Trung Thu trăng tròn, ý thu đang nồng, ánh trăng nhẹ chảy, tiếng sáo thanh tao, gió thu nhẹ lướt, lá rơi múa lượn. Trong cảnh trí tuyệt mỹ này, lặng lẽ trượt rơi, từ trước mắt đến trong lòng, kiêu hãnh, không trói buộc; bình thản, tĩnh lặng; thanh tâm, không vết gợn. Làm một chiếc lá thu, quyến rũ hết mực, nội hàm phong phú, đặt mình nơi thung lũng thôn quê, uống sương ngọt, tắm nắng thu, linh hồn trú ngụ giữa mây nước, tâm hồn nghỉ ngơi nơi một cõi tịnh thổ.
··· MỜI BẠN ĐÓN XEM TRỌN MỘNG NGÀN NĂM SỐ 7 NGUYỆT CUNG DIỄN MỘNG.
20H, NGÀY 18/9/2026 trên kênh Việt Nam tươi đẹp, nền tảng Ganjing World.
Câu chuyện về Ngu Công dời núi được dùng làm dẫn chứng cho tinh thần kiên trì và ý chí sắt đá để vượt qua nghiệp lực. Từ đó, tác giả kết nối với hành trình tu luyện, lòng biết ơn đối với Sư Phụ và niềm trắc ẩn dành cho những người đồng tu đang bị bức hại, đồng thời kêu gọi sự tinh tấn để hoàn thành thể ước trở về cố hương.
Trong sách liệt tử Thang Vấn Thiên có ghi chép một câu chuyện.
Tại phía nam Ký Châu, bờ bắc Hoàng Hà, có hai ngọn núi cao tên là Thái Hành và Vương ốc.
Bán kính hai ngọn núi dài 700 dặm, chiều cao lên đến mấy vạn thước.
Ở phía bắc của hai ngọn núi có một ông lão tên là Ngu Công, tuổi đã gần 90.
Hai ngọn núi cản trở được đi hướng bắc dù ra hay vào, đều phải đi đường vòng rất xa,
khiến Ngu Công vô cùng đau đầu trước tình huống này.
Hôm đó, ông triệu tập cả nhà lại để cùng nhau thảo luận.
Làm thế nào để có con đường thông thoáng dẫn thẳng đến phía nam Dự Châu, bờ nam Hán Thủy?
Với ước nguyện như vậy, ông quyết định sang bằng hai ngọn núi này.
Ngày hôm sau, Ngu Công lựa chọn ba cháu trai có thể đảm nhiệm trọng trách,
cùng theo ông đi đục đá, đào đất.
Sau đó lại đem số đất đá vừa đào bới được chuyển đến khu vực gần biển Bột Hải.
Người hàng xóm hà khúc trí sư cười nhạo Ngu Công,
cho rằng đám người nhân lực ít ỏi, núi lại cao như vậy,
làm sao có thể sang bằng hai ngọn núi này.
Nhưng Ngu Công vẫn kiên định.
Cho dù tôi chết rồi, tôi còn có con trai mà.
Con trai lại sinh cháu trai, cháu trai lại sinh con trai,
con trai lại sinh con trai nữa,
và con trai lại tiếp tục sinh cháu trai.
Còn con cháu cháu là không bao giờ hết cả.
Nhưng hai ngọn núi này đâu thể mọc cao hơn,
cũng không thể to ra hơn.
Tôi có gì phải lo lắng là không sang bằng được nó chứ.
Hà khúc trí sư nghe Ngu Công nói như vậy,
tâm phục khẩu phục, nín lạnh, không nói nên lời.
Dù ở độ tuổi gần đất xa trời,
nhưng ông lão Ngu Công không vì tuổi già sức yếu mà khoanh tay đứng nhìn.
Ông tâm niệm tích triểu thành đại.
Cho dù mỗi ngày chỉ có thể dời đi một chút đất đá,
nhưng theo ngày, theo tháng, ông cũng sẽ dời được ngọn núi to.
Tinh thần và ý chí kiên định ấy làm cảm động thiên đế.
Ngài bèn lệnh cho con trai của Đại Lực Thần Khoa Nga Thị
di dời hai ngọn núi này.
Từ đó về sau, phía nam của Ký Châu
và bờ nam của Hán Thủy không còn có núi cao ngăn cản nữa.
Thái Sơn chẳng quảng gom từng hạt đất,
nhờ vậy mà cao lớn.
Sông biển không kén dòng nhỏ to,
vậy nên càng rộng lớn.
Bất cứ một việc thiện nào cũng là từng hạt đất,
cũng là từng dòng nhỏ.
Bắt đầu làm từ việc nhỏ,
mỗi ngày một việc tốt,
một câu nói thiện lương,
một nụ cười rạng rỡ,
một ly trà ấm nóng.
Cứ như thế mà tích triểu thiện thành đại đức.
Có người nói, Ngu Công kỳ thực là một người tu đạo.
Ngọn núi mà ông muốn di dời ấy,
kỳ thực là nghiệp lực cao to như núi của bản thân.
Những gian nang mà Ngu Công gặp phải khi dời núi,
cũng chính là gian nang trong quá trình tiêu trừ nghiệp lực.
Cuối cùng, thiên đế cảm động,
giúp ông di dời ngọn núi,
kỳ thực chính là thiên đế cảm thấy tấm lòng ông chân thành
mà giúp ông tiêu trừ nghiệp lực.
Những người giúp đỡ Ngu Công dời núi kia,
kỳ thực chính là những sinh mệnh khác
thuộc cùng thể hệ sinh mệnh của Ngu Công.
Còn ông già khôn ngoan, trí tẩu, cười nhạo Ngu Công kia,
cũng chỉ là một phàm phu tự cho là mình thông minh.
Người này không thể nào lý giải được người tu đạo.
Trong hoàn cảnh vô thức,
người này đã đóng một vai diễn khảo nghiệm Ngu Công.
Sự so sánh giữa trí huệ và ngu ngốc ở cao tầng là phản đảo lại.
Bạn thân mến, tôi tin mỗi chúng ta ở đây
đều từng bước qua những giông bão của cuộc đời,
từng cảm thấy áp lực và gánh nặng như đè nặng lên vai.
Đã có lúc, những duyên nợ khiến tâm trí ta kiệt quệ,
nhưng chính trong giây phút tâm tối nhất,
từ sâu thẳm tâm hồn lại vọng lên một nguyện ước chân thành,
tìm kiếm một con đường chân chính để vượt qua biển khổ.
Và rồi, Ngài đã đến với lòng tự bi bao la,
mang theo ánh sáng Đại Pháp để thức tỉnh và soi rọi đời ta,
mở ra một hành trình hoàn toàn mới, hành trình tu luyện.
Đọc cuốn vạn cổ kỳ thư, bạn và tôi đều ngộ ra bao chân lý quý giá,
hiểu vì sao chúng ta được làm người,
vì sao có sự tồn tại của nhân loại,
và vì sao tam giới lại là cõi mê.
Để từ đó, mỗi chúng ta thức tỉnh về trách nhiệm của bản thân
đối với xã hội và mọi người xung quanh,
và ta cũng hiểu rằng,
Sư Phụ đã vì chúng ta mà gánh chịu muôn vàng nghiệp lực,
vì trăm triệu đệ tử mà phó xuất,
chịu bao lời bối nhỏ và hiểu lầm từ thế gian.
Bước sang thế kỷ 21,
dù một Pháp môn Phật gia đã được đón nhận
tại hơn một trăm quốc gia trên toàn cầu,
đầu đó vẫn còn những người tu luyện phải gánh chịu sự bức hại,
tái diễn lại bài học lịch sử đầy bi tráng
của các tính độ cơ độc giáo bị bức hại suốt ba trăm năm.
Đêm nay, một đêm trung thu an tĩnh, bần khuân.
Đã bao mùa trăng lặng lặng trôi qua,
bao kiếp luân hồi dời đổi,
và cũng biết bao lần duyên ngộ tri âm
từng cùng nhau dệt mộng dưới giải ngân hà.
Vân trăng ngàn năm ấy,
vẫn lặng lẽ gieo thanh âm xuống nhân gian.
Hẳn vẫn còn ghi nhớ hình bóng ta
qua vô số kiếp sống mê mãi.
Hẳn đã chứng kiến biết
bao cuộc dâu bể thăng trầm của kiếp người.
Đêm nay, bạn và tôi ngồi lại bên nhau.
Chúng ta chẳng còn nhớ rõ
mình từng đóng những vai diễn nào
trên bức tranh lịch sử.
Nhưng trong sâu thẳm tâm thức,
cả hai đều tỏ tường
lý do mình có mặt ở đây.
Vì Pháp mà đến,
vì lời thể ước nguyên sơ,
và vì luôn có ánh sáng tử bi
của Sư Phụ bên cạnh che chở.
Mỗi độ trung thu về,
người đời lại nhắc nhiều
đến hai chữ đoàn viên.
Nhưng Sư Phụ dạy chúng ta
phải luôn biết nghĩ cho người khác,
hướng tâm ra khỏi những riêng tư ích kỷ,
ngước nhìn vần trăng trong vắt.
Tâm ta lại xót xa
hướng về những người bạn
đang gánh chịu bức hại ở Trung Quốc.
Có lẽ giờ này,
họ cũng đang lặng lẽ ngắm trăng
qua những ô cửa sổ
có sông sắc lạnh ngắt.
Ta lại nhớ về những người bạn
đang bương chải nơi đất khách quê người,
đầu đớn ngóng trông
về giải đất mẹ xa xôi.
Trăng trung thu nhô lên
từ nơi mặt trời vừa khuất.
Tỏa thứ ánh sáng dịu nhẹ
làm rạng rỡ từng cành cây,
kẻ lá,
đang rung rảy trong làng gió thu hiu hắt.
Trong làng gió ấy,
đông đầy bao nỗi nhớ thương
và nguyện cầu dành cho
người thân, bạn bè.
Đứng trước không gian ấy,
sao khỏi chạnh lòng
nhớ đến câu thơ năm xưa.
Đêm nay trăng sáng thế này,
nỗi buồn mùa thu
biết rơi vào nhà ai.
Nhưng nào ai hay biết,
trước khi trăng kịp nhô lên,
nỗi buồn đau thương
của kiếp người
đã rủ xuống biết bao gia đình.
Thế gian ngoài kia,
bao người đang chờ đón trung thu
với những ảo mộng ngọt ngào,
ước mong cả nhà
quay quần bên mâm cổ,
thưởng thức chiếc bánh nướng,
bánh dẻo và trái lòng
về những điều chưa kịp nói.
Nhưng trăng càng lên cao,
gánh vác từ bi
và trách nhiệm cứu độ
trên vai người tu luyện
lại càng tỏ rõ.
Giữa cái lạnh thu
đang dần thấm vào da thịt,
nhìn mái nhà phủ
một màu trắng xóa
dưới ánh trăng vằn vặt,
ta không chọn chìm đắm
trong nỗi cô đơn
hay niềm bi hoang
của riêng mình.
Dưới vần trăng
chứng giám của đất trời
niềm nhớ thương sư phụ
và lòng biết ơn vô hạn
lại trào dân mảnh liệt.
Đêm trăng này
không phải để hoài niệm u sầu
mà là lời nhắc nhở
nhẹ nhàng nhưng sâu sắc
hãy cùng nhau tinh tấn hơn nữa
trên con đường tu luyện
nắm chặt tay nhau trợ sư cứu độ
dạng chân tướng tới thế nhân.
Xin mượn bài thơ
Bóng trăng qua cửa
của nhà thơ vô danh cư sĩ
để gói trọn tâm tư
gửi tới bạn.
Bóng trăng qua cửa
bao xuân nhỉ
lợi sắc tình danh
kể cũng nhàm
một kiếp bon chen
ngàn kiếp trả
đời vốn vô thường
ai biết chăng
Bóng trăng qua cửa
bao xuân nhỉ
tham luyến trần ai
luôn ngậm ngùi
phỉ trí tan bồng
vàng bốn cõi
hạt bụi tinh cầu
ai thấu chăng
Bóng trăng qua cửa
bao xuân nhỉ
được mất hơn thua
một kiếp người
quán trọ trần gian
bừng tỉnh mộng
thể ước năm nào
ai nhớ chăng
Bóng trăng qua cửa
bao xuân nhỉ
xuống ngựa lên xe
rộn tứ bề
nhớ câu
đường hẹp người chen lứng
ngõ đạo thênh thang
hiếm kẻ về
Bóng trăng qua cửa
bao xuân nhỉ
một thống thời gian
thước ngọc lành
trực chỉ vãng hồi
chân thiện nhẫn
xã tận nhân gian
một kiếp này
Bóng trăng qua cửa
bao xuân nhỉ
hoàng nguyện hồi thăng
há bận lòng
lục đạo luân hồi
không vướng nữa
du cảnh bồng lai
ngộ cố hương
nguyện cho ánh trăng
từ bi chiếu soi
đến từng góc tối
xoa diệu những nỗi đau
và mang hy vọng chân chính
trở về với muôn triệu
gia đình
Nguyện hoàn thành thể ước
theo sư phụ trở về nhà
Kính chúc sư phụ
Trung thu vui vẻ