Khổng Tử không phải là một vị vua sở hữu đội quân hùng mạnh, cũng chẳng phải tướng quân bách chiến bách thắng. Ông chỉ là một người thầy giáo với khát vọng vãn hồi trật tự cho một thời đại Xuân Thu binh đao loạn lạc.
Trong video ngày hôm nay, Cổ Phong 古風 sẽ đưa các bạn đi qua những cột mốc chân thực và trực diện nhất về cuộc đời đầy thăng trầm của Vạn Thế Sư Biểu. Từ thuở hàn vi làm công việc thấp kém, hành trình 14 năm bôn ba lưu bạt khắp các nước chư hầu, cho đến những bi kịch cuối đời và di sản vĩ đại để lại cho hậu thế. Video đi thẳng vào các diễn biến lịch sử cốt lõi, loại bỏ các yếu tố rườm rà để giúp bạn có cái nhìn trọn vẹn và thực tế nhất về bậc vĩ nhân này. #lichsu#lichsutrungquoc#lichsutrunghoa
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video kể về cuộc đời Khổng Tử, từ tuổi thơ nghèo khó đến khi trở thành nhà giáo dục vĩ đại. Dù trải qua nhiều thăng trầm, thất bại trong chính trường và 14 năm lưu lạc gian khổ, ông vẫn kiên định với đạo lý nhân nghĩa, để lại di sản tư tưởng sâu sắc, trở thành \"Vạn thế sư biểu\" cho hậu thế.
Chào mừng các bạn đã quay trở lại với kênh Ngẫm Sử Đông Tây.
Trong suốt kiều dài lịch sử phương Đông,
có một con người mà tư tưởng của ông đã vượt qua mọi giới hạn về không gian và thời gian,
bám rễ sâu vào nền văn hóa, chính trị và xã hội của hàng loạt quốc gia suốt hơn 2.000 năm qua.
Ông không phải là một vị vua sở hữu những đội quân hùng mạnh,
cũng không phải là một vị tướng bách chiến bách thắng.
Ông chỉ là một người thầy, một học giả mang trong mình khát vọng vãn hồi trật tự trong một thời đại loạn lạc.
Ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau nhìn lại toàn bộ cuộc đời đầy thăng trầm của vạn thế sư biểu Khổng Tử.
Vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, nhà Chu suy yếu,
các chư hậu nổi lên tranh giành quyền lực, chiến tranh nổ ra triển miên, đó là thời kỳ Xuân Thu.
Tại nước Lỗ, một tiểu quốc nằm ở vùng Sơn Đông ngày nay,
có một phỏ quang tên là Thúc Lương Ngật.
Ở tuổi 67, vì lo sợ dòng họ không có người nối giỏi,
ông đã cưới một cô gái trẻ tên là Nhang Trưng Tại.
Nằm 551 trước công nguyên, Nhang Trưng Tại hạ sinh một bé trai.
Tương truyền, đứa trẻ sinh ra có phần đỉnh đầu lõm xuống,
xung quanh nhô cao lên trông giống như một ngọn đồi nhỏ.
Vì thế, cậu bé được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni.
Mà sau này hậu thế đều tôn kính gọi là Khổng Tử.
Cuộc sống êm đềm chẳng kéo dài được bao lâu.
Khi Khổng Tử lên ba tuổi, cha ông qua đời.
Mẹ ông, vì không chịu nổi sự hắc hủy của người vợ cá,
đã ôm cậu con trai nhỏ rời đi, dọn đến sống tại Khúc Phụ.
Hai mẹ con nương tựa vào nhau trong cảnh nghèo khó, thiếu thốn trăm bề.
Khổng Tử lớn lên không có những đặc quyền của tầng lớp quý tộc,
ông phải làm đủ mọi việc để mưu sinh,
từ trăng cừu, giữ ngựa, cho đến quản lý kho lường bãi cỏ.
Dù lam lũ, Khổng Tử vẫn bộc lộ một sự ham học kỳ lạ.
Khác với những đứa trẻ công trang lứa, thường chê trò đánh trần giả,
cậu bé Khổng Tử lại thích bày biện các đồ tế lễ,
bắt chước những nghi thức hành lễ trong cung đình.
Năm 15 tuổi, ông quyết tâm dùng toàn bộ tâm trí cho việc học.
Ông không có một người thầy cố định nào mà học từ tất cả mọi người xung quanh,
từ sách vỡ cổ xưa của nhà Chu, cho đến những người dân thường thạo việc.
Chính Khổng Tử sau này đã nhìn lại và nói với các học trò của mình rằng,
ta tuổi nhỏ nghèo hẹn nên phải làm nhiều việc thấp kém để mưu sinh,
nhưng nhờ vậy mà ta thấu hiểu được nỗi khổ của dân chúng và học hỏi được tự thực tế.
Biển cổ lớn lại ập đến khi Khổng Tử bước sang tuổi 24.
Mẹ ông qua đời do làm việc vất vả lâu ngày.
Giữa nỗi đau tột cùng, chàng thanh niên trẻ phải xoay sở mượn tiền để lo tang lễ,
kiên quyết tìm bằng được mộ phần của cha để chôn cất mẹ bên cạnh.
Mãng tang mẹ, Khổng Tử bắt đầu tập trung xây dựng sự nghiệp.
Ban đầu, ông làm những chức quan nhỏ như quản lý kho tàng,
còi sóc xuất vật cho gia tộc họ quý, một quyền thần ở nước lỗ.
Nhờ sự cẩn thận và công tâm, trâu bò nhà họ quý ngày một béo tốt,
sổ sách kho tàng luôn rõ ràng.
Nhưng trí tuệ và sự uyên bác của ông không thể bị bó hẹp trong những công việc đó mãi.
Ở tuổi 30, ông mở lớp dạy học, quy định phá vỡ truyền thống giáo dục thời bấy giờ
vốn chỉ dành cho từng lớp quý tộc.
Bất kể là con cháu danh gia vọng tộc hay kẻ bần hàng,
chỉ cần mang theo một bó thịt khô làm học phí, Khổng Tử đều dốc lòng truyền dạy.
Có người từng thắc mắc hỏi ông
Thầy dạy học như vậy, lấy tiêu chuẩn gì để chọn trò?
Khổng Tử điềm nhiên đáp
Ta dạy học không phân biệt loại người, chỉ cần kẻ đó thực tâm muốn học, ta sẽ không bao giờ từ chối.
Lớp học của ông ngày một đông, từ vài người ban đầu, dần dần lên đến hàng chục, rồi hàng trăm người.
Khổng Tử truyền dạy cho họ lục nghệ, lễ, nhạc, xã, ngữ, thư, số.
Cùng với những đạo lý về nhân nghĩa, luân thường.
Nhờ phương pháp giáo dục độc đáo, học trò của ông rất nhiều người sau này trở thành những nhân tài kiệt xuất.
Thành danh của Khổng Tử tại nước lỗ lên cao chưa từng thấy.
Các chư hầu và quan lại bắt đầu tìm đến ông để hỏi về đạo trị quốc.
Nhìn thấy học trò trưởng thành, giành tiếng vang xa, Khổng Tử bắt đầu nhen nhóm một khát vọng lớn lao hơn.
Đềm lý tưởng nhân chính của mình áp dụng vào thực tiễn, khôi phục lại trật tự ký cương đã bị trà đạp suốt bao năm qua.
Nhưng, con đường bước vào trốn quan trường nước lỗ đâu có dễ dàng,
và những mưu mô chính trị khốc liệt đang chực chờ nuốt chững lý tưởng của người thầy giáo nghèo ở phía trước.
Cơ hội để thực hiện lý tưởng đó cuối cùng cũng đến khi Khổng Tử bước sang tuổi 51.
Lỗ định công, vị vua đang tại vị của nước lỗ, quyết định bổ nhiệm ông làm quan tệ ấp Trung Đô, tương đương với chức thị trưởng ngày nay.
Ở cương vị mới, Khổng Tử lập tức ban hành hàng loạt quy định mới, chấn chỉnh lại trật tự xã hội.
Ông đề cao đạo đức, quyết định rõ ràng về việc nuôi dưỡng người già, an tán người chết, và phân chia công việc rành mạch cho nam nữ.
Chỉ võn vẹn trong vòng một năm, ấp Trung Đô từ một nơi lộn xộn đã trở thành một hình mẫu cai trị lý tưởng.
Bách tỉnh khắp nơi nượm nượp kéo đến học hỏi, chư hậu các nước lân cận cũng phải trầm trồ tháng phục.
Nhận thấy tài năng kiệt xuất của Khổng Tử, Lỗ định công liên tiếp thăng chức cho ông,
từ chức tư không cai quản công trình kéo đến chức đại tư khấu nắm giữ toàn bộ hệ thống tư pháp và hình phạt của nước lỗ.
Lúc bấy giờ, nước tệ láng giềng vốn là một cường quốc cường thịnh, thấy nước lỗ ngày một mạnh lên dưới bàn tay của Khổng Tử thì xinh lòng lo sợ.
Nằm năm trầm trước công nguyên, vua tệ chủ động hẹn Lỗ định công đến vùng giáp cốc để hội thề, kết giao hòa hảo.
Nhưng thực chất là dăng sẵn một cái bẫy nhằm uy hiếp vua lỗ.
Khổng Tử nhận nhiệm vụ đi theo phò tá vua.
Khi buổi lễ đang diễn ra, tệ cảnh công bất ngờ vẫy tay.
Một toán quần mang di người lai cầm vũ khí song vào, múa may hò hét định bắt cóc Lỗ định công.
Không hề nào núng, Khổng Tử bước nhanh lên thềm, lớn tiếng giỏng giạc nói thẳng vào mặt vua tệ.
Hai nước chúng ta đang hành lễ giao hảo, cớ sao ngài lại dùng quân mang di, mang bình khí đến múa may uy hiếp.
Việc này hoàn toàn trái với đạo lý của bậc quân tử.
Chư hầu kết minh, không được dùng vũ lực dọa nạt.
Xin tệ hầu hãy lập tức cho lui bọn chúng.
Tệ cảnh công đuối lý, đành vội vàng xua tay ra lệnh cho toán lính chúc lui.
Không dừng lại ở đó, khi nước tệ yêu cầu nước lỗ phải đem 300 cỗ xe binh đi theo hỗ trợ tệ đánh trận.
Khổng Tử liền đáp trả quyết liệt.
Vậy ngài cũng hãy trả lại cho nước lỗ chúng tôi vùng đất Vấn Dương đã chiếm đoạt năm xưa.
Lúc đó chúng tôi mới có thể tuân lệnh.
Cuộc hội thề giáp cốc kết thúc với thắng lợi ngoại giao vang dội của nước lỗ.
Nước tệ không những không uy hiếp được vũ lỗ, mà còn phải ngậm ngùi trả lại những vùng đất đã chiếm đoạt trước đó.
Trở về sau sự kiện này, uy tín của Khổng Tử trong triệu định nước lỗ đạt đến đỉnh cao.
Ông bắt đầu bắt tay vào việc giải quyết khối ung nhọt lớn nhất của quốc gia,
quyền lực thao túng của Tam Hoàng.
Tam Hoàng là ba gia tộc quyền thần, họ quý, họ thúc và họ mạnh.
Suốt nhiều thế hệ, ba gia tộc này xây dựng thành trì kiên cố ở đất phòng của mình,
tích trữ binh khí, lấn át cả quyền lực của quốc quân.
Khổng Tử tàu với lỗ định công.
Theo luật lệ Tổ Tông, bệ tôi không được cất giữ giáp binh,
ấp thái ồn không được xây tường thành cao quá 300 trượng.
Xin Chúa Công hạ lệnh triệt hạ tường thành của ba nhà, quý, thúc, mạnh
để thu về quyền lực chính đáng cho triệu định.
Được sự hậu thuẫn của nhà vua, Khổng Tử bắt tay vào chiến dịch đọa Tam Đô,
phá hủy ba tòa thành.
Ban đầu mọi việc diễn ra khá xuân xẻ.
Tường thành của nhà họ thúc và họ quý lần lượt bị phá dở.
Nhưng khi đội quân của triệu định tiến đến thành thành của nhà họ mạnh,
thế trận lâm vào bế tắc.
Dòng họ mạnh chống trả quyết liệt.
Chiến dịch phá thành thất bại.
Quyền lực của Tam Hoàng vẫn không thể bị triệt tiêu hoàn toàn.
Kéo theo đó là sự rạng nứt trong mối quan hệ giữa Khổng Tử
và những kẻ đang nắm thực quyền ở nước lỗ.
Lúc này, ở bên kia biên giới,
nước tề thấy Khổng Tử vẫn còn tại vị,
thì ngày đêm ăn ngủ không yên.
Thấy dùng vũ lực không xong,
mưu thần nước tề hiến kế dùng Mỹ nhân kế
để lung lạc ý chí của vũ lỗ.
Họ cất công tuyển chọn 80 tuyệt sắc gia nhân,
mua hát say đắm lòng người,
cùng 120 con ngựa béo tốt, tràng sức lộng lẫy,
đem dân lên cho lỗ định công
và quyền thần quý hoàng tử.
Kế sách này quả nhiên độc điểm.
Lỗ định công và quý hoàng tử
ngày đêm chìm đắm trong tử sát,
bỏ bê việc triều chính.
Suốt 3 ngày liền,
nhà vua không màn đến việc thiết triều.
Những lời can ngăn của Khổng Tử
đều bị gạt ngoài tai.
Sự thất vọng bắt đầu gặm nhấm tâm can
vị đại tư khấu.
Đỉnh điểm của sự đoạn tuyệt
diễn ra vào ngày tế lễ Nam Giao.
Theo quy định thời bấy giờ,
sau khi tế lễ hoàn tất,
nhà vua phải chia thực tế,
đem bang cho các quan đại thần
để tỏ lòng ân sủng.
Khổng Tử ngồi ở nhà chờ đợi
từ sáng đến tối mệt,
nhưng phần thực tế ấy không bao giờ được đưa tới.
Nhà vua đã quên ông.
Hay nói đúng hơn,
họ không còn cần đến đạo lý và trực tự
mà ông đang cố gắng vùng đắp nữa.
Khổng Tử cởi bỏ quang phục,
nhìn học trò của mình
khẽ thở dài, thốt lên.
Đạo không thể thi hành
ở nước lỗ nữa rồi.
Đã đến lúc chúng ta phải ra đi thôi.
Năm 497 trước công nguyên,
ở tuổi 55,
Khổng Tử bỏ lại sau lưng quyền lực
và vinh hoa, lên cổ xe ngựa
rời khỏi quê hương.
Đó là khởi đầu cho một hành trình
đẳng đẳng 14 năm lưu lạc
khắp các chư hầu, nếm trải đủ
mọi đắng cay, hiểm nguy
và cả những sự nhạo bán
để tiếp tục đi tìm một minh quân
có thể thấu hiểu lý tượng của mình.
Hành trình đầy máu và nước mắt ấy
rốt cuộc đã diễn ra
như thế nào?
Rời khỏi nước lỗ, cổ xe ngựa
chở Khổng Tử và các học trò hướng
về nước vệ. Chẳng ai ngờ
chuyến đi ấy lại kéo dài đẳng đẳng
tới 14 năm, đưa họ rong rũi
qua hàng loạt chư hầu, từ vệ,
Tàu, Tống, Trịnh, Trần
cho đến Thái, Sở.
Mang trong mình khát vọng
dùng đạo lý nhân chính
để cảm hóa các bậc quân vương.
Thế nhưng, thực tại khốc liệt của thời đại
Bình Đao đã dội những gáo nước lạnh
vào lý tưởng của người thầy giáo vĩ đại.
Tại nước vệ,
vệ Linh Công ban đầu tiếp đóng
ông vô cùng hậu hĩnh, cấp cho
bổng lọc ngang bằng với nước lỗ.
Thế nhưng, nhà vua thực chất chỉ muốn
lợi dụng danh tiếng của Khổng Tử để
trang điểm cho triều đình, chứ tuyệt nhiên
không giao cho ông bất kỳ thực quyền nào.
Đã vậy, vệ Linh Công
còn là một kẻ hoang dâm,
ngày ngày chìm đắm bên người Sũng Phi
Nam Tử. Có lần,
nhà vua ngang nhiên để Nam Tử ngồi
cùng xe đi dạo phố, bắt Khổng Tử
phải đi xe theo hậu phía sau,
khiến dân chúng xì sầm bàn tán.
Khổng Tử ngậm ngùi thang
với học trò.
Ta chưa từng thấy ai yêu Đức Hạnh
được như yêu sắc đẹp.
Ở lại đây, phỏng có ích gì?
Thế rồi, ông quyết định rời nước vệ
để đi tìm minh chủ mới.
Thế nhưng, con đường phía trước
dăng đầy cạm bẫy và hiểm nguy.
Khi đi qua đất khuôn,
vì Khổng Tử có ngoại hình hao hao giống tên
ác bá Dương Hổ,
người dân nơi đây đã hiểu lầm
và đem binh lính bao vây ông
cùng các học trò suốt 5 ngày đêm.
Tình thế vô cùng nguy ngập,
gường dáo sáng lóa bủ vầy tứ phía.
Trong khi các học trò hoảng loạn tột độ,
Khổng Tử vẫn bình thản
ngồi gãy đàn.
Tử lộ, một học trò tính tình nóng nảy
lo lắng hỏi thầy
Thầy ơi, chúng ta sắp mất mạng rồi,
sao thầy vẫn còn tâm trí mà gãy đàn?
Khổng Tử điềm nhiên đáp
Văn vương đã mất,
nền văn hóa cổ xưa
chẳng phải đang nằm ở ta hay sao?
Nếu trời muốn tiêu diệt nền văn hóa này
thì ta đã không nắm giữ nó.
Còn nếu trời chưa muốn tiêu diệt nó
thì người Khuôn làm gì được ta?
Sự điềm tĩnh
và phong thái đỉnh si đạt của ông
cuối cùng đã khiến người Đất Khuôn
nhận ra sự nhầm lẫn và rút quân.
Thác nạn ở Đất Khuôn,
thầy trò lại tiếp tục hành trình,
nhưng rắc rối vẫn chưa buông tha.
Tại nước Tống,
quyền thần Tử Mã Hoàng Đồi
vì ghét bỏ những tư tưởng lễ giáo của Khổng Tử
đã ngầm sai người lén chặt đổ cây to
nơi ông đang đứng giảng bài
Hồng đè chết ông.
May mắn thoát nạn,
Khổng Tử phải vội vã cãi trang
trốn chạy khỏi nước Tống
trong tình cảnh vô cùng chật vật.
Tại nước Trịnh, ông lạc mất học trò,
phải đứng bơ vơ ở cửa thành phía đông.
Có người dân Trịnh chỉ ông
và cười nhạo.
Trong bộ dạng ông ta
mệt mỏi và thảm hại,
chẳng khác nào một con chó có tan.
Khi học trò tìm thấy
và thuộc lại lời chế diệu đó,
Khổng Tử không những không tức giận
mà còn bật cười sảng khoái.
Về hình dáng thì chưa hẳn đúng,
nhưng bảo ta giống con chó có tan
thì quá thật là giống lắm.
Đỉnh điểm của sự bi đác
là khi thầy trò Khổng Tử
bị mắc kẹt giữa hai nước Trần và Thái.
Bây giờ hai nước này có loạn,
bình lính chặn đường không cho phái đoàn đi qua.
Suốt bảy ngày liền,
lương thực cạn kiệt,
học trò nhiều người ấm lã,
không vượng dậy nổi.
Sự án tháng bắt đầu dấy lên.
Tử lộ mặt mũi phờ phạt,
bước đến trước mặt Khổng Tử,
dòng trách móc.
Người quân tử cũng có lúc khốn cùng đến mức này sao?
Khổng Tử nghiêm mặt, giỏng dạc đáp trả.
Quân tử gặp lúc khốn cùng
thì vẫn giữ được khí tiết.
Chỉ có kẻ tiểu nhân
khi khốn cùng mới sinh ra làm liều
đánh mất chính mình mà thôi.
Chính vào những giây phút tuyệt vọng nhất,
khí chất và niềm tin sắc đá
của Vàng Thế Sư Biểu càng tỏa sáng rực rỡ.
Ông vẫn ngày ngày giãn đạo,
gãy đàn hát ca,
không một lời thang vãng.
Cuối cùng, Vùa Nước Sở Hay Tinh
đã cử binh đến đón rước,
giải vây cho phái đoàn.
Suốt 14 năm buồn bà,
dấu chân Khổng Tử in khắp các vùng đất.
Nhưng tư tưởng nhân chính của ông
vẫn không có đất dụng vỏ.
Các quốc gia chư hầu
đang mãi miết chạy đua vũ trang,
dùng sức mạnh quân sự để thôn tính lẫn nhau.
Chẳng ai bận tâm đến thứ đạo lý,
dùng nhân nghĩa để thu phục lòng người
mà ông thuyết giảng.
Sự thật phũ phàng ấy
khiến vị hiền triết dần nhận ra
thời thế loạn lạc này chưa sẵn sàng
đón nhận con đường của ông.
Năm 484 trước Công Nguyên,
Khổng Tử bấy giờ đã 68 tuổi,
tóc bạc, da mồi.
Nhận được lời mời gọi từ nước lỗ,
ông quyết định lên xe ngựa
quay trở về quê hương sau hơn
một thập kỷ lưu bạc.
Nhưng chốn cũ này đã đổi thay
và những năm tháng cuối đời
của Khổng Tử ở nước lỗ sẽ là
một chương buồn bã nhưng lại rực rỡ nhất
trong di sản ông để lại cho hậu thế.
Trở về nước lỗ
sau 14 năm đặng đẳng buồn ba phong trần,
Khổng Tử lúc này
đã là một ông lão 68 tuổi.
Vua lỗ và các quyền thần họ quý
nghênh đón ông bằng những nghi lễ trang trọng nhất
suy tôn ông làm quốc lão.
Thế nhưng sự kính trọng ấy
chỉ dừng lại ở bên ngoài.
Họ thỉnh giáo ông về các đạo lý trị quốc
nhưng tuyệt nhiên không giao cho ông
bất kỳ chức vụ hay thực quyền nào
để can dự vào triều chính.
Nước lỗ vẫn vậy,
vẫn chìm trong sự thao túng của các quyền thần
và những mưu mô tranh đoạt.
Nhận ra con đường chính trị
đã hoàn toàn khép lại,
Khổng Tử không án tháng.
Ông quay sang nói với các học trò
của mình.
Ta không án trời, không trách người.
Ta học từ những điều giảng dị
vườn tới những đạo lý cao siêu.
Hiểu ta, họa chăng chỉ có trời
mà thôi.
Từ đó, ông quyết định dồn toàn bộ
chút sức lực và trí tuệ cuối cùng
và một sự nghiệp vĩ đại hơn.
Giáo dục và biên soạn kinh sách.
Khổng Tử hiểu rằng
nếu không thể thay đổi xã hội
bằng chính trị trong hiện tại,
ông sẽ lưu truyền tư tưởng của mình
cho muôn đời sau thông qua văn tử.
Ông miệt mài tập hợp,
chỉnh lý lại toàn bộ những di sản
văn hóa cổ xưa vốn đang bị
thất lạc và mai một do chiến tranh.
Ông sang định kinh thi,
kinh thư, tu định kinh lễ,
kinh nhạc và dạy công
chú giải kinh dịch.
Đặc biệt nhất, ông đã dùng tâm huyết cuối đời
để viết nền cuốn Kinh Xuân Thu,
tác phẩm sử học đầu tiên
ghi chép lại các sự kiện của nước lỗ
trong suốt hơn 200 năm.
Trong tác phẩm này,
khổng tử không chỉ đơn thuần kế lại lịch sử,
mà thông qua từng câu chữ,
ngụ ý bao biếm.
Ông ngầm phán xét đúng sai,
khen chê các bậc quân vương và quyền thần.
Sử sách đời sau lưu truyền
lại rằng, khi khổng tử
viết xong Kinh Xuân Thu,
những loạn thần tạc tử trong thiên hạ
đọc đến đều phải kinh hải toát mùa hôi
vì sợ tên tuổi của mình
sẽ bị người đời sau nguyện rũa.
Thế nhưng,
những năm tháng cạm cụi bên án thư
của bậc vĩ nhân lại bị bao trùm
bởi những bi kịch gia đình và sự mất mát
tột cùng.
Năm khổng tử 69 tuổi,
người con trai duy nhất của ông là
khổng lý bạo bệnh qua đời.
Người cha già đang ngậm ngùi khóc
tiễn đưa giọt máu của mình về nơi
chính suối.
Nhưng nỗi đau dặn xé nhất vẫn chưa dừng lại.
Hai năm sau,
Nhan Hồi, người học trò xuất trúng nhất,
người sở hữu đức hạnh cao quý
mà khổng tử đặt trọn niềm tin
sẽ kế thừa đạo thống của mình
cũng qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ.
Đứng trước linh cửu
của người học trò cưng
vì hiền triết già không còn giữ được sự điềm tĩnh.
Ông bật khóc nứt nở,
nước mắt tuồn rơi lã chả,
ngứa mặt lên trời mà thang lớn.
Trời hãi ta rồi!
Các học trò đứng xung quanh
thấy thầy đau đớn quá mức
Thầy ơi! Thầy thương xót quá mức rồi!
Khổng tử quay lại
giọng xót xa tột độ
Ta thương xót quá mức sao?
Nếu không vì người này
mà khóc thương đau đớn
thì còn vì ai được nữa?
Bị cố liên tiếp dán xuống
khiến sức khỏe và tinh thần khổng tử
ngày càng suy kiệt.
Đến mùa xuân năm 481 trước công nguyên
một sự kiện mang tính điềm báo
đã xảy ra.
Có người đi săn ở phía tây nước lỗ
bắt được một con vật lạ
mang về thỉnh giáo.
Khổng tử nhìn thấy
nhận ra đó là con kỳ lân
loài thần thú được tương truyền
là chỉ xuất hiện khi thiên hạ Thái Bình
có bậc Thánh Vương trị vì.
Nhưng nay thiên hạ đại loạn
kỳ lân lại xuất hiện
và bị thợ săn bắn chết.
Khổng tử xót xa rơi lệ
buồn bút thang thở
Kỳ lân ơi! Mày đến nay làm gì?
Đạo của ta đến đây là hết rồi.
Sự kiện ấy đã đã kích ông sâu sắc
khiến khổng tử quyết định ngừng bút
tuyệt đối không viết thêm một chữ nào
vào cuốn Kinh Xuân Thu nữa.
Và rồi
đòn gián sinh tử cuối cùng ập đến
vào năm ông 72 tuổi.
Tử lộ
người học trò dũng cảm, trung thành
nhưng tính tình cương trực
đã theo ông suốt bao nhiêu năm thăng trầm
bị sát hại một cách tàn khốc
trong cuộc binh biến tranh giành quyền lực
tại nước vệ.
Kẻ thù tàn nhẫn đến mức đã băm vầm
thi thể của tử lộ.
Nghe tin dữ báo về
khổng tử đau đớn đến mức sai người hầu
đem đổ hết thịt băm trong nhà đi
vì không nở nhìn thấy nữa.
Ông suy sập hoàn toàn
chỉ biết nghẹn ngào thốt lên
Đạo trời đã giấc ta rồi.
Những người thân yêu nhất
những tia hy vọng lớn lao nhất
lần lượt trời bỏ cõi đời
để lại người thầy giáo già nua
cô độc giữa dòng chảy cuồn cuộn
của một thời đại can qua.
Ngọn đèn trong trước gió
rốt cuộc cũng đến lúc phải vụt tắt.
Trận ớm cuối cùng
đã cuộc ngã vạn thế sư biểu
đưa ông bước vào
những khoảnh khắc cuối cùng
của một cuộc đời vĩ đại
nhưng cũng trang chứa đầy bi thương.
Những ngày tháng cuối cùng
của vạn thế sư biểu
chìm trong bệnh tật và nỗi cô đơn tột cùng
mất đi những người thân yêu
và những học trò xuất chúng nhất
sức khỏe của khổng tử suy sựp nhanh chóng.
Một buổi sáng sớm
mùa xuân năm 479 trước công nguyên
sương mù vẫn còn
giăng kính nước lỗ.
Tử Cống, một trong những học trò kiệt xuất
và giàu có nhất của khổng tử
nghe tin thầy bệnh nặng
liền vội vã đánh xe đến thăm.
Vừa bước vào đến sân, Tử Cống đã thấy
người thầy già nua của mình tay chóng gậy
bước đi lão đạo trước cửa
miệng thèo thào nâm nha
một khúc hát thê lương
Núi Thái Sơn sắp đổ rồi sao?
Cột nhà lớn sắp gãy rồi sao?
Bậc triết nhân
sắp héo tàn rồi sao?
Vừa ngâm sông
khổng tử nhòa lệ
thấy Tử Cống, ông méo máu thốt lên
Tử à!
Sao con đến muộn thế?
Đêm qua ta mơ thấy
mình ngồi giữa hai cây cột
Đạo của ta chẳng có vị
Mình quân nào trên đời này thấu hiểu
để mà trọng dụng?
Ta sắp phải ra đi rồi
Bảy ngày sau buổi sáng sương giá ấy
Khổng tử thanh thản
trúc hơi thở cuối cùng
hướng thọ 73 trực
Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương
vô hạn cho các học trò
Từ khắp nơi, họ tụ tập về khúc phụ
cùng nhau dựng lều cỏ
bên mộ thầy, mặc áo tang
suốt ba năm ròng rã
mới gạt nước mắt chia tay nhau
Riêng tử cống
vì quá thương nhớ ân sư
đã dựng một típ lều nhỏ cạnh mộ
ở lại trong coi thêm ba năm nữa
mới chịu rời đi
Lúc sinh thời, Khổng tử từng cây đắng
tự nhận mình bơ vơ buồn bà
khắp chư hầu mà chẳng được ai
thực tâm trọng dụng
Thế nhưng, vòng quay của lịch sử
lại mang đến một câu trả lời
mà có lẽ chính ông cũng không thể ngờ tới
Hơn 300 năm sau ngày ông mất
Hán Vũ Đế của Triều Đại Nhà Hán
đã đưa ra một quyết định
làm thay đổi hoàn toàn cục diện
tư tưởng phương đồng
Bãi trức bách gia, độc tôn nho thuật
Tư tưởng của Khổng tử
chính thức bước lên vũ đại lịch sử
trở thành quốc giáo
và là nền tảng cốt lõi để xây dựng
luật pháp, luân lý
cũng như hệ thống khoa cử giáo dục
Những lời dạy bảo của ông
được các thế hệ học trò ghi chép lại
thành cuốn luận ngữ
trở thành cuốn sách gối đầu dường
của mọi bậc trí giả, quang lại
và vua chúa
Bất chấp sự thăng trầm của các triều đại
vị thế vàng thế sư biểu
bậc thầy của muôn đời
mà hậu thế suy tôn cho ông
vẫn sừng sửng không bao giờ lây chuyển
Từ một người thể giáo nghèo
ở nước lỗ nhỏ bé
ông đã hóa thành một ngọn hải đăng vĩ đại
rồi ánh sáng của lòng nhân nghĩa
đạo hiếu và lương thường đạo lý
đi khắp cõi Á Đông
suốt hơn 2.000 năm
Một đời tận tụy vì nền giáo dục
dẫu ném trải muôn ngàn
trắc trở và bi thương
vẫn quyết không từ bỏ đạo lý
Khổng tử đã vạch ra cho nhân loại
thấy rằng sức mạnh vĩnh cửu
không nằm ở đào kiếm, bạo lực
hay quyền lực thao túng
mà nằm ở sự tu dưỡng đức hạnh
và lòng nhân ái của con người
Đến đây thì bức tranh toàn cảnh
về cuộc đời của Khổng tử
đã chính thức khép lại
Cảm ơn các bạn đã dành thời gian
đồng hành cùng ngẩm sự Đông Tây
để nhìn lại chặng đường đầy thang trầm
nhưng vô cùng rực rỡ của một nhân vật
vĩ đại bậc nhất trong lịch sử phương Đông
Nếu các bạn thấy video này
hấp dẫn và hữu ích
đừng quên để lại một nút đăng ký kênh
nhấn chuông thông báo và chia sẻ
những cảm nghĩ của mình dưới phần bình luận nha
Sự ủng hộ của các bạn chính là
động lực to lớn nhất để chúng mình
tiếp tục mang đến những video lịch sử
chất lượng hơn nữa
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn
trong những câu chuyện tiếp theo