Nhiều Đập Bị Cuốn Trôi Trong Thảm Hoạ Nepal: Đập Tam Hiệp che giấu thảm họa lớn gấp 100 lần

Khán Trung Quốc
1.1K Người theo dõi
84 Lượt xem video·9 thg 9, 2026
Thảm họa đau thương này phơi bày một cách hết sức trực diện sự mong manh của “cụm hồ chứa bậc thang” trước thiên tai cực đoan. Khi công trình thượng nguồn bị phá hủy, lượng nước tích lại cộng thêm dòng lũ ban đầu sẽ tạo thành đợt lũ thứ cấp với sức hủy diệt nhân lên nhiều lần...
Lũ lụt cực lớn tại Nepal, nhiều đập lần lượt bị cuốn sập, đập tam hiệp ẩn chứa thảm họa lớn gấp trăm lần.
Mời các bạn cùng Ánh Hồng và Khán Trung Quốc tìm hiểu sâu về vấn đề này trong chương trình ngày hôm nay.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, khu vực núi cao dọc bên giới Trung Quốc, Nepal xảy ra vụ sụp đổ băng đá cực kỳ nghiêm trọng, kèm theo lũ quét.
Nước lũ từ sông Luân Đức trên lãnh thổ Nepal đổ ồ ạt vào sông Bột Đức-Khoa Tây, rồi quét sang sông Đặc Lý-Tô Lý, khiến mực nước dơ khoảng 9m chỉ trong nửa giờ.
Dòng lũ với sức tàn phá khủng khiếp đã tức thì cuốn sập một trong những hành lang thủy điện dày đặc nhất của Nepal.
Bộ Đăng lượng Nepal cùng Cơ quan Điện lực bước đầu đã xác nhận, khoảng 12 nhà máy thủy điện đang phát điện phải ngừng máy, tách khỏi lưới.
Đồng thời, ít nhất 15 dự án thủy điện đang xây dựng bị thiệt hại nặng nề.
Thân đập và đường ống áp lực bị dòng bùn đá dữ dội cuốn trôi, khiến hàng trăm công nhân thi công cùng kỹ sư nước ngoài bị mất tích.
Các trạm biến áp than chốt chống đỡ cả hệ thống điện và hàng loạt cột truyền tải cũng bị nhổ tận gốc.
Thảm họa đau thương này phơi bày một cách hết sức trực diện. Sự mong manh của cụm hồ chứa bậc thang, trước thiên tai cực đoan.
Khi công trình thượng nguồn bị phá hủy, lưỡng nước tích lại cộng thêm dòng lũ ban đầu sẽ tạo thành đợt lũ thứ cấp với sức hủy diệt nhân lên gấp nhiều lần.
Đập mạnh xuống các nhà máy thủy điện hạ nguồn, cuối cùng kích hoạt hiệu ứng domino không thể ngăn cản, khiến toàn bộ hệ thống phòng thủ của dòng sông sụp đổ hoàn toàn.
Thảm họa trên hành lang thủy điện Bột Đức Khoa Tây của Nepal, dù thảm khốc, nhưng nếu đem công suất lắp đặt của nó,
đặt vào bất kỳ bậc thang nào trên một dòng chính ở Tây Nam Trung Quốc, thì còn chưa bằng một phần lẻ.
Các lưu vực sông nhã lỗ tạng bố, kim sa, lan thương, nộ giang của Trung Quốc không chỉ có độ tranh cao cực lớn, tiềm năng thủy điện cực kỳ dồi dào,
mà còn là những khu vực có cấu tạo địa chất hoạt động mạnh nhất và địa hình bị cắt sẻ dữ dội nhất trên toàn cầu.
Những hẻm núi sâu ở đây, với mức độ hiểm trở của điều kiện địa chất lẫn độ dốc tranh lệch cao còn vượt xa Nepal.
Trên thùng thuốc súng địa chất đầy đất gãy và biến dạng này, đặc biệt là đoạn kim sa giang ở thượng nguồn Trường Giang với độ tranh cao cực lớn, dày đặc các nhà máy thủy điện.
Nếu thống kê toàn bộ, các nhà máy thủy điện lớn nhỏ trên dòng chính, phụ lưu, đã xây và đang xây của bốn lưu vực nói trên,
Trung Quốc đã dựng hơn 10.000 đập bê tông và nhà máy phát điện tại đây.
Trong số đó không chỉ có vô số thủy điện nhỏ chắn ngang các phụ lưu mà còn gồm hàng loạt các nhà máy thủy điện bậc thang khổng lồ tầm cỡ thế giới như là Ô Đông Đức, Bạch Hạc Than, Khê Lạc Độ, hướng Gia Bá.
Phía dưới hướng Gia Bá chính là đập Tam Hiệp.
Kiểu khai thác, trải thảm cực độ này khiến khu vực hẻm núi cao Tây Nam hiện ra một cảnh tượng vừa tróng ngợp vừa bất an,
gần như mọi phụ lưu đều bị chặn ngang lưng, gần như mọi thung lũng đều trôn sâu dưới ống áp lực.
Tư duy chiến thiên đấu điệu của Trung Cộng, coi thường quy luật tự nhiên.
Việc bố trí dày đặc cụ thủy điện bậc thang khổng lồ với độ tranh cao cực lớn, dung tích chứa nước kinh người ngay trên vùng đất gáy đang hoạt động,
nơi ngay cả vỏ trái đất cũng không giữ được ổn định, chẳng khác nào đặt các siêu công trình và tầm ngắm của những thảm họa địa chất khó lường.
Trước hết, sức chịu tải địa chất đã quá tải nghiêm trọng.
Hơn 10.000 nhà máy điện cùng hàng chục nghìn km đường hầm dẫn nước, mái dốc cắt cao và đường vào công trường trong quá trình thi công đã làm sáo trộn cực lớn cấu trúc núi, vỗ đã hết sức mong manh.
Cân bằng ứng suất tự nhiên của núi bị phá vỡ khiến xác suất xảy ra sạt lở, sụp đổ tăng theo cấp độ số nhân.
Thứ hai, xác suất vỡ đập dây chuyển tăng mạnh.
Việc các đập phân bố mật độ cao đồng nghĩa với việc một khi thượng nguồn xảy ra sạt núi cực lớn, hình thành hồ đắp tự nhiên bị vỡ, dòng lũ khi lao xuống hạng nguồn cứ vài km lại đâm vào và nuốt trừng một nhà máy thuy điện nhỏ.
Xác đập bị cuốn, mảnh vỡ nhà máy, máy móc hạng nặng cùng lượng nước tích lại sẽ như quả cầu tuyết hòa vào dòng bù đá, liên tục nạp năng lượng vật lý cho đỉnh lũ.
Cuối cùng, chúng hội tụ thành một quỷ lũ siêu cấp, không thể ngăn cản, đập mạnh vào những đập xương sống khổng lồ ở hạng nguồn.
Đây chính là cơn ác mộng đáng sợ nhất của kiểu khai thác thủy điện bậc thang.
Nhìn lại trận lũ tại Nepal, sức phá hủy, thủy diệt không chỉ đến từ mưa liên tục thông thường mà bắt nguồn từ biến động địa chất cực kỳ dữ dội.
Theo phân tích của các cơ quan địa chất quốc tế có thẩm quyền, nguồn gốc thảm họa rất có thể là phản ứng dây truyền do sạt lở núi lớn hoặc là động đất cục bộ gây ra.
Trong những hẻm núi cao dốc đứng, phủ băng tuyết, một khi thế cân bằng mong manh của vỏ trái đất bị phá vỡ, hàng triệu mét khối tầng đá và đất có thể sụp đổ trong tích tắt.
Khi những khối vật chất sạt lở khổng lồ lao vào thung lũng sông hẹp, chúng nhanh chóng hình thành hồ đắp tự nhiên cực kỳ nguy hiểm.
Khác với đập nhân tạo được thiết kế kỹ thuật chính xác, thân đập tự nhiên của hồ đắp được chất trồng lòng lèo từ đá vụn và đất, hoàn toàn không có khả năng chống thấm lẫn chống sói.
Khi nước thường nguồn tích tụ đột ngột, dòng chảy cuối cùng chàn đỉnh hoặc phá vỡ lớp rào chán mong manh ấy, vỡ đập xảy ra trong vài phút.
Thứ phun ra không phải là nước trong mà là dòng bùn đá mất độ cực cao, động năng kinh người.
Dòng nước hàm lượng cát lớn này như một bức tường lỏng, chuyển động tốc độ cao, dễ dàng bẻ gãy công trình bê tông cốt thép, săn phẳng các cơ sở thủy điện hiện đại.
Nếu lấy logic thảm họa Nepal làm thức đo để xem xét lưu vực khu Kim Sa Rang, dù do tiềm ẩn vượt quá trăm lần, chứ không chỉ dừng lại ở đó.
Trong tình huống cực đoan, một khi động đất mạnh ập đến, rất dễ kích hoạt sạt lờ núi cấp siêu lớn hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu mét khối dọc hai bờ hẻm núi dốc đứng.
Tức thì chặn ngang Kim Sa Rang, tạo thành hồ đắp siêu cấp, thể tích khổng lồ.
Vì lưu lượng Kim Sa Rang cực lớn, hồ đắp sẽ bị đầy tràn trong thời gian cực ngắn và đối mặt với nguy cơ vỡ rất cao.
Một khi thân đập tự nhiên sụp, đỉnh lũ mật độ cao cuốn theo hàng tỷ tấn đất đá và bùn cát sẽ lao xuống hạ nguồn với sức mạnh sớm xét.
Trước loại đỉnh lũ, bùn đá vượt xa giới hạn thiết kế kỹ thuật của con người.
Nếu một đập khổng lồ nào đó ở thượng nguồn bị vỡ kết cấu, hàng chục tỷ mét khối dung tích chứa sẽ được giải phóng tức thì.
Điều này sẽ kích hoạt hiệu ứng domino liên hoàn đáng sợ hơn Nepal hàng trăm, hàng nghìn lần,
hình thành từng đợt lũ sung phá hủy diệt không gì cả nổi, quét sạch mọi nhà máy thủy điện bậc thang dọc hạ lưu Kim Sa Rang.
Điểm tận cùng của chuỗi domino hủy diệt ấy chính là đập Tam Hiệp, nằm chắn ngang dòng chính Trường Giang.
Hồ chứa Tam Hiệp dù có dung tích phòng lũ khổng lồ nhưng chuẩn thiết kế chủ yếu nhằm đối phó với mưa lũ thông thường trên lưu vực.
Cụm hồ chứa bậc thang khổng lồ thượng nguồn vỡ xây truyền sẽ tạo ra đỉnh lũ hốn hợp,
dòng mảnh vụn siêu mạnh cộng lượng nước khổng lồ, lực sung kích sẽ cực lớn.
Mức sung kích ấy không chỉ vượt ngưỡng phòng thủ của đập Tam Hiệp mà còn có thể trực tiếp phá hủy kết cấu thân đập.
Một khi đập Tam Hiệp bị hư hại nặng hoặc vỡ dưới cuộc đánh cực đoan như vậy, phía sau còn có đập Cát Châu Bá,
xa hơn nữa là đồng bằng rộng lớn Trung Hạ Liêu – Trường Giang, vô số thành phố phồn hoa cùng tính mạng,
tài sản của hàng trăm triệu người dân sẽ đối mặt một thảm họa diệt vong không thể ước lượng.
Suy diễn đáng sợ này không phải là vô căn cứ, phía sau là logic địa chất nền tảng hết sức nghiêm trọng.
Xét từ chuyển động vỏ trái đất quy mô lớn, vùng rộng lớn từ Phan Chi Hoa đến Nghi Tân thuộc Tứ Xuyên
đang nằm trên đai chuyển ứng xuất ép nén nội lục và khu vực biến dạng mảng kiến tạo mạnh.
Mảng Ấn Độ tiếp tục đẩy mạnh về phía Bắc, ép mạnh mảng Á-Âu,
buộc vật chất vỏ trái đất của cao nguyên thanh tạng phải thoát trượt về phía Đông và Đông Nam dưới áp lực khổng lồ.
Tuy nhiên, khi khối vật chất đang di chuyển ấy tới rìa bồn địa Tứ Xuyên,
nó đụng vào một khối cứng, cổ xưa và cực kỳ ổn định, kháng cự quyết liệt.
Tuyến Phan Chi Hoa-Nghi Tân đúng lúc nằm kẹt trên giải kẹp giữa đẩy và chặn hết sức dữ dội này.
Điều đó khiến ứng xuất vỏ trái đất tại đây tập trung cao độ,
dưới lòng đất dày đặc các đới tuyết gãy đang hoạt động như đới tuyết gãy hồng cách nguyên miu,
đới tuyết gãy móng hoa oánh sơn, trở thành những vùng rủi ro động đất cấp cao điển hình.
Đây không chỉ là giả thuyết trong mô hình địa chất,
mà là thực tế tàn khốc đã được hoạt động địa chất thường xuyên và có sức phá hủy tại khu vực này
trong những năm gần đây liên tục chứng thực.
Tháng 8 năm 2008, khu vực Phan Chi Hoa-Hội Lý thuộc Tứ Xuyên đã xây ra động đất ở 6,1 độ,
nơi đây nằm đúng danh giới phía đông khối hình thoi xuyên điển.
Ứng xuất ép nén tích tụ mạnh của mảng tìm được điểm đột phá, dung chấn bề mặt dữ dội tức thì,
kích hoạt hàng loạt thảm họa địa chất, thứ cấp như sạt núi, sụp đổ, lũ bùn đá,
thể hiện đầy đủ mức độ mong manh của kết cấu đất đá bề mặt dưới sức ép ứng xuất.
Ở đầu phía bắc đai chuyển ứng xuất này và dưới nam bồn địa Tứ Xuyên,
tháng 6 năm 2019 bùng phát động đất 6 độ tại Trường Ninh Nhi Tân,
sau đó liên tiếp nhiều dư chấn mạnh trên 5 độ.
Đây chính là trường hợp điển hình các đất gãy, thứ cấp dọc dìa bồn địa cứng bị kích hoạt liên tục
do cao nguyên thanh tạng đẩy sang phía đông.
Nếu mở tầm nhìn ra toàn bộ đai kiến tạo, vĩ mô, dìa đông cao nguyên thanh tạng và trạm bồn địa Tứ Xuyên,
còn xảy ra những sự kiện cực đoan chấn động thế giới.
Động đất 8 độ Vấn Xuyên năm 2008, 7 độ Lô Sơn năm 2013 và 6,8 độ Lô Định năm 2022.
Cơ chế vận lý phát sinh động đất của chúng hoàn toàn giống nhau.
Đặc biệt trong động đất Vấn Xuyên, cả một ngọn núi bị xẻ toạc trong tích tắc.
Khối lượng sạt núi khổng lồ trực tiếp chặn sông, hình thành hơn trăm hồ đắp tự nhiên.
Ngoài dù do hủy diệt nhập khẩu từ thảm họa địa chất thượng nguồn,
bản thân công trình đập tăm hiệp cùng môi trường sinh thái khu hồ chứa
cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ sâu xa lâu nay bị che giấu.
Trong vài thập niên xây dựng và vận hành, một số sự cố chất lượng lớn
cùng hiện tượng địa chất xấu đi đã bị cố ý làm nhẹ
dưới hệ thống ngôn từ ổn định đại cục của Đảng Cộng sản Trung Quốc,
thậm chí được một số chuyên gia thủy lợi dùng lý thuyết nửa vời để biện hộ tô son.
Trước hết, trong thời gian thi công,
đập tăm hiệp từng xảy ra sự cố chất lượng bê tông cường độ thấp hết sức nghiêm trọng.
Theo một ý kiến xử lý nội bộ do giáo sư thủy lợi nổi tiếng Trương Quang Đấu đưa ra vào tháng 6 năm 1998,
đoạn đập không chàn số 5, phía bên phải đập tăm hiệp,
bị phát hiện đổ một lượng lớn bê tông cường độ thấp không đạt chuẩn.
Giáo sư Trương trong báo cáo chỉ rõ đây là sự cố chất lượng hết sức nghiêm trọng.
Để khắc phục, phía thi công bộ công nhân chui vào bên trong đập,
dùng khoan hơi mòi cực kỳ khó khăn lớp bê tông kém chất lượng rồi đổ lại bê tông cường độ cao.
Đáng kinh ngạc là do phát hiện quá muộn, một phần bê tông kém chất lượng phía trên đã bị đổ thêm thân đập mới,
nên chỉ móc được phần lớn tuyệt đối.
Vẫn còn một phần nhỏ bê tông cường độ thấp bị trôn vĩnh viễn trong kết cấu của móng đập.
Nếu công tác bơm vữa ra cố sau đó, sơ sẩy dù chỉ một chút,
đây sẽ trở thành hiểm họa kết cấu vĩnh viễn của đập.
Thế nhưng khi đối mặt với công luận và truyền thông, nhóm chuyên gia của cơ quan liên quan lại nhẹ nhàng tuyên bố công trình
chỉ xuất hiện một số sự cố chất lượng cục bộ nhẹ nhàng, im ti tít về sai sót nghiêm trọng suýt lung lay tận gốc đập.
Thứ hai, vấn đề nứt thân đập, phơi bày lỗ hổng lớn trong quản lý kiểm soát nhiệt khi thị công.
Trong các năm 2001-2002, đập tác miệng bị truyền thông phơi bày, tồn tại hàng loạt vết nứt.
Mặt đập thượng lưu xuất hiện hàng chục đường nứt, mặt hạ lưu đoạn nào cũng có vết nứt, sâu nhất là 2-3 mét, rộng đủ nhất lòng bàn tay người lớn.
Trước sự chất vấn của dư luận, nhiều chuyên gia có thầm quyền lần lượt đứng ra biện hộ,
tuyên bố với bê tông khối lớn do vấn đề tản nhiệt nên xuất hiện vết nứt là hiện tượng bình thường khó tránh.
Thế nhưng kiểu biện hộ đầy trách nhiệm quản lý của con người sang quy luật vật lý khách quan đã tự sụp trong giai đoạn xây đập bờ phải,
giai đoạn 3 của Tam Hiệp. Nhờ biện pháp kiểm soát nhiệt nghiêm ngặt, đập bờ phải cuối cùng kỳ diệu đạt không một vết nứt.
Điều này chứng minh ngược lại rằng những vết nứt sâu xuất hiện giai đoạn đầu tuyệt đối không phải là không thể tránh,
mà là vấn đề chất lượng công trình từ đầu đến cuối, tức loại công trình đậu phụ mà người ta thường nói.
Những vết nứt trôn sâu trong thân đập dưới sự ngấm và thấm của nước hồ chứa áp suất cao quanh năm,
liệu có thể tiếp tục biến thành vết nứt gây hại hay không, luôn là lưỡi kiếm treo trên hạ lưu trưởng giang.
Thứ ba, việc hồ chứa tích nước theo chủ kỳ đã kích hoạt thảm họa địa chất tăng theo kiểu bùng nổ.
Hồ Tam Hiệp thiết kế phương án vận hành giữ nước trong xả bùn đục,
khiến mực nước khu hồ giao động dữ dội tới 30m giữa 145m mùa lũ và 175m mùa khô.
Tác động ngâm rồi hút nước lặp đi lặp lại quanh năm này đã gây ra phá hủy hủy diệt đối với kết cấu địa chất
vốn đã hết sức mong manh của hai bên bờ hồ, kích hoạt hàng vạn vụ sạt lở, sụp đổ và nứt đất.
Theo số liệu thống kê của các cơ quan liên quan, riêng thành phố Trùng Khánh lâu nay
thường xuyên duy trì khoảng 14.000 điểm nguy cơ địa chất,
trong đó khu hồ Tam Hiệp, Đông Bắc Du, Trùng Khánh chiếm tỷ lệ cực cao.
Ví dụ tại Quỳ Đường Hiệp nổi tiếng tồn tại nhiều khối đá nguy hiểm, siêu lớn, thể tích kinh người,
như khối đá treo miệng tổng thể tích trên 1 triệu mét khối.
Một khi những khối đá nguy hiểm này mất ổn định, rơi xuống sông dưới sức kéo giật lặp lại của mực nước,
không chỉ sẽ chặn hoàn toàn tuyến đường thủy vàng, trường rang mà sóng dâng khổng lồ cao hàng chục mét
do chúng lao xuống sông còn ráng đòn hủy diệt lên thị trấn ven sông, khu tháng cảnh và tàu thuyền qua lại.
Thảm họa địa chất khu hồ Tam Hiệp không những không lắng xuống sau khi công trình hoàn thành,
ngược lại còn trở thành rủi ro thường trực lớn nhất khu vực hiện nay.
Thứ tư, tiếng nói của khoa học lý tính bị gạt ra và bị xem nhẹ lâu dài trong quá trình ra quyết định.
Trong quá trình luận chứng kéo dài hàng chục năm của công trình Tam Hiệp,
một nhóm nhà khoa học có lương tâm đại diện là giáo sư Đại học Thanh Hoa Hoàng Vạn Lý
từng đưa ra ý kiến phản đối hết sức nghiêm khắc.
Hoàng Vạn Lý thông qua khảo sát thực địa chi tiết và tính toán thủy văn chỉ ra rằng
vật liệu tạo lòng sông chính phụ lưu, xuyên giang là sỏi lẫn cát thô.
Một khi đập cao Tam Hiệp được xây, nước đuôi hồ lên tới phía trên trùng cánh,
tốc độ dòng chảy giảm sẽ khiến cát thô và sỏi bồi lắng ô át ở đuôi hồ.
Lớp bồi ấy sẽ dần lan lên thượng nguồn, cuối cùng dâng cao lòng sông,
phá hủy các bình nguyên màu mỡ hai bờ, không chỉ phá hủy giao thông,
thủy lộ mà còn biến mất một phần bồn địa tứ xuyên thành đầm lầy.
Ông từng đau lòng tin đoán rằng diễn biến lòng sông do đập cao Tam Hiệp gây ra
trong môi trường địa lý tự nhiên sẽ là một đại họa kinh tế và sinh thái.
Thế nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, kiến giải độc lập dựa trên lương chi khoa học ấy,
không những không được tiếp thu mà bản thân hoàng vạn lý còn vì thế bị giám sát lâu dài.
Cuối cùng, vấn đề di dân cùng ô nhiễm sinh thái do công trình Tam Hiệp gây ra
còn lâu mới được khép lại.
Để xây hồ chứa, hàng triệu cư dân khu hồ chứa phải rời quê hương,
do thiếu hụt lớn kinh phí di dân, tham nhũng của một bộ phận,
quan chức cùng quy hoạch tái định cư xa rời thực tế.
Nhiều hộ di dân sau khi chuyển đi không những mất đất đai sinh kế,
mức sống sụt giảm rõ rệt mà còn lâu dài đối mặt cảnh tái định cư liên tục.
Đồng thời khi dân số khu hồ tiếp tục tăng và nước tải công nghiệp xả thẳng,
chất lượng nước chừng răng xấu đi, hiện tượng tào nở hoa xảy ra thường xuyên,
lượng lớn rác đáy hồ chưa được dọn sạch
cùng chất độc hại sau khi tích nước đã ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước.
Trước giới hạn sức chịu tải khu hồ ngày càng khắc nghiệt,
thậm chí có Viện Sĩ Viện Công Trình Trung Quốc đề xuất cần mất thêm 10 năm
tiến hành đại di dân sinh thái tới 5 triệu người tại khu hồ Tam Hiệp
để giảm phá hủy môi trường mong manh.
Bản thân đề xuất này đủ chứng tỏ luận điệu lạc quan năm xưa
rằng di dân không phải việc khó đã trống rộng đến mức nào,
đồng thời phê bày vết sẹo nặng nề mà công trình thế kỷ này
để lại trên phương diện sinh thái và xã hội.
Tóm lại, đập Tam Hiệp không chỉ luôn đối mặt với mối đe dọa đỉnh lũ vỡ đập,
vượt giới hạn, có thể chuyên tới từ vùng địa chất hoạt động Tây Nam,
mà những hiểm họa sâu xa của chính nó, về chất lượng công trình,
kích hoạt thảm họa địa chất, diễn biến bồi lắng vù sa,
cũng như môi trường sinh thái khu hồ xấu đi, cũng khiến người ta rùng mình.
Con đập khổng lồ chắn ngang đại động mạch của Trung Hoa này
tương lai át sẽ trở thành bóng tối khổng lồ, không tan biến
treo trên đầu hàng trăm triệu sinh linh.
Như tiên sinh Hoàng Vạn Lý đã dự đoán, kết cục cuối cùng của đập Tam Hiệp
chỉ có thể là bị phá bỏ.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi chương trình của chúng tôi.
Những góp ý của quý vị sẽ giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mỗi ngày.
Và các bạn cũng đừng quên theo dõi Khán Trung Quốc
trên 2 nền tảng Youtube và Kanchiwa.
Ánh Hồng và Khán Trung Quốc xin chân thành cảm ơn và hẹn gặp lại.
