Đứng Trước Mê Hoặc Của Phù Hoa Danh Lợi, Lương Tâm Liệu Có Bị Lấn Át Hoàn Toàn? | Sổ Tay Nhân Quả

Sống thuận tự nhiên
441 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Phạm ở chốn nhân gian, người ta thường tranh giành nhau từng thỏi bạc vụn, từng tất đất màu mỡ, lúc cha ông nhắm mắt xuôi tay.
Nhưng mấy ai thấu hiểu, di sản chân chính giúp hậu thế trùng hưng cơ nghiệp rốt cuộc là hòm trâu báu giấu kín, hay là sự thấu tỏ cơ trời giấu sau vẻ ngoài cản cối.
Câu chuyện về tình thâm bị rẻ rúng và sự xoay vần của tạo hóa tại trấn cảnh Đức năm ấy,
chính là lời cảnh tình đanh thép nhất cho những kẻ chỉ biết nhìn cái lợi trước mắt mà quên đi đảo nghĩa ở đời.
Bóng chiều ta ảm đạm phụ xuống ngõ hẹp trấn cảnh Đức, nơi vốn nổi danh thiên hạ với những lò gốm giựt lửa ngày đêm.
Nhưng hôm nay, không gian như đặc quánh lại bởi cái lạnh của tiết trời lập đông.
Lá ngô đồng dụng lả tả theo từng cơn gió bất bút xương, cuốn vòng trên những phiến đá xanh reo phong.
Tiếng quạ kêu xương khắc khoải từ dặn cây giả phía sau nghĩa trang vọng lại, nghe như tiếng xé rách không gian tĩnh mịt của ngôi miếu hoang đầu trấn.
Bên trong làn khói nhang nghi ngút hòa cùng hơi ẩm của đất trời, một cỗ quan tài gỗ mọng, loại gỗ rẻ tiền nhất dành cho kẻ hàn vi, đang nằm lạnh lẽo chờ giờ hạ huyệt.
Cơn mưa phùn bắt đầu dì giả buông xuống, thấm qua mái ngói nứt nẻ, nhỏ từng giọt đều đặn lên nắp quan tài của người thợ gỗ nghèo tên Tô Mộc.
Tô Uyển, cô nương 18 tuổi, dáng người gầy gò mảnh khạnh trong bộ đồ xô gai trắng muốt, đang quỳ sục bên cạnh linh cứu cha.
Đôi bàn tay nàng đỏ ứng vì lạnh, nhưng ánh mắt lại toát lên một sự kiên định lạ thường giữa nỗi đau mất mát quá lớn.
Nàng vừa hóa vàng mã, vừa thầm thì những lời tiễn biệt cha, cho đến khi một tiếng đập cửa dầm dầm cắt ngang bầu không khí từ khi ấy.
Cánh cửa miếu hoang bị đá văng, gió lạnh ùa vào làm tắt ngấm mấy ngọn nến le lói.
Tô Trọng, bá phụ của nàng, một thương lái buôn gốm sừng sọ với bộ lễ phục gấm vóc sang trọng, nhưng gương mặt đầy vẻ hung tàn, dẫn theo một đám gia đình hùng hổ bước vào.
Không một lời phân ưu, không một nén nhang cho người em ruột thịt vừa nằm xuống, Tô Trọng ném xoạch một tờ giấy đã ố vàng xuống nền đất ấm ướt, ngay trước mặt Tô Uyển.
Ông ta hất hàm, giọng nói khạn đặc và đầy sự tính toán.
Uyển Nhi, cha ngươi đi rồi, nợ nần thì vẫn còn đó.
Năm xưa khi hắn vai tiền ta để mua thuốc thang duy trì mảng sống lai lát, đã đem cả cơ nghiệp tổ tông ra thế chấp.
Đây là tờ khế ước vai nợ, có chữ ký và dấu tay của cha ngươi rõ ràng.
Nay ta đến không phải để đòi bạc, vì ta biết hạng nghèo hèn như cha con ngươi lấy đâu ra tiền.
Ta chỉ lấy lại mẫu ruộng phù sa ven sông để trừ nợ.
Khôn hồn thì giao khế đất ra đầy, bằng không, đừng trách ta không cho cái thây ma này được nhập vào phần mộ gia tộc.
Tô Uyển bàng hoảng, nàng ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn người bác ruột thịt.
Nàng biết, mẫu ruộng phù sa ấy là hy vọng sống duy nhất, là di vật cuối cùng mà người cha quá cố dặn lòng phải giữ lấy để nàng có trốn nương thần.
Nàng dập đầu xuống bùn lẩy, tiếng va chạm giữa trán và nền đá kêu lên khô khốc.
Bá phụ, cầu xin người nghĩ tình cốt nhục.
Cha con vừa nằm xuống, hơi ấm còn chưa tan hết, xin người cho ông ấy được mồ yên mã đẹp.
Mẫu ruộng đó là nguồn sống của con, xin người cho con khất nợ.
Con nguyện làm trâu làm ngựa cả đời để trả lại tiền cho người.
Xin người đừng lấy đi mảnh đất ấy vào lúc này.
Tô trọng nhách mép cười nhạt, một nụ cười đầy sự khinh rẻ đối với kẻ yếu thế.
Ông ta tiến lại gần, dùng mũi giày theo đen bóng hất tung bát hương đang nghi ngút khói trên bàn thờ tạm.
Mùi cho nhang bay mù mịt hòa lẫn với nước mưa tạo thành một cảnh tượng thê lương đến tột cùng.
Ông ta gầm lên, nghĩ tình cốt nhục.
Lúc cha ngươi mượn bạc của ta sao không nghĩ đến cánh nghèo của ta.
Hiện tại cửa hiệu làm ăn thua lỗ, ta cần mẫu ruộng đó để xoay sở.
Hạng nữ nhi ti tiện như ngươi, giữ ruộng tốt chỉ tổ làm mồi cho kẻ khác giòm ngó.
Giao ra, nói rồi, không đợi Tô Uyển kịp phản ứng.
Tô trọng ra hiệu cho đám gia đình xông vào lục xoát người nàng.
Chúng thô bạo ràng co, làm rách cả lớp áo sô gai mỏng manh.
Cuối cùng, một tên gia đình reo lên khi tìm thấy tờ khế đất giấu trong ống tay áo của nàng.
Tô trọng giật lấy.
Mắt sáng rực khi thấy dấu mộc đỏ xác nhận mẫu ruộng phù sa thượng hàng ven sông.
Ông ta cẩn thận cất tờ khế vào ngực áo rồi ném xuống đất một mảnh giấy rách nát khác.
Đó là khế ước của một ngọn đồi trọc toàn đá sỏi, nằm ở rìa trấn cảnh Đức,
nơi mà ngay cả cỏ dại cũng khó lòng mọc nổi.
Cầm lấy cái này.
Đây là mảnh đồi hoang của gia đình ta.
Nay ta ban cho ngươi để dựng lều mà cắm nhang cho cha ngươi.
Từ nay về sau, tô ra ân đoạn nghĩa tuyệt, sống chết mặc bay.
Đừng bao giờ vác mặt đến cửa hiệu của ta mà xin sọ.
Tô uyển ôm lấy mảnh giấy rách, nhìn theo bóng lưng khuất dần trong màn mưa của người bác ruột.
Nàng không khóc nữa, nước mắt đã cạn khô trước sự tàn nhẫn của nhân tầm.
Giữa tiếng mưa rơi tầm tã, nàng chỉ còn nghe thấy tiếng tim mình đập liên hồi trong lồng ngực gầy guộc.
Nàng nhìn vào linh cữu cha, rồi nhìn vào mảnh đồi hoang phế trên tay.
Sự bất công đã đẩy nàng vào đường cùng.
Nhưng chính trong khoảnh khắc tăm tối nhất đó, nàng nhớ lại lời trăng chối cuối cùng của cha mình
về chiếc hộp gỗ mộc mạc đặt dưới chân quan tải.
Đêm đó, trong ngôi miếu hoang lạnh lẽo, tô uyển thuê một chuyến xe bò rẻ tiền,
một mình lầm lũi kéo quan tải cha lên ngọn đồi đá hoang vù.
Gió bức dít lên qua những khe đá lởm trởm như tiếng than khóc của linh hồn.
Nàng dùng đôi bàn tay dưới máu, tự mình đào huyệt hạ táng cho cha dưới gốc
một cây cổ thụ khô héo trên đỉnh đồi.
Khi nấm màu đất đá được đắp xong, cũng là lúc bình minh mở ảo hiện ra.
Tô uyển ngồi bệt xuống đất, lôi chiếc hộp gỗ cũ kĩ mà cha để lại ra xem xét.
Chiếc hộp chẳng có lấy một đường chạm chỗ hoa văn, chỉ là gỗ thông rẻ tiền đá bạc màu.
Thế nhưng, khi nàng tình cờ chạm vào một nút thắt nhỏ ẩn sâu dưới đáy hộp,
một ngăn bí mật bật mở.
Bên trong không có vàng bạc, không có trâu báu,
chỉ có một mảnh khảm tre nhỏ khác những dòng chữ thanh mảnh
nhưng đầy tâm huyết của một người thợ gốm lão luyện.
Cát bụi không sinh trâu ngọc, nhưng ngọc ẩn trong đá tạng.
Đào sâu ba thước, thấy bạch thổ át cơ nghiệp trùng hưng, nàng bàng hoang nhận ra
đây không chỉ là một lời di trúc,
mà là một sự chỉ dẫn cuối cùng của người cha dành cho con gái.
Cha nàng vốn là thợ gốm tài hoa nhất vùng,
nhưng vì tính tình cương trực, không chịu luồn cúi,
nên mới bị kẻ xấu hãm hại dẫn đến cạnh nghèo khó.
Hóa ra, mạnh đồi chọc mà bá phụ khinh rẻ vứt bỏ
lại chứa đựng một bí mật mà cả trấn cạnh Đức này hàng ao ước.
Tô Uyển gạt nước mắt, nhặt lấy chiếc quốc chim cũ kĩ bên cạnh mồ cha.
Nàng nhìn xuống lớp đá dăm lợm trợm dưới chân mình,
đôi mắt bừng sáng một niềm tin mạnh liệt.
Nàng bắt đầu bổ những nhát quốc đầu tiên xuống lòng đất đá cằn cỗi,
bỏ mặt cái lạnh đang thấm vào xương tủy.
Nàng biết, từ hôm nay, cuộc đời nàng sẽ bước sang một trang mới,
nơi nhân quả sẽ bắt đầu vận hành theo cách mà không một kẻ tham lam nào có thể lường trước được.
Tiếng quốc va vào đá tảng, phát ra những âm thanh chát chúa,
vang vọng khắp ngọn đồi hoang vắng giữa màn xương sớm.
Đôi bàn tay vốn chỉ quen theo thủa, nay cầm lấy cán gỗ sần sùi,
lòng bàn tay Tô Uyển sớm đã rộp lên những nốt mũn nước đỏ rực,
rồi vỡ ra, máu dị hòa cùng bùn đất đen kịt.
Nàng không dừng lại.
Cứ mỗi nhát quốc bổ xuống, nàng lại lầm nhầm lời cha dặn như một lời chú bình an.
Một thước, hai thước, rồi đến thước thứ ba,
lưỡi quốc bỗng khựng lại, không còn tiếng chạm đá khô khốc,
mà là một cảm giác êm ái, mút lấy lưỡi sắt.
Tô Uyển dun dậy quỳ xuống, dùng móng tay cào cấu lớp đất đá lởm trộm phía trên.
Hiện ra dưới lớp vỏ sù si ấy là một vệt trắng mút,
mịn màng như mỡ đông, lóng lánh dưới ánh nắng nhạt nhòa của mùa đông.
Nàng bốc một nắm lên, xoa nhẹ giữa hai ngón tay.
Đồ kết dính tuyệt vời, không một chút tạp chất, sắc trắng tinh khiết đến nao lòng.
Đây chính là bạch thổ, loại cao lanh thượng hạng,
mà các bậc thầy làm gốm trong triều đình tìm kiếm bấy lâu nay
để nung ra loại xứ mỏng như tờ giấy, trong trẻo như ngọc thạch.
Nàng ôm nắm đất vào lòng, nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi má lấm lem.
Cha nàng không lừa nàng.
Ông đã dùng cả đời mình để quan sát mạch đất,
để giành lại cho con gái một kho báo
mà kẻ mắt trần thịt nhãn như Tô Trọng không bao giờ thấy được.
Trong khi đó, tại trấn cảnh Đức, Tô Trọng đang hả hê với chiến thắng của mình.
Ông ta đứng trên bờ mẫu ruộng phù sa ven sông,
tay chắp sau lưng, mắt nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy qua với vẻ đắc ý vô cùng.
Ông ta đã dồn toàn bộ số bạc trắng cuối cùng trong kho,
thậm chí vay mượn thêm từ các lái buôn khác để mua loại giống lúa quý từ phương Nam về gieo trồng.
Ông ta tính toán rằng, với độ màu mỡ của mảnh ruộng này,
chỉ cần một vụ mùa bội thu,
ông ta sẽ lấy lại tất cả những gì đã mất trong các vụ buôn gốm thất bại trước đó.
Mỗi khi đi ngang qua ngõ hẹp dẫn lên đồi hoang,
thấy bóng dáng gầy gò của Tô Uyển gánh những giò đất nặng trĩu đi xuống,
tô trọng lại rừng xe ngựa, vén dèm che hết hàm miệng mai.
Này cháu gái, có cần ta bố thí cho vài thỏi bạc vụn để mua quan tài cho chính mình không?
Đào bới cái đồi đá đó làm gì cho phí sức?
Hay là định đào huyệt sẵn để nằm cạnh cha ngươi?
Đúng là hạng người nghèo hèn, đầu óc cũng chỉ quần quanh với sỏi đá.
Đám gia đình đi theo cũng cười rộ lên, tiếng cười trói tai hỏa vào tiếng gió bắc.
Tô Uyển không đáp lời, nàng chỉ cúi đầu, đôi mắt nhìn chầm chầm vào mặt đất.
Bước chân vẫn vững trái, gánh giò đất đi thẳng về hướng thương điếm của Diệp Lão Bản,
một người nổi danh công tâm và chính trực trong giới buôn gốm.
Khi Tô Uyển đặt nắm đất trắng lên bàn gỗ của Diệp Lão Bản, cả gian phòng bỗng nhiên yên bật.
Lão Bản vốn là người điềm tĩnh, nay lại run dậy, cầm chiếc kính lúp lên soi xét.
Ông ta liếm nhẹ đầu ngón tay chạm vào mẫu đất, rồi thẳng thốt kêu lên,
Trời đất ơi, đây chính là tuyết trong đá mà Tổ sư truyền lại sao?
Cô nương, mảnh đất sinh ra thứ này nằm ở đâu?
Mau nói cho Lão Phu biết, Tô Uyển bình thản lấy ra tờ khế ước mảnh đồi đá trọc
có dấu mộc của quan phủ và chữ ký đoạn tuyệt của Tô Trọng.
Nàng kể lại toàn bộ sự việc, từ lúc cha mất đến khi bị bá phụ xua đuổi.
Diệp Lão bàn đập bàn đứng dậy, dâu tóc dự ngược vì phẫn nộ trước hành vi của Tô Trọng,
nhưng lại vô cùng cảm phục trí khí của cô gái nhỏ.
Tô Trọng đúng là có mắt không trọng, hắn cướp đi tất đất bề mặt,
nhưng lại vứt bỏ cả một mỏ vàng lộ thiên.
Cô nương, Lão Phu nguyện bỏ ra vạn lượng bạc để cùng cô khai thác mỏ đất này.
Cô giữ sáu phận, Lão Phu chỉ xin bốn phần để bao tiêu đầu ra cho triều đình.
Cô thấy sao? Tô Uyển khẽ gật đầu, một nụ cười nhẹ nhàng nở trên môi.
Bạn hợp đồng được ký kết ngay tại chỗ.
Chỉ trong vòng một tháng, ngọn đồi đá Hoàng Vu vốn là nơi bị người đời xa lánh bỗng chốc trở thành công trường nhộn nhịp.
Hàng trăm phu phen được thuê về để bóc tách lớp đá bên ngoài,
để lộ ra những vỉa cao lanh trắng, muốt chạy dài như dòng thiêng ẩn mình.
Trái ngược với sự hưng thịnh đăng lên như diều gặp gió của Tô Uyển,
tai họa bắt đầu ráng xuống đầu Tô Trọng.
Năm ấy, thời tiết chuyển biến bất thường.
Mưa lớn kéo dài từ thượng nguồn đổ về khiến dòng sông Cảnh Đức dâng cao đột ngột.
Một đêm cuối đông, tiếng gầm rú của dòng nước siết phá tan sự tĩnh mịt.
Đê vỡ, dòng nước hung hãn như một con quái vật bùn lầy,
không tràn vào phố thỉ mà lại dồn hết sức mạnh vào dài ruộng phù sa nằm sát mép sông
chính là mẫu ruộng mà Tô Trọng đã tốn bao công sức cướp đoạt.
Sáng hôm sau, khi nước rút đi, Tô Trọng hớt hải cháy ra ruộng.
Cảnh tượng trước mắt khiến lão ngá khụi xuống bùn.
Toàn bộ lúa giống quý giá vừa nảy mầm đã bị cuốn trôi không còn một dấu vết.
Tệ hơn nữa, dòng nước siết đã mang theo một lượng lớn cát sọi và bùn độc từ thượng nguồn đổ xuống,
biến mẫu ruộng màu mỡ ngày nào thành một bãi lầy hoang phế, nồng nặc mùi hôi thối.
Đất không còn canh tác được nữa, vốn liếng cũng tan thành mây khói theo dòng nước lũ.
Chưa dừng lại ở đó, các chủ nợ nghe tin Tô Trọng trắng tay đã dầm rộ kéo đến.
Họ không còn kiêng nể hay giữ lễ nghi như trước.
Những tờ giấy nợ bị ném vào mặt lão, đồ đạc trong nhà bị khuân đi sạch sẽ.
Tô Trọng đứng giữa sân nhà, nhìn cảnh tượng hoang tàn mà lòng đau như cắt.
Lão trợt nhớ đến lời mỉa mai mình từng dành cho Tô Uyển, nay tất cả đang ứng nghiệm lên chính bản thân lão.
Trong cơn tuyệt vọng, Tô Trọng nghe loáng thoáng người dân trong trấn bàn tán
về một nữ vương gốm xứ mới nổi, người đang sở hữu mỏ đất quý nhất thiên hạ và chuẩn bị cung cấp hàng cho cung đình.
Khi nghe đến cái tên Tô Uyển, lão bỗng thấy cổ họng mình đắng ngắt, một sự hối hận muộn màng bắt đầu nảy nở.
Nhưng đi kèm với nó vẫn là sự đố kỵ hèn hạ của một kẻ đã lún sâu vào bùn đen của lòng tham.
Trời đông trấn cảnh Đức năm ấy lạnh bút thấu xương, những bông tuyết đầu mùa bắt đầu lả tả rơi trên những mái ngói rêu phong.
Trái ngược với không khí tấp nập, khói tỏa, nghi ngút từ xưởng gốm mới khánh thành trên đỉnh đồi đá của Tô Uyển,
thì dưới chân cầu đá dẫn vào trấn một hình hài tàn tả đang co quóc bên vệ đường.
Đó chính là Tô Trọng.
Chỉ trong vòng chưa đầy một mùa trăng, toàn bộ gia sản của lão đã tan thành mây khói.
Mẫu ruộng phù sa bị nước lũ bồi lấp cát sỏi, không một ngọn cỏ nào mọc nổi, nợ nần răng lưới khiến lão bị tịch thu cả gia trạch.
Thân mang trọng bệnh sau đêm lội nước cứu lúa, chân tay lão xưng phủ, đôi mắt đục ngầu không còn vẻ hống hách năm nào.
Lão ngồi đó, tay bưng chiếc bát xứt xẹo, run dậy xin từng hạt cơm thừa của khách qua đường, tiếng giao của những người bán hàng gốm mới.
Sứ bạch thổ to ra, mỏng như giấy, sáng như gương, cứ như từng mũi kim đâm vào tim gan lão.
Lão hối hận, nhưng cái kiêu ngạo của kẻ từng làm chủ khiến lão chẳng dám ngần mặt nhìn ai.
Một chiều muộn, chiếc xe ngựa sang trọng phủ gấm xanh dừng lại ngay trước chỗ Tô Trọng đang nằm co quốc.
Đám gia nhân cung kính vén dẻm. Một nữ nhân khoác áo troàng lông cáo trắng muốt, khí chất thanh cao thoát tục bước xuống.
Đó chính là Tô Uyển. Ánh mắt nàng nhìn xuống người bá phụ đang run dậy dưới đất, không có sự thù hẳn, cũng chẳng có vẻ đắc thắng.
Nàng chỉ thấy một kẻ tội nghiệp đang bị chính lòng tham của mình nhấn chìm.
Tô Trọng nhận ra nàng, lão vội vá lấy vạt áo rách dưới che mặt, giọng nói theo thào trong gió lạnh.
Ngươi, ngươi đến để cười nhạo ta sao? Phải, ta là kẻ có mắt không trọng, ta cướp dụng tốt của cha ngươi để rồi nhận lấy bãi lẩy hoang phế.
Lão thiên gia có mắt, thật là quả báo. Tô Uyển lặng lẽ nhìn dòng người qua lại, rồi ra hiệu cho người hầu bưng ra một bát cháo thịt bốc khói nghi ngút và một tấm thẻ gỗ thông bình dị.
Nàng đặt tấm thẻ vào bàn tay gầy guộc của láo, điềm nhiên nói, bá phụ, ruộng sâu hóa bùn lẩy, đồi trọc xinh vàng ngọc, đó không phải là ý trời treo ngươi mà là tâm người xoay chuyển.
Cha con năm xưa nhờ người ruộng tốt vì tình thân, người cướp đoạt vì lòng tham.
Nay mỏ đất quý đã hồi sinh cơ nghiệp tô gia, còn không dùng sự oán hận để đáp trả sự bạc béo.
Nàng dừng lại một chút, giọng nói trầm ấm nhưng vang vọng, tấm thẻ gỗ này là vị trí phu quét dọn tại sườn đất trên đồi.
Người hãy dùng đôi tay mình để làm lụng, dùng mồ hôi để rửa trôi lỗi lầm năm cũ, đồi đá này tuy cảng cỗi nhưng nuôi sống kẻ biết phục thiện.
Đường sống vẫn còn đó, chỉ là người có cam tâm cuối đầu để sửa sai hay không mà thôi.
Nói rồi, Tô Uyển quay lưng bước lên xe, để lại tô trọng bưng bát cháo nóng mà hai hàng nước mắt tuôn rơi hòa cùng những bông tuyết lạnh buốt.
Láo ô mặt khóc nấc lên giữa phố thị đông người, một tiếng khóc xé lòng vì ân hận và tụi nhục của cài ở đời.
Thứ đập vào mắt phàm phu tục tử thường chỉ là cái lợi trước mắt, nhưng tài sản chân quý nhất lại đòi hỏi sự kiên nhẫn và đôi mắt thấu tỏ nhân tâm.
Kẻ hám lợi cạn tàu ráo mãng, cướp đoạt mồ hôi nước mắt của cốt nhục, rốt cuộc cũng bị chính lòng tham nhấn chìm trong biển nước.
Còn người giữ trọn đảo hiếu, chịu thương chịu khó vươn lên từ nghịch cảnh.
Dẫu trong tay chỉ có sỏi đá cằn cối, ông trời át sẽ cho đá nở hoa, biến bần hàn thành cơ nghiệp vững bền ngàn đời.
Nhân quả không ở đâu xa, nó nằm ngay trong từng hơi thở và sự lựa chọn của mỗi con người.
Câu chuyện Túi gấm trong đêm cuồng phòng
Giữa vinh hoa phú quý bất ngờ ập đến và lương chi thanh sạch của một kiếp người, ranh giới ấy mỏng manh tựa khói xương hay nặng nể như ngàn vạn tảng đá đè nặng tâm can.
Mỗi một hành động ta làm hôm nay, dù là thiện niệm nhỏ nhoi hay một thoáng tham lam ích kỷ, đều là những hạt giống được reo xuống mạnh đất của định mệnh.
Người đời thường chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà quên mất rằng, lưới trời lồng lộng thưa mà chẳng lọt.
Câu chuyện về gã tiểu phu Lâm Thủ Nghĩa chính là một minh chứng đanh thép cho chân lý.
Của Phi Nghĩa không bao giờ có thể mang lại sự bình yên trường cựu.
Và cái giá phải trả cho một lần quay lưng với lương chi đôi khi chính là cả một đời chìm trong hối hận.
Một buổi chiều ta nhuộm đỏ cả vùng quan ải phía bắc.
Gió thu thổi dàn dạt qua những cánh đồng khô héo, cuốn theo lớp bụi vàng mờ mịt lên không trung, tạo thành những vòng xoáy hư ảo.
Ánh hoàng hôn như một vệt son đỏ thấm động lại trên ngọn cây cô độc.
Giữa bình nguyên bao la, báo hiệu một sự đổi thay khắc nghiệt sắp dáng xuống phận người.
Trong cái không gian u trầm ấy, Lâm Thủ Nghĩa đang oàn mình, gánh đôi củi nặng trên vai.
Hắn bước đi nặng nề, đôi giày cỏ đã rách nát lộ ra những ngón chân thô giáp, chai sần vì sương gió.
Gương mặt hắn xạm đi vì nắng cháy, nhưng đôi mắt lại ánh lên một vẻ ưu ớt, bất mãn khôn ngôi với cái nghèo đeo bám truyền đời.
Thủ Nghĩa vốn là một gá tiểu phu hiếu thảo, cả đời sống trong căn nhà tranh rột nát ven sườn núi với thân mẫu già yếu quanh năm đau bệnh.
Tiếng ho khan của mẹ hắn mỗi đêm như những nhát búa gõ vào lòng tự ái của một kẻ nam nhi không thể lo cho người thân một bữa cơm no, một thang thuốc quý.
Hắn ghét cái thân phận hàn vi này, ghét những ánh nhìn khinh khi của đám phú ra trong trấn mỗi khi hắn gánh củi ngang qua.
Lòng hắn luôn nung nấu một khát khao đổi đời, một cơ hội để thoát khỏi kiếp buồn đen tăm tối.
Bầu trời bỗng chốc sầm xì, mây đen từ đâu kéo về che lấp cả chút ánh sáng ưu ớt còn sót lại của ngày tàn.
Một cơn dông tố bớt trợt nổi lên, gió dít qua những khe đá tạo thành những âm thanh rùng rợn.
Thủ nghĩa vội vã tìm chỗ trú chân dưới một vách đá nhô ra.
Mưa bắt đầu rơi, từng hạt nặng chịu quất vào mặt đầu giáp.
Trong ánh chớp lué lên xé toạc màn đêm, hắn trợt thấy một vật gì đó lấp lánh nằm vướng bên bụi gai khô ven đường.
Tò mò, hắn tiến lại gần và nhặt lên một chiếc túi gấm theo hoa tinh xảo.
Cầm chiếc túi nặng trịch trong tay, tim thủ nghĩa đập liên hội.
Hắn run dậy mở sợi dây thừng lụa và rồi đôi mắt hắn dại đi trước những gì đang hiện ra.
Những thỏi vàng dòng vàng ống và hàng chục lạng bạc trắng tinh khôi lấp lánh dưới ánh chớp.
Hắn chưa bao giờ thấy nhiều tiền đến thế trong đời.
Cả đời hắn gánh củi có lẽ cũng không bằng một thỏi vàng nhỏ trong này.
Đầu óc hắn quay cuồng, hơi thở trở nên dồn dập.
Hắn nhìn quanh quất, bốn bề chỉ có tiếng mưa rơi và tiếng gió gạo thét, không một bóng người.
Lương tâm trong hắn khẽ lên tiếng, bảo rằng túi tiền này chắc hẳn là của một lữ khách nào đó vừa đánh rơi.
Người ta hẳn đang rất tuyệt vọng.
Nhưng ngay lập tức, hình ảnh thân mẫu đang nằm co quắp trên chiếc giường tre.
Tiếng ho xé ruột xé gan và cảnh căn nhà ruột nát hiện lên xóa tan chút lương chi vừa nhẹ nhóm.
Hắn tự huyễn hoặc mình bằng những lý lẽ ích kỷ.
Đây chắc chắn là lộc trời ban cho ta.
Trời thấy ta khổ cực, thấy mẹ ta bệnh tật nên mới thương xót mà ban cho số vàng này.
Nếu không lấy, chẳng phải là phụ lòng trời xanh sao.
Với số tiền này, mẹ ta sẽ có thuốc tốt, ta sẽ có cơ nghiệp, sẽ không còn ai dám khinh rẻ nhà họ lâm nữa.
Hắn xiết chặt túi gấm vào ngực áo, cảm nhận cái lạnh của kim loại nhưng trong lòng lại nóng rực một ngọn lửa tham lam.
Hắn không hề hay biết rằng, ngay lúc đó, cách vách đá không xa, có một người đang tuyệt vọng tìm kiếm vật báu này.
Đó là Lão Bá Họ Trần, một thương nhân hiền lành từ phương xa tới.
Lão Trần đã dành cả đời tích góp, bán đi cả gia sản, chỉ để có đủ số tiền này về chuộc lại hiệu thuốc gia truyền
và cứu đứa con trai duy nhất đang lâm trọng bệnh, vốn là một thầy thuốc tài hoa nhưng lại mắc phải trứng nàn y.
Đối với Lão Trần, chiếc túi gấm ấy không chỉ là tiền bạc mà là sinh mạng, là hy vọng cuối cùng của cả một gia tộc.
Sáng hôm sau, khi mưa đã tạnh và nắng sớm bắt đầu chiếu xuống trấn nhỏ, không khí vẫn còn được mùi đất ẩm.
Lâm Thủ Nghĩa khoác lên mình bộ áo dài bằng vải thô sạch sẽ nhất, hắn bước vào quán rượu trung tâm trấn với dáng vẻ khác hẳn mọi ngày.
Hắn gọi một bình rượu ngon và vài món nhắm thị soạn, điều mà trước đây hắn chỉ dám mơ ước.
Hắn ngồi đó, thả nhiên nhấm nháp vị cay nồng của rượu, tận hưởng cảm giác của một kẻ có tiền.
Thế nhưng, sự yên ổn của hắn chẳng kéo dài được lâu.
Từ phía đường lớn, một âm thanh náo động truyền vào.
Lão bá họ trần, quần áo lấm len bùn đất, gương mặt hốc hác, đôi mắt đỏ hue vì thức trắng đêm đang quỳ sụp xuống giữa đường lầy lội.
Lão dập đầu xuống đất đến chảy máu, tiếng khóc than vang vọng cả một góc phố.
Có vị đại nhân nào, có người hào tâm nào nhặt được chiếc túi gấm theo hoa của lão không?
Trong đó là tiền cứu mạng con trai lão, là tất cả hy vọng của nhà họ trần.
Xin hãy rủ lòng thương trả lại.
Lão xin nguyện làm trâu làm ngựa cả đời để báo đáp.
Mọi người xung quanh chỉ biết lắc đầu thương cảm.
Chẳng ai biết túi tiền ở đâu.
Thủ nghĩa ngồi trong quán.
Bàn tay hắn đang cầm chén rượu bỗng run lên bần bật.
Hắn nhìn thấy lão trần qua khe cửa sổ, thấy cái đầu bạc phơ đang dập xuống bùn đen,
nghe thấy tiếng văn nài thạm thiết.
Tim hắn thắt lại.
Một cảm giác tội lỗi dâng trào.
Nhưng rồi, khi tay hắn chạm vào khối vàng giấu trong ngực áo,
sự ích kỷ lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Hắn nghĩ về những thang thuốc quý.
Về một ngôi nhà khang trang.
Hắn vội vã quay mặt đi chỗ khác,
cố nuốt chén rượu đắng chát vào cổ họng để át đi tiếng khóc ngoài kia.
Hắn tự nhủ.
Lão ta già rồi, mất tiền thì thôi,
còn ta còn trẻ, ta cần số tiền này để đổi đời.
Chắc là ý trời muốn lão mất để ta được nhận.
Sự vô minh và tham niệm đã hoàn toàn che mở thiên tính của một con người.
Thù Nghĩa không biết rằng,
cái quay đầu tàn nhẫn ấy của hắn đã đặt dấu chấm hết cho một sinh mệnh,
và cũng là lúc bánh xe nhân quả bắt đầu quay,
nghiền nát đi mọi phúc báo mà hắn vốn có.
Lão Trần sau một ngày dòng giã cầu xin trong vô vọng,
cuối cùng ngá quỵ vì kiệt sức và đau đớn ngay giữa chợ.
Tiếng kêu cứu của lão liệm dần trong sự thờ ơ của thời gian
chỉ còn lại những vệt máu khô trên nền đất đá.
Nghĩa lén lút rời khỏi quán rượu bằng lối sau.
Hắn bắt đầu dùng số tiền phi nghĩa đó để thực hiện kế hoạch của mình.
Đầu tiên, hắn đến hiệu thuốc lớn nhất vùng,
mua loại nhân sâm nghìn năm và những vị thuốc đại bổ đắt giá nhất để mang về cho mẹ.
Hắn thuê thợ về sửa sang lại căn nhà tranh,
biến nó thành một ngôi nhà gỗ vững chãi nhất vùng ven núi.
Hắn còn mua thêm ruộng đất, thuê người làm, bắt đầu gia gián một ông chủ nhỏ.
Thế nhưng, trong lòng hắn không lúc nào được yên.
Mỗi khi đêm về, gió thổi qua khe cửa.
Hắn lại nghe như có tiếng khóc của lão trần vang vọng,
tiếng dập đầu lập cọc trên mặt đất đá.
Hắn trở nên đa nghi, luôn ám ảnh có kẻ theo dõi mình,
luôn lo sợ bí mật về chiếc túi gấm bị bại lộ.
Sự giàu sang bất ngờ không mang lại nụ cười,
mà chỉ mang đến cho hắn đôi mắt vần đục và một tâm hồn luôn nơm nớp lo âu.
Cơ nghiệp của lâm thủ nghĩa bắt đầu phất lên như diều gặp gió.
Nhưng cái nền móng xây trên sự đau khổ của người khác,
vốn dĩ đã mục ruộng từ bên trong.
Ngôi nhà mới của hắn nằm tách biệt phía chân núi, tường cao cổng kín.
Bên trong bầy biện đủ thứ sập gụ tù trẻ,
những bức bình phong khạm xà cử ống ánh.
Thủ nghĩa giờ đây không còn khoác lên mình bộ áo vải thô sờn rách.
Hắn diện những bộ gấm vóc lụa lạ, tay cầm quạt giấy,
dáng vẻ bệ vệ như một viên quan tải chức.
Thế nhưng, đằng sau vẻ hào nhoáng ấy,
là một tâm hồn luôn bị sâu xé bởi sự hoảng loạn.
Hắn cho người canh gác cổng rất nghiêm ngặt.
Bất cứ ai đi ngang qua nhìn vào,
hắn cũng nghi ngờ đó là kẻ trộm
hoặc là hồn ma bóng quế của láo bá họ trần đến đòi nở.
Hắn không bao giờ dám ra ngoài vào đêm tối,
bởi mỗi khi bóng tối phủ xuống,
tiếng gió giít qua khe cửa gỗ lại nghe như tiếng khóc than,
tiếng dập đầu lọc cọc trên mặt đất của người thương nhân năm cũ.
Thủ nghĩa dốc toàn lực để chữa trị cho thân mẫu.
Hắn tin rằng chỉ cần có nhiều vàng,
hắn có thể mua được cả mạng sống từ tay riêng vương.
Hắn vung tiền không tiếc tay, mời những gã thầy lang danh tiếng nhất vùng.
Mua những hộp nhân xâm,
linh chi được bọc trong vải gấm sang trọng.
Mỗi ngày, mùi thuốc sắc nồng nặc lan tỏa khắp gian nhà.
Hắn tự tay bưng những bát thuốc đen ngòm,
nghi ngút khói đến bên giường mẹ.
Cung kính thưa rằng đây là thuốc tiên, thuốc quý.
Bà cụ nhìn đứa con trai đột nhiên giàu có,
nhìn ngôi nhà xa hoa mà lòng không khỏi bất an.
Bà thường nắm lấy bàn tay múc míp vì ăn sung mặc sướng của Nghĩa
mà hỏi bằng giọng run dẩy rằng tiền bạc ở đâu ra,
liệu có phải là thứ tiền trong sạch hay không.
Những lúc ấy, Nghĩa chỉ cười gượng gạo,
bảo bà cứ yên tâm tịnh dưỡng,
rằng đây là lộc trời sau bao năm hắn vất vả cực nhọc.
Thế nhưng, một sự thật nghiệt ngã mà Nghĩa không hề hay biết,
đó là sự biến mất của nhà họ Trần
đã gây ra một lỗ hồng lớn trong giới y dược của Trấn nhỏ này.
Hiệu thuốc của Lão Trần vốn nổi tiếng là nơi duy nhất nhập được loại tuyết sơn thảo,
vị thuốc đặc trị chứng bệnh phổi mà mẹ Nghĩa đang mắc phải.
Kể từ khi Lão Trần mất sạch gia sản,
hiệu thuốc bị niêm phong,
con trai Lão, vị lương y tài đức duy nhất biết cách bào chế loại dược liệu này,
đã chút hơi thở cuối cùng trong sự nghèo túng và bệnh tật
vì không có tiền chạy chữa.
Những kẻ gian thương trong vùng chớp lấy thời cơ
bắt đầu tung ra những loại thuốc giả,
thuốc kém chất lượng để trục lợi
từ những kẻ giàu sang mới nổi như Thủ Nghĩa.
Chén thuốc mà Thủ Nghĩa cho mẹ uống hàng ngày,
trông thì đen đặc,
mùi vị thì nồng đậm,
nhưng thực chất chỉ là dễ cây khô tẩm nước màu
và một chút thảo mộc rẻ tiền.
Càng uống,
bệnh tình của bà cụ càng không thuyên giảm,
mà còn có dấu hiệu trầm trọng hơn.
Sắc mặt bà từ xanh sao chuyển sang tái xám.
Những cơn ho không còn đơn thuần là tiếng khóc khô khóc
mà bắt đầu kèm theo những vệt máu tươi thấm đỏ
cả vạt áo gấm.
Thủ Nghĩa cuốn cuồng,
hắn lại vung thêm vàng,
lại mời thêm thầy,
nhưng tất cả đều lắc đầu ngao ngán.
Một gã thầy lang giả
sau khi nhận của hắn một thỏi vàng lớn
đã ghé tai hắn nói nhỏ rằng
nếu như còn hiệu thuốc nhà họ trần,
nếu như vị thiếu chủ nhà đó còn sống,
thì chỉ cần ba thang thuốc là bà cụ có thể bình phục.
Nhưng giờ đây,
cả trấn này chẳng còn ai tìm được
tuyết sơn thảo chân chính nữa.
Nghe đến đó,
Thủ Nghĩa như bị một tia xét đánh ngang tai.
Hắn ngồi thẫn thở giữa gian phòng khách lộng lấy,
đôi tay run dẩy,
đánh rơi cả trén trả quý.
Sự thật cay đắng hiện rõ trước mắt.
Chính bàn tay hắn,
vì lòng tham không đáy,
đã gián tiếp bức tử
người thầy thuốc duy nhất
có thể cứu mạng mẹ mình.
Hắn đã cướp đi hy vọng của người khác,
để rồi giờ đây,
chính hắn lại rơi vào tuyệt vọng không lối thoát.
Vàng bạc mà hắn hằng khao khát,
giờ đây chỉ là những thỏi kim loại lạnh lẽo,
không thể đổi lấy một hơi thở bình yên
cho người mẹ già.
Hắn bắt đầu cảm nhận được sức nặng
của cái gọi là quả báo.
Nó không đến bằng những đòn roi hữu hình,
mà nó gặm nhấm tâm can hắn
bằng sự hối hận muộn màng
và sự trớ treo của định mệnh.
Trong một đêm,
mưa gió báo bùng không kém gì cái đêm,
hắn nhặt được túi gấm năm xưa.
Mẹ Nghĩa bỗng nhiên tỉnh lại
sau nhiều ngày hôn mê.
Bà nhìn con trai bằng ánh mắt đục ngầu,
chan đầy nỗi xót xa
và cả sự thấu thị của một người
sắp đi vào cõi vĩnh hẳng.
Bà nắm chặt tay Nghĩa,
hơi thở đứt quáng,
theo thảo hỏi một câu khiến hắn chết lặng.
Nghĩa nhì, tiền này.
Ở đâu ra mà đắng chát vậy con?
Mẹ uống thuốc mua bằng vàng của con,
mà sao mẹ thấy như đang uống nước mắt
của ai đó,
như đang nuốt vào lòng nỗi oan khiên
của kẻ khác.
Nói đoạn,
bà nức lên một tiếng dài
rồi chút hơi thở cuối cùng.
Đôi mắt vẫn mở trừng trừng
như đang nhìn vào khoảng không vô định,
nơi có những bóng ma
của tội lỗi đang rình dập.
Tiếng khóc của Thủ Nghĩa vang vọng
trong ngôi nhà rộng lớn,
nhưng cô độc.
Hắn ôm lấy xác mẹ,
gào thét trong đau đớn,
nhưng xung quanh hắn chỉ là sự yên lặng
đến đáng sợ của những bức tường gỗ vô chi.
Hắn trợt nhận ra,
sự giàu sang này
thực chất là một nhà tù không song sắt
mà hắn tự xây nên
để nhốt mình vào.
Hắn đã đánh đổi tình thâm,
đánh đổi lương chi
để lấy về một đống vật chất phù phiếm,
để rồi cuối cùng,
hắn chẳng còn lại gì
ngoài sự cô độc
và tội lỗi chất chồng.
Cái chết của mẹ Nghĩa
mới chỉ là khởi đầu
của sự sụp đổ.
Đám lưu manh,
cô độ trong vùng từ lâu
đã đánh hơi thấy
sự giàu có bất thường
và đơn độc của hắn.
Chúng biết hắn không có chỗ dựa,
lại luôn sống trong sự hoảng loạn.
Đa nghi,
nên đã bắt đầu
lên kế hoạch chiếm đoạt.
Những kẻ trước đây
tung hô hắn là ông chủ lâm,
giờ đây quay lại nhìn hắn
bằng ánh mắt của những con sói đói.
Thù Nghĩa càng cố giữ lấy của cải,
càng cố xiết chặt túi tiền,
thì sự nguy hiểm càng cận kể.
Hắn nằm trong nhà,
tay luôn cầm một vật nhọn
để phòng thân,
không dám ngủ quên
dù chỉ một khắc.
Mắt lúc nào cũng lão liên
nhìn ra phía cổng.
Tâm trí hắn đã hoàn toàn loạn lạc.
Hắn bắt đầu nhìn thấy
hình bóng lão bá họ trần,
hiện về trong mỗi góc tối của căn nhà.
Miệng lầm bẩm
đòi lại túi gấm theo hòa.
Sự chớ treo của nhân quả là ở chỗ.
Người ta thường gieo nhân trong sự âm thầm,
nhưng lại gạt quả
trong sự bẽ bàng
giữa thanh thiên bạch nhật.
Lâm Thù Nghĩa
đã dùng sự mất mát của người khác
để làm bàn đạp
cho sự vinh hoa của mình,
thì giờ đây
chính sự vinh hoa ấy
lại trở thành mồi lửa
thiêu dụi cuộc đời hắn.
Hắn đứng giữa cơ nghiệp đồ sổ,
nhưng lòng trống rỗng.
Mỗi bước đi trên sàn gỗ bóng loáng lại
như bước trên những mũi kim
đâm vào da thịt.
Hắn muốn quay lại thời hẳn vi,
muốn được gánh củi đồ mồ hôi,
nhưng tối về được kê cao gối ngủ yên bên mẹ,
nhưng tất cả đã quá muộn mạng.
Dòng sông thời gian không bao giờ chảy ngược,
và những gì đã mất đi bởi lòng tham
thì không bao giờ có thể dùng vàng bạc
mà chuộc lại được.
Một đêm không trăng,
khi sương mờ bao phủ đặc quánh
lấy ngôi nhà gỗ cô độc,
đám lưu manh trong vùng đã kéo đến.
Chúng không cần lời lẽ,
chỉ có tiếng chân rồn dập
và những ánh mắt giựt lửa tham tàn.
Thủ nghĩa đang chìm trong cơn mê sảng
về tiếng khóc của mẹ,
thì cửa nhà bị tông sập.
Hắn hốt hoàng vùng dậy,
tay vơ lấy túi gấm vàng ròng
giấu dưới gối,
miệng lắp bắp van xin
hãy để cho hắn yên,
nhưng đám cướp chỉ đáp lại
bằng tiếng cười sang sặc.
Trong cơn hỗn loạn,
một ngọn đuốc bị ném vào dèm lụa.
Lửa nhanh chóng bùng lên,
liếm chọn lấy những cột gỗ quý
mà hắn dùng tiền phi nghĩa để dựng nền.
Khói đen cuộn cuộn bốc lên,
che khuất cả lối thoát.
Thủ nghĩa thay vì chạy thoát thân,
hắn lại điên cuồng lao vào đống đổ nát
để tìm lại những thỏi vàng đang rơi vãi.
Ngay lúc đó,
một tiếng rắc khô khóc vang lên,
thanh xa nhà bốc cháy ngùn ngụt sập xuống
để nghiến lấy đôi chân của hắn.
Tiếng gào thét đau đớn,
bị nuốt trựng
bởi tiếng lửa reo
và tiếng đổ vỡ của một cơ nghiệp xây trên cát.
Sáng hôm sau,
khi cho tàn còn bốc khói âm ỉ,
người dân trong trấn thấy một gái đàn ông tơi tả,
đôi chân nát bấy,
đang cố lê lết ra khỏi đống đổ nát.
Lâm Thủ Nghĩa không chết,
nhưng hắn đã mất tất cả.
Số vàng hắn trách chiêu từ nước mắt kẻ khác
đã bị đám lưu manh cuỗm sạch
hoặc bị lửa nung chảy lẫn vào trong đất đá.
Hắn trở về đúng với thân phận hàn vi,
nhưng lần này còn thảm hại hơn gấp bội.
Nhiều năm sau đó,
tại đúng cái góc chợ nơi lão bá họ Trần
từng dập đầu văn xin,
người ta thấy một kẻ hành khất tàn phế,
khuôn mặt biến dạng vì bỏng,
đôi mắt luôn đỡ đẫn nhìn về phía hư không.
Mỗi khi thấy ai đó đánh rơi vật gì,
hắn không còn tham lam lao đến,
mà lại run dậy co rúng người lại
như nhìn thấy một loài quỷ dữ.
Hắn nhận ra rằng
túi gấm năm xưa không phải là lọc trời,
mà là một chiếc xiềng xích vô hình
kéo hắn xuống tận cùng của địa ngục Trần Gian.
Trên đời này,
tiền bạc không do mồ hôi nước mắt làm ra,
ấy là mượn của tương lai,
là vay của phúc đức.
Của rơi không phải là lọc,
mà đôi khi là phép thử của trời xanh
để xem lòng người nông sâu.
Một chút tham niệm nhất thời
có thể đổi lấy vinh hoa trước mắt,
nhưng lại phải trả bằng cả một đời dằn vật
và sự lụi bại của gia môn.
Vật phi nghĩa chứa nên tham lấy,
lấy của người thì quả báo theo thân.
Luật nhân quả vốn chẳng sai chạy một ly,
gieo nhân tham ắt gặt quả khổ.
Vất mát của kẻ khác làm niềm vui cho mình,
thực chất là đang tự đào hố trôn
đi phúc báo của chính bản thân và con cháu sau này.
Sống ở đời,
chỉ có bàn tay cần mẫn và tấm lòng ngay thẳng
mới gây dựng được cơ nghiệp bền lâu.
Một tâm niệm thiện lành hơn vạn lạng vàng dòng,
một hành động chính trực
vượt xa nghìn trùng phú quý.
