Chuyện Nhân Quả: Nghèo Khó Vẫn Giữ Trọn Đạo Với Nghề, Cuối Cùng Rạng Danh Gia Tộc

Sống thuận tự nhiên
438 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThe narrative explores the profound laws of karma and the strength of the human spirit through two contrasting stories: the triumph of the virtuous incense maker Lý Tùng over the greedy Vương Đức, and the heartbreaking sacrifice of Tạ Nương, a mother driven to madness by the loss of her heroic sons. Both tales emphasize that compassion and integrity lead to peace, while cruelty and greed result in ruin.
Người ta hay nói trời cao có mắt, nhưng ít ai biết rằng mắt trời đôi khi nhắm lại rất lâu,
chỉ để nhìn thật rõ từng vệt đen tối trong tâm can kẻ ác trước khi ráng xuống đòn phán xét cuối cùng.
Giữa cõi nhân sinh mịt mở, những kẻ buông bỏ lương chi để chạy theo vinh hoa phú quý,
thường cười nhạo những người nghèo khổ bám víu lấy đạo nghĩa.
Thế nhưng, thời gian mới là vị quan tòa công bằng nhất.
Không bỏ sót một ai, không thiên vị một kẻ nào.
Tiết trời đương độ vào cuối thù, gió bức thổi về mang theo cái lạnh thấu xương,
giít gào qua những mái ngói rêu phong sập sệ của vùng bẩn dân.
Trong một căn nhà tranh vách đất tồi tàn nằm khuất sâu nơi cuối hẻm,
ánh đèn dầu leo lét dọi lên những nếp nhăn hẳn sâu sự thống khổ trên gương mặt của Láo Lý.
Láo nằm trên chiếc giường tre cũ kĩ, từng tiếng ho khô khốc vang lên xé toạc màn đêm,
kéo theo những giọt máu đỏ sẫm vương vái trên tấm chăn đắp chấp vá.
Bên cạnh Láo, Lý Tùng người con trai duy nhất của dòng họ Lý,
đôi mắt đỏ ngầu, quỳ dạp xuống nền đất lạnh léo,
hai tay run dày nắm chặt lấy bàn tay gầy gỏ, lạnh ngắt như cành củi khô của cha mình.
Lý Tùng dập đầu xuống đất, nước mắt tuôn rơi dã rời, giọng nói nghẹn đắng.
Cha ơi, con xin cha, bệnh của cha đã nặng lắm rồi,
trong nhà chẳng còn lấy một hạt gạo, thuốc thang cũng cạn kiệt.
Tiệm hương liệu của Vương Đức ngoài phố lớn ngày ngày chèn ép,
hương trầm của nhà ta làm ra không bán được cho ai.
Hay là, hay là chúng ta dẹp bỏ cái lò hương này đi cha,
giao lại công thức gia truyền cho Vương Đức để đổi lấy 10 nén bạc.
Có tiền, con sẽ mời đại phu bốc thuốc cứu cha, mạng sống của cha mới là quan trọng.
Cái nghề mọn này giữ lại để làm gì khi nó chỉ mang lại sự đói khổ và út ức.
Nghe những lời cạn nghĩ của con trai, Láo Lý bỗng nhiên mở bừng đôi mắt đục ngầu,
đôi mắt vốn dĩ mệt mỏi trợt lóe lên một tia phẫn nộ tột cùng.
Láo gồng hết tàn lực, vung tay tát mạnh vào mặt Lý Tùng.
Cú tát không đủ đau về thể xác, nhưng lại như một nhát dao đâm thẳng vào tâm hồn người con trai hiếu thảo.
Láo Lý thở dốc, lồng ngực phậm phòng kịch liệt, chỉ tay thẳng vào mặt Lý Tùng mà mắng.
Đồ nghịch tử, nghề làm hương của Lý gia ta truyền qua ba đời.
Lấy cái tâm thanh tịnh mà luyện hương, lấy cốt cách người quân tử mà tỏa mùi thơm cho đời.
Tên xuất sinh vương đức kia lòng lang dạ thú, dùng tà tâm làm hương độc hại, bán rẻ lương tâm để vơ vét tiền tài.
Con muốn giao tâm huyết của Tổ tiên cho kẻ ác đó trả đạp sao?
Dù ta có chết đói, chết bệnh, con cũng không được bước ra khỏi cánh cửa này để nộp mình cho kẻ thù.
Nếu con dám bỏ nghề, Lý gia này coi như tuyệt tử, ta xuống suối vàng cũng không nhắm mắt.
Lý Tùng ôm lấy lồng ngực đau nhói, nuốt ngược những giọt nước mắt chát đắng vào trong.
Chàng cắn chặt môi đến bật máu, quỳ dập đầu ba cái thật sâu xuống nền đất lạnh gật đầu thề nguyện.
Chàng không dám nói thêm nửa lời, đành đứng lên bước ra sau bếp,
bắt đầu nhóm lại bếp lò nguội ngắt, tiếp tục giã những nhánh thảo mộc cuối cùng.
Vương đức vốn dĩ không phải là người xa lạ.
Mười năm về trước, gã từng là một cô nhi chết rét bên đường,
được lão Lý mang về cưu mang, truyền dạy từng chút kiến thức về cách chọn trầm, ủ hương, pha chế thảo mộc.
Thế nhưng, vương đức bản tính tham lam, tâm thuật bất chính.
Gã lên lút đánh cắp một phần cuốn trục ghi chép bí phương làm hương của Lý ra, rồi bỏ trốn giữa đêm mưa gió.
Vài năm sau, gã trở về trấn tay khê trong bộ dạng của một phú thương giàu có,
lập nên đức tài hương quán uy nghi nhất trấn.
Gã dùng tiền bạc đút lót quan lại, kết giao với bọn cường hào ác bá,
từ đó độc chiếm toàn bộ nguồn nguyên liệu thảo mộc trong vùng.
Gã chế ra những loại hương rẻ tiền, tẩm ướp khóa chất nồng nặc để lừa bịp thiên hạ,
nhưng lại thu về lợi nhuận khổng lồ.
Điều duy nhất khiến vương đức ăn ngủ không yên chính là
thiên y hương bí phương tối thượng mà lão Lý vẫn luôn giấu kín,
không hề ghi chép trong cuốn trục mà gã đã trộm.
Để chiếm đoạt bí phương này, gã không từ một thủ đoạn đê hèn nào
để dồn ép cha con Lý Tùng vào con đường tuyệt lộ.
Gã tung tin đồn thất thiệt khắp các làng xã,
Gã sai bọn du côn chặn đường những khách quen của gia đình,
đánh đập dọa nạt để không một ai dám bén mảng đến mua hương của Lý Tùng nữa.
Một buổi sáng bút giá, Lý Tùng gánh đôi quang gánh chứa những bó hương trầm
được làm cẩn thận, tỉ mỉ từ những giọt mồ hôi và nước mắt của mình ra chợ trấn tay khê.
Chàng chỉ mong bán được vài bó để mua bát cháo loãng cho người cha đang thoi thóp ở nhà.
Nhưng chàng vừa hạ gánh xuống,
Vương Đức đã dẫn theo bốn tên gia đình mặt mày bậm trợn bước tới.
Gã mặc chiếc áo troàng lông cáo xa hoa,
tay mân mê chiếc nhẫn ngọc bích sáng bóng,
khóe môi nhách lên một nụ cười khinh bỉ đến tột độ.
Chật chật, xem ai đây?
Thiếu gia nhà họ Lý lưng lẫy một thời,
nay lại phải mang đống củi mục này ra chợ lừa người sao?
Vương Đức cất giọng mỉa mai,
cố tình nói thật to để cả khu chợ chú ý.
Gã bước tới, dùng mũi dày theo kim tuyến đá mạnh vào quang gánh của Lý Tùng,
làm những bó hương văng tung tué ra nền đất bẩn thiệu.
Lý Tùng sót xa lao đến ôm lấy những bó hương,
giọng run lên vì tức giận.
Vương Đức, cha tôi cư mang anh, dạy dô anh,
anh không báo ân thì thôi, cỡ sao lại muốn ép chúng tôi vào chỗ chết?
Ông trời có mắt, anh làm ác ác sẽ có ngày báo ứng.
Báo ứng?
Vương Đức cười giống lên,
tiếng cười của gã vang vọng khắp khu chợ, đầy vẻ ngạo mạn.
Kẻ có tiền như ta mới là trời.
Cả cái trấn tây khê này,
ai dám mua hương của mày nếu tao không cho phép?
Tao nói cho mày biết,
nếu mày không mang bí phương thiên y hương đến quỳ lại dưới chân tao,
tao sẽ khiến cha con mày chết một xương trong cái ổ chuột đó.
Nói rồi, gã hất hàm ra hiệu.
Bốn tên gia đình lao tới,
vùng gậy gọc đập nát bét đôi quang gánh,
dẫm đạp lên những bó hương tơi bởi.
Chúng còn súng lại đấm đá Lý Tùng tàn nhẫn,
khiến chàng ngã gục xuống vũng bùn lầy,
khỏe miệng rỉ máu tươi.
Xung quanh, những người dân nghèo sót thương cho chàng,
nhưng tất cả đều lặng thinh.
Không một ai dám đứng ra can ngăn
vì sợ uy thế của tên phú thương độc ác.
Lý Tùng cố gắng gượng dậy,
ôm lấy ngực đau nhói.
Ánh mắt chàng nhìn Vương Đức không còn sự yếu đuối,
mà cháy lên một ngọn lửa út hận tột cùng.
Nhưng chàng đành cắn răng chịu nhục.
Lê từng bước chân nặng chĩu,
quay về nhà trong cơn mưa lạnh giả dích.
Đêm hôm đó, bão lớn ập đến trấn Tây Khe.
Gió giật tung mái tranh lụp sụp.
Lão Lý không vượt qua nổi cơn bạo bệnh
và sự lạnh léo nhiệt ngá.
Lão chút hơi thở cuối cùng trên tay Lý Tùng.
Đôi mắt vẫn mở to đao đáo
về chiếc lò luyện hương ở góc nhà.
Đám tang của Láo diễn ra trong sự hưu quạnh tột cùng.
Không kèn, không trống, không một vòng hoa,
cũng chẳng có lấy một người hàng xóm nào dám đến viếng
vì lệnh cấm đoán tàn nhẫn của Vương Đức.
Chỉ có Lý Tùng một mình đổi mưa, đào huyệt,
trôn cất người cha thân yêu bên vách núi sau làng Lạc Thủy.
Chàng thanh niên đứng trước nấm mổ đất mới đắp,
nước mắt hòa lẫn nước mưa tuôn rơi dòng giã.
Chàng thấy mình vô dụng, bất hiếu, không bảo vệ được cha.
Lại chẳng có cách nào chống lại quyền lực hắc ám của Vương Đức.
Những ý nghĩ buông xuôi bắt đầu gặp nhấm tâm trí chàng.
Nhưng chính lúc chàng định đập nát chiếc khuôn đúc hương bằng gỗ,
khắc hình hoa sen, kỳ vật duy nhất cha để lại
chàng bỗng phát hiện ra một điều kỳ lạ.
Chiếc khuôn gỗ nặng trịch khi rơi xuống nền đá không vỡ tung
mà nứt ra một đường rãnh nhỏ mỏng manh ở phần đáy.
Lý Tùng vội vàng lao nước mắt,
cẩn thận dùng dao nhỏ cậy nắp đáy khuôn gỗ ra.
Bên trong là một cuộn da cừu ố vàng,
ghi chép chẳng trịt những dòng chữ viết tay bằng máu đã khô của tổ tiên họ Lý.
Đó không phải là bí phương bình thường,
mà là cốt tủy của thiên y hương,
bí mật mà Vương Đức thèm khát cả đời cũng không chạm tới được.
Đọc kỹ từng dòng chữ, Lý Tùng bàng hoàng nhận ra
thiên y hương không phải dùng để ngửi cho thơm phỏng,
mà là một loại dược hương có khả năng thanh tẩy uế khí,
chấn an tâm trí và đẩy lùi ôn dịch.
Hơn thế nữa, để làm ra loại hương này,
không cần những nguyên liệu đắt tiền xa hoa như trầm kỳ nam hay xạ hương ma quái,
mà chỉ cần dễ cây ngải cứu mọc trên vách đá xương giá,
hòa quyện với xương mai trên lá trúc.
Và điều quan trọng nhất phải được xấy bằng nhiệt độ
từ những tàn than hoa cùi xam đun bằng ngọn lửa
của sự kiên nhẫn tột cùng và tấm lòng trong sạch.
Như người đi trong đêm tối chợt thấy ánh đuốc dạng người,
Lý Tùng gạt đi những giọt nước mắt bi lụy.
Chàng đứng thẳng người dậy, ánh mắt toát lên sự kiên định không gì lay chuyển nổi.
Chàng tự nhủ với lòng mình sẽ không gục ngá,
sẽ dùng chính nghề mọn mà Vương Đức chê bai
để đòi lại công lý cho người cha quá cố.
Kể từ đêm đó, ban ngày Lý Tùng đóng cửa thêm cải dạ vờ ốm đau.
Ban đêm chàng một mình treo lên những vách đá treo leo nguy hiểm nhất
của dặn núi phía sau Phủ Giang Nam để tìm kiếm rễ cây ngải cứu hoang dã.
Chàng chắc chiêu từng giọt xương mai,
tỉ mẩn giã nát từng nhành lá trong bóng tối.
Mười ngón tay chàng dướm máu, đôi mắt trũng sâu vì thiếu ngủ,
nhưng chưa một giây phút nào chàng cho phép mình bỏ cuộc.
Thấm thoát nửa năm trôi qua.
Mùa hè năm đó, một cơn dịch bệnh kỳ lạ bùng phát dữ dội tại Trấn Tây Khê
và lan rộng ra khắp huyện Bình Nguyên.
Người mắc bệnh ho hen tức ngực, tinh thần hoảng loạn.
Đêm ngủ gặp ác mộng liên miên.
Tri huyện đại nhân vô cùng lo lắng.
Hạ lệnh gián cáo thị khắp nơi,
hứa trọng thưởng ngàn vàng cho ai có cách xua đuổi dịch bệnh,
làm thanh sạch không khí trong toàn phủ.
Vương Đức nhìn thấy cơ hội ngàn năm,
có một đề phất lên làm kẻ giàu nhất phương Nam.
Gã lôi kéo tất cả thợ thuyền,
vơ vét sạch các loại thảo dược kém chất lượng,
trộn lẫn với diêm tiêu, lưu hủy
và các loại hóa chất tạo mùi rẻ tiền
để sản xuất ra một loại hương giả danh Hồi sinh hương.
Gã quảng cáo dâm rộ rằng
loại hương này có thể đuổi tạ khí,
chữa bách bệnh.
Vì quá tuyệt vọng,
dân chúng đổ xô đi mua,
tranh giành nhau từng nén hương từ đức tài hương quán với giá cắt cổ.
Thế nhưng, bi kịch ập đến.
Những gia đình đốt Hồi sinh hương của Vương Đức,
không những bệnh tình không thuyên giảm,
mà mùi hóa chất nồng nặc cháy khét
càng khiến người bệnh khó thở hơn,
út nghẹn mà chết nhanh hơn.
Làn khói đen xỉ,
hắc yến từ hàng ngàn nén hương kém chất lượng bay lên,
bao phủ cả trấn tây khê trong bầu không khí ngột ngạt,
tăng tóc.
Khi tiếng oán thán của bá tánh lên thấu tận trời xanh,
thì từ trong căn nhà tranh tồi tàn của họ Lý,
một làn khói trắng, mỏng manh,
dịu nhẹ bắt đầu len lõi bay ra.
Đó không phải là mùi thơm nồng nặc,
gắt gỏng của vinh hoa,
mà là một mùi hương thanh tao,
sâu thậm,
mang hơi thở của đất trời,
của xương đêm và rễ cọ sinh linh.
Mùi hương ấy lan tỏa đến đầu,
khói đen độc hại của Vương Đức bị sua tan đến đó.
Những người bệnh đang nằm thoi thóp người thấy mùi hương này,
bỗng cảm thấy lòng ngực nhẹ bẫng,
cơn ho giảm giận,
tinh thần bừng tỉnh như vừa trải qua một giấc ngủ dài bình yên.
Dân chúng kinh ngạc đổ xô ra đường,
men theo làn khói thanh khiết ấy tìm đến trước cổng nhà Lý Tùng.
Cánh cửa gỗ ọc ẹp mở ra.
Lý Tùng bước ra,
vóc dáng gầy gỏ nhưng phong thái đĩnh đạc, hiên ngang.
Chàng ôm trên tay một lãng hương trầm màu gỗ mộc mạc,
phân phát miễn phí cho tất cả mọi người.
Chàng rõ rạc nói,
đây là thiên y hương của gia tộc họ Lý chúng tôi.
Hương này sinh ra từ tâm,
không bán lấy tiền,
chỉ để cứu người,
giải trừ ách nạn.
Tin tức lan truyền nhanh như gió.
Chi huyện đại nhân Đích Thân ngồi kiệu đến tận nơi,
trải nghiệm sự kỳ diệu của thiên y hương.
Ngài lập tức hạ lệnh thu hồi toàn bộ số hương độc hại của Vương Đức,
đồng thời tống giam gá vào Đại Lao
vì tội sản xuất đồ giả,
mưu sát bá tánh để trục lợi.
Thế nhưng, Vương Đức vốn xảo quyệt.
Gá đút lót toàn bộ gia sản cho những viên quang tham trong nhà môn,
xin được thả ra trong đêm,
để quay về tẩu tán tài sản,
nhằm cao chạy xa bay.
Ngồi trong sưởng hương khổng lồ của mình,
Vương Đức điên cuồng gom vàng bạc châu báu.
Nhưng sự đố kỵ và lòng tham không đáy
vẫn khiến tâm trí gá mờ mịt.
Gá nhìn hàng ngàn thùng hóa chất,
diêm tiêu và lưu hình đang chất đống trong sưởng,
rồi gá nhìn về phía ánh sáng phát ra
từ căn nhà tranh của Lý Tùng nơi cuối phố.
Một ý nghi ác độc đến rợn người lóe lên.
Gá cầm ngọn đuốc,
định lẹn trong đêm đến đốt rụi nhà Lý Tùng
để thiêu chết chàng,
hủy diệt hoàn toàn thiên y hương trên cõi đời này.
Nhưng lưới trời lồng lộng, thừa mà khó lọt.
Khi Vương Đức vừa cầm ngọn đuốc bước ra cửa sưởng,
một cơn gió bấc dữ dội từ đâu thổi tới.
Gió quật mạnh,
khiến tàn lửa từ ngọn đuốc bay ngược vào trong,
rơi thẳng xuống thùng lưu hình không đậy nắp
mà gã dùng để chế hương giả.
Một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên,
xé toạc màn đêm tĩnh mịch của Trấn Tây Khê.
Ngọn lửa bùng lên dữ dội,
hung hãn như một con ác thú đói khát,
nuốt chừng toàn bộ đức tài hương quán chỉ trong nháy mắt.
Hàng ngàn thùng hóa chất bén lửa nổ tung
tạo thành một biển lửa rực sáng cả góc trời.
Vương Đức,
kẻ một đời dùng hóa chất độc hại để lừa gạt,
bức ép người lành,
nay bị chính biển lửa hóa chất ấy thiêu đốt.
Gã gào thét trong tuyệt vọng,
cố gắng bò ra khỏi biển lửa.
Nhưng những đống gỗ liêm chạm trổ xa hoa rơi xuống,
đè nát đôi chân gá.
Dân làng đứng nhìn từ xa,
không ai dám lao vào cứu kẻ ác nhân đang phải đền tội.
Đến khi bình minh ló dạng,
đức tài hương quán hung mạnh ngày nào
chỉ còn là một đống cho tàn đen kịt,
vùi lấp cả kẻ tham lam ôm mộng bá vương.
Trận hòa hoạn kết thúc cuộc đời tội lỗi của Vương Đức,
đồng thời cũng quét sạch mầm mống tà độc khỏi trấn tay khe.
Dân chúng thở vào nhẹ nhõm,
ai nấy đều thầm cảm tà ơn trên đã tỏ gió uy linh,
trừng phạt kẻ ác nhân.
Riêng với Lý Tùng,
chàng không hề tỏ ra đắc ý hay cao ngạo
trước sự diệt vong của kẻ thù.
Chàng vẫn giữ nếp sống giản dị,
ngày ngày trong bộ áo vải thô,
lặng lẽ say bột, giá lá,
tỉ mỉ đúc từng nén thiên y hương.
Nhờ tài năng và phẩm hạnh cao quý,
danh tiếng của Lý Tùng ngày càng vang xa.
Chẳng mấy chốc,
thiên y hương được đưa vào kinh thành,
trở thành cống phẩm ngự dụng trốn Hoàng Cung.
Lý Tùng vươn lên trở thành một huyền thoại trong giới hương liệu,
nhưng chàng dùng toàn bộ tài sản kiếm được
để xây dựng y quán, phát gạo cứu đói,
giúp đỡ những người bần hàn cơ cực.
Bảng hiệu Lý Gia Dược Hương treo trước nhà
trở thành biểu tượng của lòng nhân tử và đạo đức trường tổn.
Cổ nhân từng dạy,
thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
cao phi viễn tẩu giã nan tàng,
nghĩa là làm việc thiện hay ác cuối cùng đều có quả báo,
dù bay cao chạy xa cũng khó lòng trốn tránh.
Vương Đức dùng thủ đoạn đê hèn,
cha đạp lên luân thường đạo lý để thu nhặt hư vinh,
cuối cùng vinh hoa hóa thành cho bụi,
bản thân phải chịu cảnh nghiệp khỏa thiêu thân.
Còn Lý Tùng, dù nếm trải muôn vàn tủi nhục,
đớn đau vẫn cắn răng giữ trọn đạo hiếu
và lương tâm nghề nghiệp cuối cùng cũng được trời cao đền đáp,
kiến tạo nên một di sản lưu truyền muôn thủa.
Đời người tựa như một nén hương,
khi đốt lên, kẻ tà tâm sẽ tỏa ra khói độc làm hại chính mình,
còn người thiện lương sẽ để lại mùi thơm ngát cho nhân gian.
Sống ở đời, liệu khi đứng trước tiền tài danh vọng,
mới ai dám giữ cho mình một tấm lòng trong sạch,
kiên trung không đổi rời.
Câu chuyện Tình Thâm Quan Sơn
Giữa tiếng gió rít qua kẹ lá giả nùa,
liệu có ai thấu được nỗi đau của một thân mẫu,
dùng cả sự biên giải để giữ lấy linh hồn những đứa con đã tan vào các bụi quan sờn?
Hay chăng nhân thế chỉ thấy một kẻ tàn phế mà buông lời rẻ rúng?
Hoàng hôn buông xuống một vùng quê nghèo sắc sơ,
vì binh đao loạn lạc nơi biên viễn,
sương mù răng kín những dặng che giả bao quanh ngôi làng hẻo lánh.
Gió bất thổi hung hút qua cánh đồng hoang lạnh léo,
nơi một gốc tùng cổ thụ đứng trơ trọi như một pho tượng đá nghìn năm giữa đất trời bao la.
Dưới gốc cây ấy, túc lèo tranh rách nát hiện lên tiêu điều giữa làn khói chiều nhạt nhòa,
vương vất mùi ẩm mốc và sự ưu tịch đến gai người.
Tiếng quả kêu tao tát trên những cảnh cây khô khốc,
càng làm cho không gian thêm phần thê lương,
như thế nơi đây đã bị thời gian và lòng người lãng quên từ lâu lắm.
Trong bóng tối chập choảng, một dáng hình gầy guộc,
y phục rách nát vá viếu nghìn lớp đang ngồi co ro bên đống lửa tàn.
Đó là Lâm Tạ Nương.
Người mà dân làng vẫn quen gọi bằng cái tên đầy miệt thị là Bà Hạt.
Mái tóc nàng đã bạc trắng như xương muối,
xóa xuống đôi vai gầy, guộc run dậy theo từng cơn gió lạnh.
Đôi mắt nàng đục mở, không còn nhìn rõ sự đời.
Nhưng đôi bàn tay xương sầu ấy lại luôn ôm khư khư hai thanh gỗ mục đã nhãn thín vào lòng.
Nàng lầm bầm những lời vô nghĩa, khi thì cười nhạt nhéo,
khi lại thút thích như một đứa trẻ lạc lối.
Ngoan nào, Đại Hùng, Trọng Dũng, hai con ngủ đi,
gió lạnh lắm để mẫu thân che cho.
Tiếng nói theo thảo của nàng bị lấn át bởi tiếng cười đùa chói tai từ phía xa.
Một nhóm trẻ nhỏ, dẫn đầu là Minh Nhi và Hàn Nhi,
đang cầm trên tay những viên đá cụi và những cành cây khô,
tiến về phía túc lều với vẻ mặt đầy sự đắc thắng của kẻ mạnh.
Đối với chúng, việc treo chọc mụ phù thủy ăn thịt người
là một trò tiêu khiển không thể thiếu mỗi buổi chiều tả.
Này, mụ điên, hôm nay hai đứa con bằng gỗ của mụ có đói không?
Để chúng ta cho chúng ăn đá nhé.
Minh Nhi hét lớn, vừa dứt lời đã vung tay ném mạnh một viên đá về phía tạ nương.
Viên đá sượt qua trán nàng, để lại một vết dách dớm máu đỏ tươi trên làn da nhăn nhèo.
Nhưng lạ thay, tạ nương không hề kêu đau, cũng không hề phản kháng để bảo vệ bản thân.
Phản ứng duy nhất của nàng là cuốn cuồng xoay người lại,
lấy tấm lưng trần che chắn cho hai thanh gỗ một trong lòng, miệng ú ớ cầu xin trong nghẹn ngào.
Xin các vị, làm ơn đừng làm đau con tôi.
Chúng còn nhỏ, chúng sợ đau lắm.
Cầu xin các vị hãy đánh tôi đây này.
Đừng đụng vào các con tôi.
Hàn Nhi cười ngặt ngẽo, tiến lại gần hơn, dùng cành cây chọc vào vai tạ nương, đồ điên.
Đó chỉ là hai khúc củi thôi mà.
Con mụ có mắt như mụ, cả làng này ai chẳng bảo mụ là điểm xấu.
Có mụ ở đây, lúa ngô chẳng xanh, trâu bò chẳng béo.
Mau cút đi cho khuất mắt bọn ta.
Sự vô minh của những đứa trẻ vốn được nuôi dưỡng từ định kiến của người lớn.
Dân làng mỗi khi đi ngang qua túc lều này đều không quên nhổ một bãi nước bọt
hoặc ra giấu xua đuổi như gặp phải thứ ma só, vận hạn.
Họ đâu biết rằng dưới lớp áo dách dưới và vẻ ngoài điên dại kia là một tâm hồn đã nát tan vì đại nghĩa.
Đúng lúc Minh Nhi định nhặt một hòn đá lớn hơn để kết thúc trò chơi quái ác.
Một giọng nói trầm ấm nhưng uy nghiêm vang lên từ phía sau.
Dừng tay lại.
Các con đang làm gì vậy?
Đám trẻ giật mình quay lại.
Thấy tô lão phù nhân đang đứng đó, tay trống gậy trúc, đôi mắt hiền tử nhưng chứa đựng sự nghiêm nghị khiến kẻ đối diện phải kiêng rẻ.
Bà là người có uy tín nhất vùng, vốn thấu triệt sự đời và luôn sống theo đạo lý nhân quả.
Minh Nhi lúng túng, cúi đầu lý nhí.
Bà nội, tụi con chỉ đang đuổi mụ phù thủy này đi thôi.
Mẹ con bảo mụ là kẻ mang đến xuôi sẹo cho cả chấn.
Tô lão phù nhân thở dài, bà tiến lại gần tả nương, khom lưng nhặt một mảnh áo rách rơi dưới đất rồi nhẹ nhàng đắp lên đôi vai đang run dẩy của người phụ nữ tội nghiệp.
Bà quay sang nhìn đám trẻ, giọng buồn giàu.
Các con nói nàng là phù thủy, là vận hạn sao?
Hỡi thế gian, có ai lại rẻ dúng người đã dâng hiến cả máu xương của gia tộc cho bình yên của các con hôm nay không?
Các con chỉ thấy hai thanh gỗ mục, nhưng có bao giờ các con tự hỏi, tại sao một người mẹ lại yêu thương những khúc gỗ ấy hơn cả mạng sống của mình?
Minh Nhi và Hàn Nhi ngơ ngác nhìn nhau.
Trong tâm trí non nớt của chúng, bà Hạt chỉ là một kẻ điên khùng, bẩn thiểu.
Tô lão phù nhân khẽ chạm vào vết thương trên chán tả nương, rồi bắt đầu kể.
Giọng bà như đưa mọi người trở về mười mấy năm trước, cái thời mà vùng đất này chưa bị tàn phá bởi khói lửa.
Ngày ấy, Lâm tạ nương là mỹ nhân lừng lẫy khắp vùng, không chỉ bởi dung mạo hoa nhường nguyệt thẹn, mà còn bởi tấm lòng trung trinh, thủ tiết thờ trọng.
Chồng nàng chẳng may lâm bệnh qua đời sớm, một mình nàng hàn vi nuôi dưỡng hai đứa con sinh đôi là Đại Hùng và Trọng Dũng.
Hai đứa trẻ ấy, dưới bàn tay chăm sóc của người mẹ hiền, đã lớn lên như hai cây tùng kiêu hãnh, văn võ song toàn.
Khi giặc phương Bắc tràn sang biên giới, tiếng chống tổng quân vang lên khắp nẹo đường quan lộ.
Đại Hùng và Trọng Dũng, vì nợ nước thù nhà, đã quỳ xuống trước mặt thân mẫu để xin lên đường ra trận.
Tạ nương rù ruột đau như cắt, nhưng vẫn tự tay may áo bảo, tiễn con ra tận chân đèo.
Nàng hứa với các con rằng, chừng nào các con chưa về, mẫu thân vẫn sẽ đợi ở góc tùng này.
Cửa phủ luôn mở, cơm dẻo luôn trở, nhưng chiến trường là nơi một đi không trở lại.
Vạn lý quan sơn xa xôi, một ngày nọ, tờ giấy báo tử gửi về, nhuộm đỏ cả một góc trời tang tóc.
Cả hai người con của nàng đều đã tử trận trong cùng một ngày để bảo vệ cương thổ, giữ cho ngôi làng này không bị san phẳng dưới móng ngựa quân thủ.
Thi thể của họ bị vùi lấp dưới lớp tuyết lạnh lẽo, chẳng thể tìm thấy cốt nhục để mang về quê cha đất tổ.
Kể từ ngày ấy, tâm trí tạ nương vỡ vụn.
Nàng không tin, hay nói đúng hơn là không dám tin rằng hai đứa con hiếu thảo của mình đã lìa xa nhân thế.
Nàng xé nát giấy báo tử, dọn ra ở góc tùm cổ thủ vì sợ rằng nếu mình ở trong phủ, các con về không thấy mẹ đứng đợi ở nơi đã hẹn sẽ cảm thấy tủi thần.
Nàng tự tay đéo hai thanh gỗ mục, khắc tên con mình lên đó rồi ôm chặt vào lòng, coi đó như máu mũ bằng xương bằng thịt.
Tổ lão phu nhân nhìn Minh Nhi và Hà Nhi, giọng bà lạc đi.
Các con nhìn xem, người mà các con vừa ném đá, chính là thân mẫu của những anh hùng đã ngã xuống để các con có cơm ăn, áo mặc và được vui chơi như hôm nay.
Sự điên dại của nàng là sự tận cùng của nỗi đau, là cái giá của sự trung trinh và lòng ái quốc.
Vậy mà nhân thế lại trả ơn nàng bằng sự khinh khi và những lần roi vô tình sao.
Minh Nhi nghe đến đây, bàn tay đang nắm chặt hòn đá bỗng lòng dần, rơi xuống mặt đất.
Một cảm giác tội lỗi len lõi vào tim đứa trẻ, khiến nó thấy cổ họng nghẹn đắng.
Ánh mắt nó nhìn về phía tạ nương giờ đây không còn sự diễu cợt, mà là một sự bàng hoàng đầy sót xa.
Nàng vẫn ngồi đó, yên lặng, dùng vạn áo rách lau vết máu trên chán.
Rồi lại tiếp tục hát ru cho hai thanh gỗ mục, tiếng hát lạc đi trong gió chiều u út.
Đêm mùa đông ở vùng biên viễn như một con quái thú khổng lồ, nuốt trừng vạn vật vào bóng tối đặc quánh và cái lạnh thấu xương tụy.
Gió giít qua những khe liếp của túc lèo tranh, tạo nên những âm thanh dên dỉ như tiếng oan hồn đang ai oán giữa cánh đồng hoàng.
Minh Nhi và Hàn Nhi, sau khi nghe câu chuyện từ bà nội, lòng dạ không sao yên ổn.
Lò mò sen lẫn một chút, hối hận muộn màng thôi thúc hai đứa trẻ lén lút rời khỏi giường, băng qua con đường đất xình lẩy để tìm đến gốc tùng cổ thủ.
Chúng nấp sau bụi dứa dại già nua, nơi lá sắc như lưỡi kiếm cứa vào da thịt,
nhưng sự sợ hãi ban chiều giờ đã nhường chỗ cho một nỗi ám ảnh kỳ lạ về mụ điên mà chúng vẫn thường hành hạ.
Dưới ánh trăng mờ đục bị mây đen che khuất một nửa, túc lèo của tạ nương hiện lên như một nấm mổ hoang.
Một đốm lửa nhò nhòi, leo lét như sắp tản lụi trong gió bấc là thứ duy nhất sửa ấm không gian ưu tịch này.
Mình nhì nín thở, đôi mắt nó căng ra để nhìn xuyên qua những kẽ hở của vách nứa rách nát.
Bên trong, tạ nương đang quỳ sụp dưới đất, đôi bàn tay gầy cuộc run dậy đang bày biện thứ gì đó lên một chiếc trỏng tre siêu vẹo.
Trên mặt trỏng là ba chiếc bát sứt sẹo, một thứ cơm trắng hiếm hoi mà nàng vừa xin được từ nhà chùa lúc chiều
được nàng xới ra một cách nâng niu, cẩn trọng.
Đại Hùng, Trọng Dũng, hai con về rồi sao? Đường xá xa xôi, chắc các con mỏi mệt lắm.
Giọng tạ nương khẳng đặc, nhưng trong đó lại chứa đựng một niềm vui sướng điên dại, khiến người nghe phải lạnh sống lưng.
Hai đứa trẻ đứng sau bụi cây lặng yên như tờ, chúng thấy nàng bắt đầu thực hiện một nghi lễ kỳ lạ.
Nàng xới hai bát cơm thật đầy, nén thật chặt, rồi dùng đôi đũa cả cung kính đặt lên trên.
Còn bát cơm thứ ba cũng là bát của nàng, chỉ còn lại vài hạt cơm dính đáy, loáng thoáng vài nhúm muối vừng đen nhẹm, tạ nương không ăn.
Nàng cứ ngồi đó, ánh mắt đục mờ bỗng trở nên sáng giựt một cách kỳ dị khi nhìn vào khoảng không trước mặt,
nơi mà nàng tin rằng hai đứa con trai oai phong lẫm liệt của mình đang ngồi đó.
Đại Hùng, con ăn đi, đây là gạo mới nhà chùa cho đấy.
Mẫu thân biết con thích ăn cơm dẻo nên đã để dành từ sáng đến giờ.
Trọng Dũng, con đừng nhường anh, ăn thêm miếng muối vừng này cho đậm đà.
Ở nơi quan ải gió xương, làm gì có được bữa cơm nóng như thế này, phải không các con?
Nàng vừa nói, vừa dùng đôi tay sương sẩu sửa lại cổ áo, cho không khí, hành động nhẹ nhàng,
ân cần như thể nàng đang chạm vào lớp chiến bào của những vị tướng trẻ.
Sự đối lập giữa thực tại nhiệt ngá, một người đàn bà điên rải, đói khát trong túc lèo nát,
và thế giới ảo ảnh đầy tình thương của nàng tạo nên một khung cảnh tang thương đến xé lỏng.
Tình mẫu tử của nàng đã vượt qua ranh giới giữa sự sống và cái chết.
Giữa thực và hư, biến hai thanh gỗ vô chi trở thành linh hồn sống động.
Bỗng nhiên, một cơn gió mạnh tràn vào, làm ngọn lửa nhỏ bùng lên rồi tắt lịm.
Bóng tối bao trùm lấy tất cả.
Trong bóng tối ấy, tiếng khóc nghẹn ngào của tạ nương văng lên.
Không phải tiếng khóc của một kẻ điên, mà là tiếng nức cụt của một người mẹ đang tận cùng đau khổ.
Các con ơi!
Bao giờ thì giặc tan?
Bao giờ các con mới thực sự bước qua cánh cửa kia để ôm lấy mẫu thân?
Mẫu thân sợ lắm.
Sợ một ngày mình không còn sức để đứng đợi ở góc tùng này nữa.
Sợ các con về mà không thấy lửa ấm, không thấy cơm ngon.
Nàng gục đầu xuống hai thanh gỗ mục, đôi vai gầy dung lên bần bật.
Ở phía ngoài, mình nhi cảm thấy lòng ngược mình thắt lại.
Những viên đá mà nó ném vào nàng chiều nay như đang ném ngược lại vào chính trái tim nó.
Đau đớn và nhức nhối.
Nó nhớ lại lời kể của bà nội về việc tạ nương từng là một người mẹ hiền đức thế nào.
Về việc hai người con của nàng đã hy sinh ra sao.
Sự vô minh của nó.
Sự độc ác của đám trẻ trong trấn bấy lâu nay.
Bỗng chốc hiện hình như một tội ác không thể dung thứ.
Đúng lúc đó, một bóng người cao lớn bước đến gần túc lều.
Đó là gá đồ tệ trong trấn.
Một kẻ vốn thô lỗ và luôn coi tạ nương là cái gai trong mắt
vì cho rằng sự hiện diện của nàng làm ám quẻ việc làm ăn của gá.
Hắn cầm một chiếc gậy gỗ lớn.
Miệng lầm bầm chửi rùa.
Mụ điên kia.
Đêm hôm khuya khoắt cứ lầm bầm cái gì mà như gọi hồn vậy.
Làm ta không tài nào ngủ yên được.
Mau biến khỏi góc tùng này.
Nếu không, ta sẽ đốt sạch cái túc lều rách này của mụ.
Gá đồ tệ không đợi tạ nương trả lời.
Hắn vung gậy hất tung chiếc trõng tre.
Ba bát cơm trắng.
Niềm hy vọng và tình yêu duy nhất của người mẹ tội nghiệp.
Rơi xuống đất.
Văng tung tué trong bùn lẩy.
Tạ nương hốt hoảng.
Nàng không mang đến sự hung dữ của gá đàn ông
mà lao xuống đất dùng đôi bàn tay trần cào cấu đống bùn đất
để nhặt lại những hạt cơm bẩn thiệu.
Không. Cơm của con tôi.
Xin ông đừng phá.
Chúng nó đang đói lắm.
Xin ông.
Nàng vừa khóc vừa lại lục.
Đầu đập xuống đất liên hội.
Gá đồ tệ hừ lạnh một tiếng.
Định vung gậy đánh thêm phát nữa.
Thì Minh Nhi và Hàn Nhi không chịu nói nữa.
Chúng lao ra khỏi bụi cây.
Chán ngang trước mặt tạ nương.
Minh Nhi hét lớn.
Giọng run dẩy nhưng đầy kiên quyết.
Dừng tay lại.
Ông không được đánh bà ấy.
Ông có biết bà ấy là ai không?
Con trai bà ấy là những anh hùng đã cứu mạng tất cả chúng ta đấy.
Gá đồ tệ khựng lại.
Nhìn hai đứa trẻ bằng ánh mắt ngạc nhiên pha lẫn khinh khỉnh.
Tuy nhiên.
Trước sự che chở quyết liệt của chúng
và tiếng động ồn ảo khiến một vài người dân gần đó
bắt đầu tò mò đốt đúc đi ra.
Gã hậm hực vác gậy bỏ đi.
Không quên để lại một câu chửi thề cay nghiệt.
Không gian trở lại tĩnh lặng.
Chỉ còn tiếng gió và tiếng khóc thút thít của tạ nương.
Minh Nhi quỳ xuống cạnh nàng.
Nhìn người phụ nữ đang run dẩy ôm hai thanh gỗ mục vào lòng như báu vật.
Lòng nó tan nát.
Nó thấy nàng nhặt một hạt cơm dính đầy bùn đất.
Lao vội vào lớp áo rách rồi đưa lên miệng.
Vẫn ăn được.
Để mẫu thân ăn hạt bẩn.
Đại Hùng và Trọng Dũng ăn hạt sạch nhé.
Giây phút ấy, một hạt mầm thiện lương
đã thực sự nảy nở trong lòng những đứa trẻ vô tri.
Chúng hiểu rằng thế gian này có những nỗi đau
mà sự tàn nhẫn không bao giờ thấu hiểu được
và có những tấm lòng vĩ đại được ẩn giấu
dưới những hình hài tàn tạ nhất.
Nhân quả vốn không ở đâu xa.
Nó nằm ngay trong cách con người đối xử với nhau khi hoạn nạn.
Những kẻ reo rắc sự khiêm khi
chắc chắn sẽ phải nhận lấy sự cô độc.
Còn những ai biết quay đầu, biết yêu thương
mới mong tìm thấy ánh sáng giữa màn đêm của kiếp người.
Kể từ đêm định mệnh ấy, góc tùng cổ thụ
không còn là nơi của sự kỳ thị và ghẹ lạnh.
Minh Nhi và Hàn Nhi, như hai thiên sứ nhỏ,
mỗi sáng sớm đều mang đến cho tạ nương
những chiếc màn thầu nóng hổi và bát canh rau đạm bạc.
Chúng quỳ trước mặt nàng, cung kính gọi một tiếng bà bà
rồi nhẹ nhàng quét dọn lều chanh, sửa lại mái lá giột nát.
Sự thay đổi của lũ trẻ như một luồng gió ấm
thổi qua sự ưu mê của dân làng.
Những người trước đây từng nhổ nước bọt khinh khi,
nay nhìn thấy vết sẹo trên trán nàng
và hai thanh gỗ mục nhãn thín, bỗng thấy sống mũi cây nồng.
Họ bắt đầu mang đến lúc thì nải chuối, lúc thì tấm áo mới.
Lặng lẽ đặt trước cửa lều như một cách sám hối
cho sự vô tâm của chính mình suốt bao năm qua.
Mùa đông năm ấy, một trận tuyết lớn
chưa từng có phủ trắng xóa cả vùng biên viễn.
Trong túc lều nhỏ, lửa đã tắt
nhưng hơi ấm của tình người dường như vẫn bao trùm lấy lâm tạ nương.
Một đêm tuyết rơi dày đặc, nàng ngồi dựa lưng vào góc tủng.
Đôi mắt đục mở bỗng trở nên trong veo lạ thường.
Nàng nhìn thấy từ phía chân trời xa xôi
nơi ánh bình minh đang dần ló dàng
có hai bóng người lính trẻ oai phong lẫm liệt
khoác trên mình chiến bào rực rỡ, cưỡi ngựa trắng đạp tuyết mà về.
Họ không còn là những linh hồn tan vào cát bụi
mà là những vị tướng quân oai hùng của lòng nàng.
Mẫu thân, chúng con về rước mẹ đây.
Tạ nương mỉm cười.
Một nụ cười thanh thản và đẹp đẽ như thủa nàng
còn là mỹ nhân vùng thanh thủy.
Nàng buông thỏng đôi tay gầy guộc
hai thanh gỗ mục rơi xuống mặt tuyết trắng tinh khôi
nhưng trái tim nàng đã tìm thấy sự vẹn tròn.
Nàng ra đi trong tư thế của một người mẹ đang đón con trở về
tay vẫn nắm chặt sợi dây tơ hồng
mà nàng từng buộc vào tay các con ngày tiễn biệt.
Sáng hôm sau, dân làng tìm thấy nàng
thân xác lạnh giá nhưng gương mặt tỏa ra sự bình yên thoát tục
như thể nàng vừa hoàn thành một tâm nguyện nghìn năm
nhân quả ở đời vốn công minh như mặt trời trên cao.
Những kẻ từng xúi dục trẻ nhỏ ném đá
từng buông lời ác nghiệt với người hiền đức
sau này ra đạo đều gặp cảnh lục đục
con cái bất hiếu, cơ nghiệp lụn bại
như một sự trừng phạt nhãn tiền của thiên địa.
Trong khi đó, Minh Nhi và Hàn Nhi
nhờ tấm lòng chắc ẩn từ thử Hàn Vi
sau này đều đỗ đạt bằng vàng
trở thành những vị quan thanh liêm
luôn lấy đức trị dân để báo đáp ân tình
của người mẹ điên dưới gốc Tùng Già năm ấy.
Dân làng đã cùng nhau lập một ngôi miếu nhỏ
bên gốc Tùng Cổ Thủ
quanh năm nhang khói không dứt
để tưởng nhớ về một tấm lòng mẫu tử đại nghĩa
và để nhắc nhở đời sau về đạo lý
uống nước nhớ nguồn.
Trên đời này, cái điên dại của tình mẫu tử
đôi khi còn tỉnh táo hơn cả sự vô tình của nhân thế.
Kim Ngân Châu Báu chẳng thể mua được sự bình yên
nhưng một lòng chắc ẩn trước nỗi đau
của người khác lại chính là hạt mầm
phước đức lớn nhất của kiếp người.
Đừng để định kiến che mờ con mắt.
Kẻo đến khi quả báo nhãn tiền
mới thấy hối hận cho một kiếp phù rù.
Trong muôn vàn tội nghiệp,
nghiệp bất kính với cha mẹ
và rẻ rúng người hiền đức là nặng nhất.
Thân xác này vốn là tứ đại giả tạm
nhưng tấm lòng tử bi mới là vĩnh hẳng.
Kẻ gieo mầm ác bằng lời nói
và hành động khinh khi.
Tất cả quả báo cô độc và khốn củng.
Lòng chắc ẩn là chiếc cầu
dẫn lối qua bể khổ.
Người biết quay đầu xám hối,
biết thương xót chúng sinh trong nghịch cảnh
thì giàu nghèo khó cũng được thiên địa bảo hộ.
Hãy sống sao cho tròn đảo nghĩa
bởi luật nhân quả không đợi kiếp sau.
Nó hiện hữu ngay trong từng nhịp đập
của lương tâm và sự phản xét công minh
của trời cao.
Một niệm thiện xanh,
muôn vạn phước lành sẽ tới.
Người có tâm đức ách có thiên thu.
