Hôm nay cúng ta lại tiếp tục bài trước, cũng có một phần khá lớn phúc lộc phú quý của con người là do tổ tiên hoặc cha mẹ làm việc thiện, tích âm đức, khiến cho con cháu đời sau của họ đắc được phúc báo mà đạt được công danh, phú quý. Trong việc tích âm đức, lại lấy việc cứu mạng người làm trọng. Thường có câu: “Cứu nhân nhất mệnh, thắng tạo thất cấp phù đồ” (Cứu sống một mạng người còn hơn xây tháp Phật bảy tầng).
............................................................... Giọng đọc : Lưu Thu Thái Nguyên Phần 5 Nguồn tư liệu: “Thanh Bại Loại Sao”, “Bắc Đông Viên Bút Lục”, “Lịch Đại Tiểu Thuyết Bút Ký Tuyển” Chịu trách nhiệm biên tập: Cổ Dung https://www.epochtimes.com/b5/13/12/22/n4040117.htm Trần Lê Hiệp dịch
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Bài giảng nhấn mạnh quan niệm về \"âm đức\" trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, cho rằng phú quý và thành đạt của một người thường là kết quả từ việc làm thiện, đặc biệt là cứu mạng người của bản thân hoặc tổ tiên. Thông qua các câu chuyện lịch sử, tác giả khẳng định việc tích đức sẽ chuyển hóa thành phúc báo theo một quy luật tương tự như định luật bảo toàn vật chất.
Thuyết định mạnh và thiện đạo khải mạnh trong văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Phú quý của con người từ đâu mà đến. Phần 5.
Hôm nay, chúng ta lại tiếp tục bài trước.
Cũng có một phần khá lớn phúc lộc phú quý của con người
là do tổ tiên hoặc cha mẹ làm việc thiện, tích âm đức
khiến cho con cháu đời sau của họ đắc được phúc báo
và đạt được công danh phú quý.
Trong việc tích âm đức, lại lấy việc cứu mạng người làm trọng.
Thường có câu, cứu nhân nhất mạnh, thắng tạo thất cấp phù đồ.
Cứu một mạng người còn hơn xây thát Phật bảy tầng.
Hồ Trường Linh, 1758-1814.
Tự Tây Canh, huyện Ấn Chử, người Thông Châu, thuộc Giang Nam.
Nay là thành phố Nam Thông, tỉnh Giang Tô.
Năm Cản Long thứ năm tư, 1789.
Ông Đỗ Trạng Nguyên được bổ nhiệm chức hàn lâm viện tu soạn
vào sử quán để hiệu tu sách vở.
Tài năng danh tiếng vượt trội.
Vì không A-dua phụ họa với hòa thân,
nên một thời gian dài không được thăng tiến.
Sau khi hòa thân rơi đài, vào năm Gia Khánh thứ sáu, 1801,
ông mới được thăng làm Phục Thiên Phủ Thừa, kiêm học chính.
Sau cùng, quan vị làm đến lễ bộ thượng thư.
Cha của Hồ Trường Linh từng làm chức văn thư ở Nha Môn thuộc Châu.
Có một lần xử lý một vụ án trộm cướp.
Có một toán phạm nhân vừa bị bắt giữ đã liền khai nhận.
Rất nhanh đã định án.
Chiếu theo lời khai trong cung tử nói rằng,
tụ tập thành một toán người từ Đại Môn cửa lớn tiến vào.
Như thế thì thuộc về tội dương đuốc cầm gậy gớp bóc.
Bất luận là chủ phạm hay tòng phạm, hết thầy đều phải bị sử tử.
Hồ ông cẩn thận điều tra một phen,
phát hiện những người này đều là do nghèo khổ đến bức không có bột hạt gạo,
mới ngẫu nhiên rủ dê nhau làm càn, chứ không phải là giặc cướp thực sự.
Ông bèm nói với quan Chi Châu,
toán người này vừa bị bắt tới đã thành thật khai nhận tội,
quyết không phải là kẻ ăn trộm lâu năm hay quen thói trộm cướp.
Nếu chiều theo lời khai thì tất cả đều phải sự chết,
thì e rằng quá nặng tội.
Châu Quan nói,
bên trên hối thúc rất gấp, không kịp viết lại lời khai nữa.
Hồ ông bèn yêu cầu ở trên chữ Đại thêm một dấu chấm,
liền biến thành chữ Khuyển,
chó tức là tòng khuyển môn nhập từ cửa chó chui vào,
như vậy tội chạm sẽ nhẹ đi rất nhiều.
Qua nhiều lần cầu xin khẩn thiết,
Quan Châu cuối cùng cũng đã đồng ý,
chỉ thêm một dấu chấm nhỏ như thế mà đã cứu mạng sống của mười mấy người nghèo khổ.
Đây là cái đức to lớn biết nhường nào.
Do đó mọi người đều nói,
hồ trường linh trạng nguyên thiên hạ chính là đắc được cái báo ứng cứu mạng người của cha.
Lại thấy một ví dụ khác trong cuốn,
Bắc Đông viên bút lục của trương cung thần thời thanh,
các gia tộc có quyền thế,
địa vị ở huyện Giang Sơn,
gần đây lấy vương gia làm hưng thịt nhất,
tương truyền tổ tiên của họ là vương ông,
cư trú ở bên ngoài cửa bắc,
tổ nghiệp chỉ có một gian nhà tranh,
một buổi sáng nọ thức giấc,
dọn dẹp nhà tranh thì thấy có một cái bọc nhỏ,
mở bọc nhỏ ra thì bên trong có 50 lạng vàng,
biết là của khách qua đường đánh rơi,
thế là liền ngồi suốt ở cửa để chờ đợi.
Đột nhiên giữa trừng,
có một người hoảng hốt, vội vã khóc lớn đi đến,
hỏi han nguyên cớ,
hóa ra chính là người đánh rơi tiền vàng.
Người đó nói,
tiền vàng này là vay mượn từ người khác,
bởi vì thân thích của tôi bị người ta vu cáo bỏ tù,
chuẩn bị dùng số vàng này để hối lộ cho người chủ quản,
thì mới có thể được thả tự do.
Hiện tại tiền vàng đánh rơi mất rồi,
thân thích sắp sửa sẽ phải chết ở trong ngục.
Vợ và con của người đó cũng không cách nào sống tiếp,
tôi lại càng không còn mặt mũi để đối diện với thân thích của mình,
làm sao dám một mình sống tiếp đây.
Số vàng này thực sự quan hệ đến tính mạng của bốn con người,
cho nên mới hút hoảng như thế.
Nói xong rồi lại khóc tiếp,
vương mộ lập tức lấy cái bọc ra,
hoàn trả lại cho anh ta.
Người đó kỹ lưỡng hỏi han danh tính,
rồi bái tạ rời đi.
Một năm sau đó, vương mộ an tán thân nhân.
Đến ngày đã dự định,
thì đỡ linh cữ mà đi,
cách đất huyệt chỉ hơn nửa dặm.
Đột nhiên nổi trận rong tố,
nước dân cao,
linh cữ không thể đi tiếp về phía trước.
Đành phải đặt tạp ở mảnh đất chống dọc đường,
mà mưa càng lúc càng lớn,
nước cũng ngày càng sân.
Đi qua nhìn phần mộ huyệt,
thì đã bị nước trôi phá tan tành,
không thể an tán được nữa.
Bất đắc dĩ,
đành phải ở ngay mảnh đất chống đó,
đắp đất lên để thành ngôi mộ.
Năm thứ hai,
gia nghiệp của ông đột nhiên hưng vượt hẳn lên
trong nhà con cháu nhập học, đọc sách.
Và đỗ kỳ thi hương, đỗ cử nhân điên tiếp đến,
mọi người đều cho rằng
đó là thiện báo hoàn kinh,
trả lại vàng của vương mộ.
Ngày nay,
vương gia đã biến thành một hào môn đại tộc
bên trăng thành rồi.
Thiên ghi chép này có bốn giai đoạn.
Trước tiên là vương ông nhặt được vàng không than,
ngồi ở cửa đợi chủ nhân đánh mất đến nhận lại.
Nếu như phát sinh ở Trung Quốc đại lục ngày nay,
đặt tay lên ngực tự hỏi
có mấy ai có thể làm được như vậy?
Thứ hai là đem tiền hoàn trả lại cho người mất,
gián tiếp cứu mạng sống của bốn con người
đã tích âm đức.
Thứ ba là thượng thiên
vì để hồi báo hành động thiện của ông,
bền mượn việc an tán thân nhân
để đổ xuống trận đại sông Tố.
Sai lại thành đúng, ngược lại lại khiến ông
đắc được một mảnh mộ địa có phong thủy tốt.
Thứ tư là một năm sau,
phong thủy mộ địa phát sinh hiệu ứng,
gia nghiệp đột nhiên hưng vượng.
Con cháu nhập học, thi đỗ lần lượt kéo đến,
có được công doanh thì sẽ có phú quý,
cuối cùng thành tiệu đến bậc hào môn đại tộc.
Người hiện đại đói tim tưởng khoa học
cho rằng những gì trên khoa học nói mới là đúng
thì họ mới tin tưởng.
Chúng ta thuở nhỏ đi học,
đều từng học qua,
trong vật lý học có định luật bảo toàn vật chất.
Vậy thì một con người làm việc thiện,
tích được đức,
người tu luyện đều biết,
đức là một loại vật chất màu trắng,
căn cứ theo định luật bảo toàn vật chất,
nó sẽ không bị diệt mất,
không phải là làm một cách vô ích.
Vậy cái đức đó đi đâu mất rồi?
Người tu luyện liền đem nó truyền hóa thành công,
mà người bình thường thì đem nó truyền hóa thành phúc báo.
Đây chính là căn cứ lý luận
của việc tích đức có phúc báo, thiện hiểu thiện báo.
Cho dù là dùng đạo lý của vật lý học
thì tất cả đều có thể giải thích
một cách rõ ràng, minh bạch.
Có lẽ một số người nói
bản thân tôi cũng không tu luyện,
tổ tiên tiền bối cũng không tích được đức,
vậy chẳng phải là đời này
phúc lọc vô vọng rồi sao?
Cũng không hoàn toàn là như vậy.
Cũng có rất nhiều người bình thường
làm việc thiện, tích được đức
thì cũng giống vậy, sẽ đắc được phúc báo.
Hứa Thúc Vi 1079-1154
Tự Chi Khả, Người Trân Châu
Nay là huyện Nghi Trưng,
tỉnh Giang Tô, thời Tống.
Thùa nhỏ, xa cảnh Bần Hàn,
năm 11 tuổi, cha mẹ của ông
trong vòng 100 ngày
đã liên tiếp bệnh chết
nhiều lần thi không đỗ.
Một ngày nọ, ông mộng thấy
có người nói với mình rằng
người muốn trúng cử thì bắt buộc
phải tích âm đức.
Thức Vi suy xét bản thân tiền bạc không đủ,
chỉ có theo nghề y
thì mới có thể làm được việc này.
Thế là vào nghiên cứu y thư,
thời gian lâu dần,
số người được ông cứu sống
nhiều đến mức không thể đếm hết.
Năm kiến viêm thứ nhất
thời Nam Tống,
năm 1127, dịch bệnh ở Chân Châu
bùng phát mạnh mẽ,
hứa khốc vi đến tận nhà
bách tính trần trị,
10 phần sống đến 8-9 phần.
Về sau, ông lại mộng thấy
vị người báo mộng trước kia lại đến
cầm một bài thơ tặng cho ông.
Thơ viết rằng
Dược hữu âm công,
trần lâu gian xứ,
đường thượng hô lư,
sướng lục tác ngũ.
Thuốc có âm công,
khoảng giữa trần lâu,
trên sảnh hô lư,
sướng sáu là năm.
Sau khi tỉnh giấc,
ông không hiểu có ý nghĩa gì,
đành phải tạm thời ghi chép
vào trong cuốn sổ nhỏ.
Đến năm thiệu hưng thứ hai
thời Cao Tông,
năm 1132, ông trúng hạng sáu tiến sĩ
vì đắc được ân yêu đãi thăng giáp.
Thăng hạng bảng
nên được đôn lên vị trí thứ năm,
được thụ ban quan chức
người cang trung tiến sĩ.
Đứng ở phía trước ông,
tên là Trần Tổ Ngôn.
Người đứng ở phía sau,
tên là Lâu Tài,
trần lâu gian xứ.
Lời nói trong giấc mộng,
thầy đều ứng nghiệp hoàn toàn.
Ý nghĩa của hô lư
nguyên là tiếng hét lớn,
muốn thủ thắng khi đánh bạc.
Ở đây chính là chỉ việc
chiều đường sướng danh
gọi tên trên chiều đình.
Từ trong ví dụ này,
có thể nhìn thấy hứa Thúc Vi
vốn có da cảnh luôn bần hàn
bởi vì tẳng ý cứu sống
được rất nhiều người
mà tích được âm đức.
Về sau mới có thể trung tiến sĩ,
được thụ ban quan chức
và nhận được phúc báo.
Chính là định luật bảo toàn vật chất mà thôi.
Nào có phải là mê tín?
Nào có phải là hoang đường?