở chiến trường.
Đứa còn lại thì sống nay chết mai.
Trong nhà nay chẳng còn đinh tráng nào,
chỉ có đứa con dâu đang gào khóc,
cùng đứa cháu nội đang khát sữa.
Lão thân già này chẳng làm được việc gì,
chỉ sinh theo quang lớn ra tiền tuyến,
nấu cơm phục vụ quân lính.
Hòa chăng gỡ gạt được chút mạng sống cho con dâu và cháu nội ta.
Tiếng khóc xé lòng ấy đã ám ảnh đổ phủ,
khiến ông phận út,
viết nên chìm thơ tam lại,
tam biệt,
lưu danh muôn thuở.
Trở thành bảng cáo trạng đành thép nhất,
tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh
và sự thối nát của thời cuộc.
Đến mùa thu năm 759,
vùng Quang Trung xảy ra nạn đói khủng khiếp,
dân chúng chết đói đầy đường,
lầm thàn khốn khổ.
Đổ phủ,
khi này thân làm quang,
nhưng gia đình cũng chẳng đủ cơm ăn.
Chán nạn đến tột độ,
trước một phương trường mụt nát,
ông gỡ bỏ chiếc mũ quang trên đầu,
vứt bỏ mọi danh lợi cơm cõi,
dứt khoát quay lưng với chốn quang trường tầm tối.
Thở dài nhìn về phương xa,
ông nói với già quyến,
triều đình vô đạo,
ta thà là một kẻ lan bạc cõi nhân gian,
còn hơn làm quang mà phải nhắm mắt làm ngơ trước tiếng khóc của dân lành.
Chúng ta đi thôi.
Cả gia đình gồng gánh nhau,
rủ bỏ mọi thứ ở Hoa Châu,
bắt đầu cuộc hành trình chạy nạn về vùng đất Tây Thục xa xôi.
Nhưng đường vào đất Thục khó khăn hiểm trở tột cùng,
liệu những tháng ngày lưu lạc phía trước
có để cho vị thi thánh của chúng ta một phút giây bình yên nào hay không?
Đường vào xứ Thục từ xưa đến nay
vốn nổi danh là hiểm trở tột cùng,
vách đá dựng đứng cheo leo như muốn xé toạt bầu trời.
Nhưng đối với Đỗ Phụ lúc này,
những con đường ngoằng ngoèo vắt vẽo trên sườn núi ấy
lại là con đường duy nhất
dẫn gia đình ông thoát khỏi cái địa ngục trần gian
đầy rảy khói lửa chiến tranh.
Cuối năm 759,
sau những tháng ngày băng rừng lội suối,
nếm đủ mùi sương gió ấm đau,
đại gia đình họ đổ với những thân hình tiều tụy,
quần áo rắc bơm,
cuối cùng cũng đặt chân đến Thành Đô,
thú phủ của vùng ít châu trụ phú.
Khác xa với cảnh hoang tàn ở Quang Trung,
Thành Đô hiện ra trước mắt Đỗ Phụ
với một vẻ thanh bình, êm ả đến ngỡ ngàng.
Không có tiếng binh đao,
không có cảnh bắt lính,
chỉ có những dòng suối trong vắt,
uống lượng quanh những rạng trúc xanh rì.
Đứng trước cảnh sát ấy,
Đỗ Phụ trút một tiếng thở phào nhẹ nhõm,
tự nhũ lòng mình.
Cuối cùng thì vợ con ta
cũng tìm được một chốn dung thân
để kéo dài hơi tàn trong cái cõi nhân thế điên đảo này.
Thế nhưng bình yên không đồng nghĩa với no ấm,
đặt chân đến đất khách quê người với hai bàn tay trắng,
tiền bạc đã cạn kỳ từ lâu,
Đỗ Phụ buộc phải cắn răng rủ bỏ chút sỉ diện cuối cùng của một cựu quang triệu đình
để đi gõ cửa nhờ vã những người thân quang cũ đang làm quang ở vùng đất này.
Nhờ sự thương tình và gâm góp giúp đỡ của bạn Hữu,
mùa xuân năm 760,
Đỗ Phụ tìm được một mảnh đất nhỏ nằm nếp mình bên dòng cáng hoa êm đềm ở phía tây thành Đô.
Tại đây, ông bắt tay vào dựng một ngôi nhà tranh vách đất nhỏ bé.
Ông đi khắp nơi xin từng cây đào, khóm trúc, từng gốc tùng về trồng quanh nhà.
Gặp gỡ những người hàng xóm nông phu hiền lành,
ông chắp tay tư cười sởi lỡi.
Lão Phù này phiêu bạc tới đây, cất típ liều cỏ bên suối,
xin các vị nương tay chỉ giáo,
cho Lão Phù xin vài gốc mai về ươm trước ngõ,
để ngày xuân có chút hương sắc cho lũ trẻ vui vầy.
Ngôi nhà tranh giảng dị ấy sau này đã đi vào lịch sử văn học phương Đông
với cái tên lường lẫy,
Hoáng Hoa Thảo Đường.
Bốn năm sống tại Thảo Đường,
có lẽ là khoảng thời gian êm đềm và thanh bình nhất
trong nửa cuối cuộc đời đầy giông bão của vị thi thánh.
Trúc bỏ áo mũ trốn quan trường,
đổ phủ hòa minh và cuộc sống của một lão nông thực thụ,
ông cuốt đất, trồng rau, rào dậu,
vui thú với thiên nhiên cỏ cây.
Những vần thơ của ông trong giai đoạn này
cũng bớt đi sự ước hận, bi thương
mà chuyển sang những ram màu tươi sáng ấm áp hơn.
Đó là niềm vui sướng tột độ
khi thấy cơn mưa xuân tưới mát ruộng đồng,
là hình ảnh những cánh én trao lượng làm tổ dí mái hiên,
là tiếng chim hót liếu lò bên bờ suối.
Tuy nhiên,
các nghèo vẫn cứ bám riết lấy gia đình ông như một bóng ma không thể xua đuổi.
Những khoảng trợ cấp của bạn bè lúc có lúc không,
nhiều bữa cơm trong nhà chỉ có bát cháo loãng.
Mùa thu năm 761,
một trận cuồn phong ập đến thành đô.
Gió thù rít rào điên cuồn,
cuốn phăng ba lớp rạng tranh trên mái nhà của đổ phủ bay lã tả khắp nơi.
Đám trẻ con nghèo trong xóm Nam thấy vậy,
liền ùa ra hôi của,
ôm những bó tranh chạy tót vào rạng trúc.
Đổ phủ già yếu,
chống gậy đuổi theo không kịp,
đành đứng nhìn mà út ức thang trời.
Lũ trẻ xóm Nam kia thật khinh ta già yếu.
Chúng dám cướp giật ngay trước mặt ta,
ôm tranh chạy vào rừng trúc gào không thấu.
Ta đành quay về,
chống gậy thang thở một mình.
Đêm hôm đó,
mưa lạnh trúc xuống xối xã,
mái nhà rách nát không che nổi cơn mưa.
Vợ con ông ôm nhau rung rảy trong đống chăn đệm lạnh buốt như sắc.
Nước mưa dột ướt sủng ca chỗ nằm.
Nằm trong đêm tối tâm lạnh lẽo,
giữa tiếng mưa rơi não nề,
tâm hồn vĩ đại của Đổ phủ không chỉ sót thương cho cảnh ngộ bi đác của gia đình mình,
mà ông chợt nghĩ đến hàng ngàn,
hàng vạn những người trí thức nghèo khổ,
những người dân đen đang phải oằng mình chịu cảnh màng trời chiếu đất ngoài kia.
Từ tận đáy lòng,
ông đã thốt lên những lời huyết lệ,
trở thành những câu thơ chấn động thi đàn muôn thuở.
Ước gì có ngôi nhà rộng ngàn giang,
che chở cho tất cả những kẻ hàng sĩ nghèo trong thiên hạ
đều được hân hoang.
Dù cho có gió mưa vùi dập,
ngôi nhà ấy vẫn vững chải như bàn thạch.
Ôi, bao giờ ta mới được thấy ngôi nhà lộng lẫy ấy hiện ra trước mắt.
Dù cho típ liều cỏ của ta có bị phá nát,
dù ta có phải chịu chết cống đi chăng nữa,
ta cũng cam lòng.
Sự vĩ đại của thi thánh chính là ở chỗ đó.
Giữa cần bỉ cực của bản thân,
ông vẫn vương tầm mắt bao trầm lấy cả nhân loại lầm thang.
Cuộc sống khủng khó ấy kéo dài cho đến khi một người bạn tâm giao cũ của ông là Nghiêm Vũ,
được triều đình phái đến làm thứ sử thành đô,
kiềm tiết đổ xứ kiếm nam.
Nhận được tin tức,
Đỗ Phủ mừng rỡ ra mặt.
Nghiêm Vũ không chỉ thường xuyên tru cấp tiền bạc lương thực cho gia đình Đỗ Phủ,
mà còn nhiều lần thân chinh cửi ngựa đến tận thảo đường thăm hỏi.
Thấy bạn mình sống cảnh nghèo hèn,
Nghiêm Vũ xót xa,
nắm lấy tay Đỗ Phủ mà nói.
Tử Mỹ Huynh,
Huynh tài cao học rộng,
chí khí ngút trời,
sao có thể giam mình mãi trong típ liều cỏ rách nát này.
Đệ này mang trọng trách ở đất thục,
Huynh hãy đến làm mưu sĩ cho đệ.
Chúng ta cùng nhau bàn bạc việc quân cơ,
giữ yên một phương bờ cõi.
Nể tình bạn cũ tri kỷ
và cũng để có bỏng lọc nuôi sống vợ con,
Đỗ Phủ đành nhận lời
được tiến cử làm kiểm hiệu công bộ viên ngoại lan,
một chiếc danh mà đời sau vẫn quen gọi ông là Đỗ Công Bộ.
Sáng sáng,
ông lại mặc áo mũ chính tề đến nhà môn làm việc,
chiều tối lại trở về típ liều cỏ.
Có sự che chở của Nghiêm Vũ,
cuộc sống của Đỗ Phủ cuối cùng cũng có được vài năm no ấm.
Nhưng hỡi ôi,
số phận dường như chưa bao giờ muốn buôn tha cho con người tài hoa ấy.
Năm 765,
Nghiêm Vũ đột ngột qua đời vì bạo bệnh.
Hùng tình truyền đến như một tiếng xét đánh ngang tài Đỗ Phủ.
Chỗ dựa duy nhất,
người bạn tri kỷ hiếm hoi nơi đất khách đã vĩnh viễn ra đi.
Không còn Nghiêm Vũ che chở,
chủng quan trường ở thành đô cũng chẳng còn lý do gì để ông lưu luyến.
Các thế lực quân phiệt địa phương lại bắt đầu rục trịch nổi loạn.
Thành đô đứng trước nguy cơ rơi vào vòng bình đào.
Một buổi chiều ảm đạm,
Đỗ Phủ đứng lặng lẽ trước thảo đường,
nhìn từng khống trúc, gốc mai do chính tay mình vung trọng nay đã xanh tốt.
Ông quay sang nói với người vợ hiền Tảo Tần.
Nương tử à,
thành đô tuy đẹp,
nhưng nay bạn hiền đã mất,
khói lửa lại sắp bùm lên.
Nơi đây không còn là chốn an thân của gia đình ta nữa.
Hãy thù xếp hành trang,
chúng ta lại phải xuống thuyền.
Trôi dạc về phương Đông thôi.
Năm ấy,
Đỗ Phủ đã bước sang tuổi 54,
mái tóc đã bạc trắng,
thân thể mắc đủ thứ bệnh tật
từ phong thấp, hen xuyển
đến suy giảm thính lực.
Gia đình nhỏ bé ấy lại một lần nữa
dắt díu nhau bước lên một chiếc thuyền lá mỏng manh
xui dòng trường gian cuồn cuồn sóng nước,
bỏ lại phía sau ngôi nhà tranh
chứa đựng biết bao kỷ niệm vui buồn.
Chiếc thuyền nhỏ trong tranh rời bến,
mang theo một linh hồn cô độc,
bắt đầu chặn đường lưu lạc cuối cùng của cuộc đời,
trôi dạc về vùng Tam Hiệp hiểm trở.
Liệu ở phía cuối con sông dài đằng đẳng kia
có còn một bến bờ bình yên nào đón đời Đỗ Phủ
trong những năm tháng rớt lại của cõi nhân sinh?
Hay đó sẽ lại là một hành trình đầy bi phẫn
dẫn lối ông bước vào cõi bất tử?
Chiếc thuyền lá mỏng manh rẽ sóng nước trường gian đục nầu,
mang theo gia đình Đỗ Phủ rời khỏi thành đô,
cũng là rời xa những năm tháng êm đềm ngắn mũi hiếm hoi
trong cõi nhân sinh đầy dông bão của ông.
Chặn đường xuôi dòng trường gian tiến về phía đông không hề dễ dàng.
Khí hậu khắc nhiệt, đường sông hiểm trở
với những vách đá dựng đứng của vùng Tam Hiệp
khiến sức khỏe của vị thi thánh ngày càng suy kiệt.
Cuối năm 765,
bệnh phong thấp và hen xuyển bùng phát dữ dội,
buộc Đỗ Phủ phải cho thuyền cập bến tạc vào Vân An để dưỡng bệnh.
Mùa xuân năm 766,
ông chuyển đến Quỳ Châu,
nơi thuộc huyện Phụng Tiết, thành phố Trùng Khánh
và ngủ tại đây gần 3 năm.
Quỳ Châu nằm lọt thởm giữa những dãy núi cao vút,
không khí ẩm thấp và u buồn.
Tại đây, Đỗ Phủ đã bước vào tuổi 55.
Thân thể ông giờ đây tiều tuỵ đến thảm thương,
tai đã điếc, răng rụng gần hết,
cánh tay phải tê liệt vì phong thấp,
lại thêm căng bệnh tiêu khát,
tức bệnh tiểu đường thời bấy giờ,
hành hạ ngày đêm.
Nhưng kỳ lạ thay,
chính trong cái nôi của sự bệnh tật,
đói nghèo và cô độc tột cùng ấy,
ngọn lửa thi ca trong ông lại bùng cháy rực rỡ và mãnh liệt nhất.
Chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm ở Quỳ Châu,
Đỗ Phủ đã sáng tác hơn 400 bài thơ,
chiếm gần 1 phần 3 tổng số di cảo thơ ca của ông để lại cho hậu thế.
Và một ngày tiết trời thu ảm đạm,
gió thổi hiêu hắc mang theo cái lặng thấu xương.
Đỗ Phủ vịnh tay và vách đá,
khó nhọc lê từng bước chân già yếu,
leo lên một đại cao để ngóng về phương Bắc.
Đứng trên đỉnh núi,
nhìn lá rụng xào sạc lấp kính mặt đất,
nhìn dòng trường gian cuồn cuộn sóng nước không ngừng trôi về phương xa.
Nỗi nhớ quê hương lạc dương,
nhớ kinh kỳ trường an cuộn trào trong huyết quảng.
Quê hương giờ đây đang chìm trong khói lửa loạn ly,
đường về mù mịt xa xăm.
Nước mắt lương trồng,
ông cất tiếng thở thang cùng trời đất.
Trường an ơi, trường an!
Ta thân già mang vạn thứ bệnh,
lưu lạc quê người,
nay một mình bước lên đại cao ngóng về quê cũ.
Cớ sao mây trắng vẫn cứ che khuất đường về.
Giang sơn này đến bao giờ mới hết cảnh can qua?
Từ chính khoảnh khắc bi tráng ấy,
chìm thơ thu hứng và kiệt tác đăng cao đã ra đời,
được người đời sau tôm xưng là những tác phẩm tuyệt sướng của thi ca nghìn thu,
đúc kết trọn vẹn nỗi đau của một vị nhân bất lực trước thời cuộc.
Đến năm 768,
nỗi nhớ quê nhà thôi thúc đến mức không thể kiềm chế nổi.
Đỗ Phủ quyết định rời Quỳ Châu,
tiếp tục xuôi dọng Trường Giang,
dự định qua Kinh Châu rồi ngược lên phương Bắc trở về quê cũ lạc dương.
Nhưng chiến tranh ở miền Bắc vẫn chưa chấm dứt dứt điểm,
đường về bị ngẽn.
Ông đành phải để chiếc thuyền nhỏ của mình trôi dạc vô định
trên dòng Tương Giang và Hồ Động Đình ở vùng Hồ Nam.
Hai năm cuối đời,
cả gia đình ông sống lây lắc hoàn toàn trên một chiếc thuyền nát,
lên đình nay bến này, mai bến khác,
lây lắc như ngọn đèn trước gió.
Mùa đông năm đại lực thứ 5,
tức năm 770,
Đỗ Phủ xuôi thuyền từ Đàm Châu xuống lũi Dương.
Bất ngờ một trận lũ lớn ập đến,
nước sông dân cao cuồn cuộn,
bão tuyết mịt mù,
chiếc thuyền nhỏ bé của Đỗ Phủ bị kẹt cứng giữa dòng nước bạc.
Gia đình ông bị cô lập hoàn toàn,
không thể lên bờ tìm kiếm thức ăn.
Một ngày, hai ngày,
rồi năm ngày trôi qua,
trong khoang thuyền lặn ngắt tục độ,
Đỗ Phủ nằm thôi thớp,
bụng đói meo,
chút hơi tàn dường như sắp cản.
Nắm lấy bàn tay lạnh giá của người vợ hiền,
đã theo mình chịu bao tuổi nhục.
Ông theo thao bằng giọng đứt quảng.
Nương tử,
đời này ta nỡ nàng quá nhiều.
Chỉ lớn chưa thành,
gian sơn chưa yên,
mà thân ta lại sắp phải bỏ mạng làm mồi cho cá tôm nơi bến nước lạnh lẽo này sao?
May mắn thầy,
huyện lệnh lũi Dương lúc bấy giờ là người mang họ nhiếp.
Nghe tin có vị đại thi hạo Đỗ Phủ đang bị kẹt giữa dòng nước lũ,
liền lập tức phái người treo thuyền nhỏ, rẻ sống,
mang theo thức ăn ra cứu viện.
Khi Sai Nha bước lên thuyền,
mang theo một mâm thịt bò nướng thơm lừng
và một hũ rượu trắng đưa đến trước mặt.
Đỗ Phủ mừng rỡ đến rời nước mắt.
Ông chống tay,
cố gắng ngồi dậy,
chắp tay cuối đầu nói với viện Sai Nha.
Đa tạ huyện lệnh đại nhân đã xót thương cho thân già này.
Cứ ngỡ đêm nay,
gia đình ta đã phải hóa thành những hồn ma chết đói nơi đáy sông tỉnh mịch.
Ân tình này, lão phu biết lấy gì báo đáp.
Thế nhưng,
bi kịch của số phận lại gián đòn chí mạng
vào đúng lúc con người ta tưởng như đã thoát khỏi cửa tử.
Sau năm ngày nhịn đói rét mước,
dạ dày đã teo tớp và suy kiệt.
Đỗ Phủ lại ăn một lượng lớn thịt bò nướng béo ngậy
và uống rượu trắng quá no.
Hệ tiêu hóa của một ông lão 59 tuổi,
bệnh tật đầy mình,
không thể chịu đựng nổi sự nạp thực phẩm đột ngột và quá mức ấy.
Ngay đêm hôm đó,
bụng ông quặng thắt dữ dội,
bệnh tình bộc phát không thể vãng hồi.
Giữa mênh mông sóng nước tương gian,
dưới bầu trời mùa đông lạnh lẽo gào thét tiếng gió bất,
trái tim của vị vĩ nhân đã ngừng đập.
Đỗ Phủ trúc hơi thở cuối cùng trên chiếc thuyền rách nát,
mang theo hoài bão cứu nước thương dân xuống dưới suối vàng.
Năm ấy là mùa đông năm 770,
cuộc đời của Đỗ Phủ đã khép lại trong sự nghèo đói,
cơ hàng và vô danh giữa dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử thời bấy giờ.
Khi ông nằm xuống,
thiên hạ vẫn đang chìm trong bình đao loạn lạc,
không một vương hầu khanh tướng nào hay biết,
chẳng có một lễ tàn trang trọng nào được cử hành.
Thế nhưng, thời gian chính là vị giám khảo công bằng nhất.
Những vần thơ được viết bằng máu,
bằng nước mắt,
bằng cả tấm lòng trung quân ái quốc
và sự sót thương vô hạn đối với sinh mệnh con người của ông
đã vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian.
Hơn 1.400 bài thơ di cảo của ông đã trở thành thi sử,
cuốn biên niên sử bằng thơ chân thực nhất,
bì tráng nhất về triều đại nhà đường.
Để rồi, ngàn năm sau,
hậu thế vẫn kính cẩn nhiên mình,
tung sưng ông là thi thánh,
vị thánh của nền thi ca phương Đông.
Một con người vĩ đại đã vắt kiệt sinh mệnh mình
để khóc cho nỗi đau của toàn nhân loại.
Quý vị và các bạn thân mến,
hành trình theo dấu chân lưu lạc của vị thi thánh Đỗ Phủ đến đây là kết thúc.
Một cuộc đời đầy rễ những bi kịch thăng trầm,
đói khát và ly tán,
nhưng vĩnh viễn người sáng một nhân cách cao cả,
một trái tim yêu nước thương dân đến quảng thác.
Cảm ơn quý vị đã dành thời gian đồng hành cùng kênh Ngẩm Sử Đông Tây
để nhìn lại một trong những trang sử thi ca bì tráng nhất của nhân loại.
Nếu quý vị yêu thích video này
và cảm động trước cuộc đời của Đỗ Phủ,
xin đừng quên nhấn nút đăng ký kênh,
để lại một lượt thích
và chia sẻ những cảm nghĩ của quý vị ở phần bình luận bên dưới nha.
Sự ủng hộ của quý vị chính là động lực to lớn nhất
để chúng tôi tiếp tục cho ra đời những video chất lượng hơn nữa.
Xin chào tạm biệt
và hẹn gặp lại quý vị trong những câu chuyện lịch sử hấp dẫn tiếp theo.