Bí Mật Động Trời Dưới Đảo Phục Sinh | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIEaster Island is a land of mystery, famous for its massive Moai statues. The island experienced a tragic cycle of ecological collapse due to deforestation, leading to famine and social decay. While theories on its origins vary between Polynesian navigation and connections to South America, the island's history is a stark lesson on environmental sustainability and human resilience.
Có lẽ đây là hòn đảo kỳ lạ, khó hiểu và bí ẩn nhất trên trái đất.
Cô đơn trong vùng nước rộng lớn của Thái Bình Dương,
hòn đảo này luôn khơi gợi trí tưởng tượng phong phú của bất kỳ ai
với những bức tượng hoành tráng, khùng vĩ đứng đó trong nhiều thế kỷ.
Nó như những người bảo vệ vĩnh cỉu cùng một quá khứ đầy bí ẩn.
Khi những du khách châu Âu đầu tiên đặt chân lên bờ biển,
họ đã phát hiện ra hàng trăm tượng đá khổng lồ này.
Một số cao bằng toà nhằm 10 tầng và nặng gần 100 tấn.
Đây là đảo phục sinh, một trong những bí ẩn lớn nhất của nhân loại chờ chúng ta giải mã.
Trong video này, chúng ta sẽ cùng khám phá những điều bí ẩn nhất của hòn đảo
và cuối cùng chúng tôi sẽ tiết lộ bí mật thú vị mà lý do nào đó hầu như không ai nói với bạn.
Điều gì đang ẩn giấu dưới hòn đảo này?
Những bức tượng khổng lồ nặng hàng trăm tấn trên đảo đến từ đâu?
Ai là người đứng sau việc tạo ra chúng?
Đừng rơi mắt khỏi màn hình và theo chân chúng tôi.
Cách bờ biển Chile 3.500 km, quốc gia mà hòn đảo thuộc về.
Đó là một chuyến bay kéo dài 4 giờ trên một chiếc máy bay chở khách hiện đại.
Còn ở phía bên kia, vùng đất liền gần nhất là quần đảo Pita, cách đó 1.931 km.
Ở phía Bắc và Nam, không có gì khác ngoài vùng biển mênh mông của Thái Bình Dương.
Đây chính xác là vị trí của đảo phục sinh.
Ngày lễ phục sinh năm 1722, khi đang lênh đênh giữa Thái Bình Dương,
đội tàu của nhà thắm hiểm Hà Lan, Jacob Roggeveen,
đã phát hiện ra một hòn đảo cằn cỗi, nghèo nàn, cách bờ biển Chile 3.500 km.
Trong nhật ký của mình, ông mô tả hòn đảo như bị cát phủ lên và làm cho cằn cỗi.
Lúc đó, Jacob không biết mình vừa tìm ra hòn đảo hẻo lành và kỳ lạ nhất thế giới.
Khi bức trật lên đảo, Jacob thấy hòn đảo rất bằng phẳng,
chỉ có cỏ và cây bụi lụp rụp.
Ở đây, ông đã tiếp xúc với những thổ dân vẫn đang ở thời kỳ đồ đá.
Có khoảng 3.000 người đang trật vật giống trên đảo.
Điều khiến ông sửng sốt là có rất nhiều bức tượng đá nguyên khối khổng lồ đứng nằm la liệt trên đảo.
Thổ dân gọi chúng là Moai.
Các Moai cao từ 4 đến 20 mét, nặng từ vài chục đến hàng trăm tấn.
Có gần 1.000 Moai như vậy ở khắp trên đảo.
Hầu hết, Moai được tạc đẽo tại một miệng núi lửa đã tắt ở phía đông hòn đảo.
Trong miệng núi lửa vẫn còn dấu tích của hàng trăm bức tượng đang làm dở hoặc đã hoàn thành nhưng chưa kịp chuyển đi.
Trong số đó, có một bức tượng đang làm dở cao bằng toà nhán 5 tầng và nặng tới 210 tấn.
Từ miệng núi này, những bức tượng siêu trường, siêu trọng được vận chuyển đi khắp hòn đảo,
đặt lên những bệ đá còn khổng lồ hơn rất nhiều.
Những bệ đá này được ghép lại từ những tàng đá hàng chục tấn.
Bệ bé nhất được ghép từ 300 tầng đá.
Còn bệ lớn nhất được gọi là Ahu Tongariki nặng tới 9.000 tấn.
Năm 1994, giáo sư Claudio Cristino đã sử dụng những cần cầu có sức nâng 55 tấn
để dựng lại 15 bức tượng đứng trên Ahu Tongariki.
Mặc dù có rất nhiều thiết bị hỗ trợ nhưng ông vẫn gặp khó khăn
vì bức tượng lớn nhất trên đảo là Pauro nặng tới 88 tấn.
Liệu có thật, thổ dân trên đảo đã tạo ra những công trình này không?
Báo cáo của thuyền trường Triều Cúc tới đảo năm 1774 có mô tả những người dân trên đảo
là bé nhỏ, gầy còm, nhút nhát và đáng thương.
Họ có những mảnh ruộng manh muốn trồng khoai lang, khoai sọ, chuối và mía.
Vật nuôi duy nhất là gà.
Nguồn nước ngọt trên đảo cũng khan hiếm.
Người dân phải rất vất vả mới có đủ nước để dùng.
Trên đảo chỉ sơ sát vài bụi cây.
Cái cây lớn nhất chỉ cao chưa tới 3 mét và thân của nó rất mềm.
Nơi có người ở gần nhất cách đó hơn 2.000 km đường biển.
Trên một hòn đảo không hề có cần cầu, xe kéo, không kim loại, không gỗ, không xúc vật kéo.
Chỉ có một nhóm người ít ỏi thì ai đã dựng nên những kỳ quà này?
Câu hỏi đó khiến những nhà nghiên cứu cảm thấy hoang mang.
Giới khoa học chia làm hai phe.
Một bên cho rằng chỉ có những thế lực siêu nhiên như người ngoài hành tinh mới có thể làm được việc này.
Phe còn lại thì cho rằng chính thổ dân đã dựng nên những kỳ quà này.
Nếu là thổ dân thì họ làm cách nào để di chuyển những tượng đá?
Có giả thuyết cho rằng các bức tượng ngoài đã được thiết kế để tiến về phía trước bằng chuyển động lắc mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của con người và dây thừng.
Nghĩa là người xưa đã dùng dây thừng cuốn quanh và luôn giữ thăng bằng không cho tượng đổ.
Sau đó làm cho chúng đi bộ bằng cách lần lượt kéo nghiêng bức tượng về hai phía để hở khoảng không phía trước.
Bằng phương pháp này các bức tượng sẽ thực sự bước đi chậm rãi xung quanh đảo mà không cần đến máy móc hay xe kéo.
Vào năm 2012, Lippo cùng Terry Hunt, một nhà nghiên cứu đến từ Đại học Arizona cũng đã chứng minh rằng
người ta có thể vận chuyển một bức tượng ngoài cao 3 mét, nặng 5 tấn, đi vài trăm mét chỉ với 18 người và 3 sợi dây thừng cỡ lớn lợi dụng một dạng chuyển động dung lắc quà lại.
Cũng có giả thuyết khác cho rằng họ để những tượng ngoài này lên những khúc gỗ tròn lợi dụng chuyển động lăn của những khúc gỗ để di chuyển chúng.
Tuy nhiên, tất cả các cách đều quá tốn công sức, trong khi tốc độ di chuyển lại rất chậm, không thể áp dụng cho những bức tượng to nhất và có thể làm vỡ chúng.
Người ta có thể nghĩ ra nhiều cách hơn, nhưng dù là cách nào thì họ nhận ra điều kiện bắt buộc là phải có gỗ.
Trong khi đó, trên đảo chưa trụi, chỉ toàn là cây bụi.
Năm 1983, nhà thực vật học John Frenley đã có một phát hiện thén chốt.
Trong một hang động trên đảo, bạn của ông đã tìm ra hóa thạch của những hạt cây.
Sau khi phân tích, ông nhận thấy đó là hạt của một loài cọ khổng lồ.
Mành mối đã xuất hiện và cách tìm những hóa thạch bị trôn dưới chân núi Terrapaka,
các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hóa thạch thân cọ có đường kính lên tới 2,1 mét, lớn hơn tất cả các loài cọ hiện có trên thế giới.
Nhà khảo cổ Catherine Auriac thì điều tra bằng cách đao bới những đống rác cổ của thổ dân trên đảo để tìm cho than.
Càng đao sâu, bạn càng tìm thấy nhiều than của các loài cây thân gỗ.
Trong đó có rất nhiều loài cây có thể cao tới 30 mét.
Gỗ của chúng có thể làm nhà hay đóng thuyền rất tốt.
Các bằng chứng cho thấy đảo Phúc Sinh từng là một cánh rừng rậm rạp giữa biển khơi.
Như vậy là với hòn đảo toàn gỗ là gỗ, thổ dân đã làm cách nào để di chuyển tượng?
Năm 1998, nhà khảo cổ học Giovanni von Tilburg đã đề xuất phương án sử dụng gỗ làm dây trượt để di chuyển một bàn sao bê tông nặng 13 tấn.
Với 70 nhân công, bà đã có thể di chuyển bức tượng đi 15 km trong một tuần.
Theo tính toán của bà, nếu sử dụng 500 nhân công, hoàn toàn có thể di chuyển và dựng bức tượng có tên Paro nặng 88 tấn.
Vậy là câu đố học búa có lẽ đã được giải.
Nhưng đó cũng là lúc các nhà khảo cổ phát hiện ra mình đã tiếp cận một phần đen tối trong lịch sử hòn đảo.
Bằng cách sắp xếp niên đại, các nhà khoa học nhận thấy thời kỳ của những moai khổng lồ đã đột ngột chấm dứt vào khoảng năm 1620.
Và từ đó, dân đảo bắt đầu làm những moai nhỏ bé bằng gỗ,
miêu tả những người mắt trăng giã, mặt hốc hác, nhe răng, xương sườn và xương sống nhô ra.
Đó là moai Kavakava, quỷ ăn thịt người.
Có lẽ không ở đâu mà những nhân vật ăn thịt người lại dày đặc như trong văn hóa dân gian ở đảo Phục sinh.
Câu hỏi nối tiếp là vì sao thổ dân ngừng dựng tượng đá khổng lồ ca ngợi quý tộc và chuyển sang làm tượng gỗ quỷ ăn thịt người?
Câu trả lời có thể tìm thấy trong các tính toán khoa học.
Chồng của giáo sư Giovanni Vantubec là một kiến chức sư chuyên làm việc với cần trục và thang máy.
Sau khi tính toán cẩn thận, ông nhận ra dân trên đảo phải cần tới 300 năm làm việc cật lực mới tạo ra được những công trình này.
Mỗi công trình cần tới hàng trục thợ yêu khách và hàng trăm nhân công vận chuyển, làm việc ròng rã nhiều tháng, nhiều năm.
Dân đảo sẽ phải đảm bảo được lương thực nuôi ăn và lương thực trả công cho những người thợ lao động nặng nhọc,
các khoản đền bù cho nhân công bị tai nạn và cả các buổi tiệc linh đình khánh thành tượng mới.
Thêm nhiều lương thực đồng nghĩa với việc phải săn bắt nhiều hơn, phá rừng lấy đất canh tác nhiều hơn.
Chưa kể, việc dựng tượng cần rất nhiều cây gỗ để chế tạo công cụ và làm chết đốt.
Nhu cầu về tượng đài tăng cao, người ta càng phải phá thêm rừng, săn thêm thịt, gây sức ép lớn lên tài nguyên hòn đảo.
Vậy tại sao phải mất quá nhiều công sức và lương thực cho những bức tượng này? Mục đích tạo ra những bức tượng này là gì?
Theo những thủ dân, những bức tượng thể hiện tiềm lực kinh tế của bộ lạc và quyền lực của những quý tộc.
Thay vì chiến tranh, các bộ lạc cạnh tranh nhau bằng các tượng đài.
Đó là lý do vì sao kích cỡ các bức tượng càng về sau càng to lớn, cầu kỳ.
Khi những bức tượng cuối cùng được dựng lên cũng là lúc tài nguyên trên đảo chạm ngưỡng giới hạn.
Những đống rắc cổ một lần nữa kể cho chúng ta biết những câu chuyện bì thảm.
Ở tầng đất sâu nhất, người ta tìm thấy xương của cá heo, hải cổ, hàng chục loài chim đã tuyệt chủng,
các loài cá đại dương, ốc to, thằn lăn lớn, rua biển và than cho của các cây khổng lồ.
Chắc chắn, những cơ dân trên đảo phục sinh đã có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc như trên thiên đường.
Càng gần mặt đất, dầu tích xương của các loài động vật lớn và nhiều thịt biến mất dân.
Thay vào đó là số ít ỏi xương các loài nhỏ hơn như ốc sen đen, gà, chuột, các loài cá ven bờ.
Cho than của những loài cây lớn cũng ít dần đi mà được thay bằng các loài cỏ bụi.
Sự thay đổi này phản ánh nhiều gì?
Có thể khẳng định dương cây lớn đã biến mất, chỉ còn lại đồng cỏ.
Không còn gỗ để vận chuyển tượng và làm thuyền đi đánh cá hay sửa ấm.
Không còn các loài động vật nhiều thịt, đất đai thì bạc màu, không còn năng suất nông nghiệp, nước ngầm cạn dần.
Trong khi đó, dân số trên đảo ngày càng đông đúc.
Nạn đói đến một cách hiển nhiên và thổ dân bắt đầu tìm đến nguồn thức phẩm rất sẵn nhưng trước đây bị bỏ qua.
Đó là thịt người.
Ở những lớp giác gần bề mặt, các nhà kháu cổ tìm thấy xương người còn in rõ dầu cưa, trẻ nấu chín để hút tủy.
Cuộc suy toàn đã biến thành chiến tranh dành nguồn nước và thịt tươi.
Ở phía bắc của hoàn đảo có một cái hang có tên là Anakaitangata, có nghĩa là hang ăn thịt người.
Đây là nơi trú ẩn trong chiến tranh của một bộ tộc.
Mỗi khi chiến thắng, bộ tộc này thường mang tù binh về đây để ăn thịt báo thủ.
Nỗi kinh hoàng của việc săn người ăn thịt trong các mùa đói kém thất bát đã ăn sâu vào nền văn hóa của đảo,
thể hiện qua các câu chuyện dân gian và các hình thức nghệ thuật như những bức tượng Kavakava.
Hoàn đảo bị cuốn vào vòng xoáy bạo lực.
Rất nhiều câu chuyện dân gian đã miêu tả việc lực đổ tượng đài của các bộ lạc đối phương.
Cuối cùng kết thúc bằng một cuộc nổi loạn lớn khi những người nhào khổ vùng lên và xô đổ hết những moai của giới quý tộc.
Thời đại của những moai khổng lồ chính thức chấm dứt.
Đó là lý do khi Jakob Roktoven bước lên đảo phục sinh
chỉ còn lại là một vùng đất khô hạn với những con người nhỏ bé đáng thương
sống nhờ vào những cơn mưa hiếm hoi, vài mảnh ruộng căn và những chuồng gà băng đá.
Nhưng đó chưa phải là điều tồi tệ nhất.
Những nhà thám hiểm châu Âu cũng đồng thời là những kẻ xâm lược và buôn nô lệ.
Họ đã cho thủ dân trên đảo nếm mùi thuốc súng và bệnh chuyên nhiễm.
Hàng nghìn người bị bắt làm nô lệ, hàng nghìn người khác chết vì đậu mùa.
Đến năm 1872, trên đảo chỉ còn 111 người bản địa.
Khâu hết những người hiểu rõ văn hóa của thủ dân đã chết.
Đến năm 1888, Chile đã thun tính hòn đảo này, trân áp mọi cuộc nổi dậy.
Những thủ dân bị áp đặt chế độ phân biệt chủng tộc nặng nề.
Tới tận năm 1966, họ mới có được quyền công dân Chile.
Tất nhiên, những phân tích trên cũng chỉ là giả thuyết của các nhà khoa học.
Còn các nhà khoa học đứng về phía quan điểm, có một thế lực siêu nhiên nào đó đã tác động lên hòn đảo thì sao?
Trước tiên, chúng ta hãy cùng trả lời câu hỏi.
Làm thế nào mà những cư dân đầu tiên của hòn đảo này đến được nơi đây?
Làm cách nào họ tạo ra cả một nền văn minh đầy bí ẩn?
Liệu có phải tổ tiên của những cư dân trên đảo có mối liên hệ với một nền văn minh tiên tiến?
Nhiều thế hệ, các nhà khoa học của học, các nhà sử học và nhân chủng học đã bối rối trước câu hỏi đó trong nhiều thập kỷ.
Và đây là vài giả thuyết đáng chú ý về nguồn gốc của những cư dân đầu tiên trên hòn đảo.
Trong gần 900 bức tượng đá được tìm thấy ở đảo Phục Sinh,
các nhà khoa học cổ phát hiện ra rằng,
có một nhóm các bức tượng Moai có khuôn mặt khá giống với các bức tượng được tạc trên vách đá ở phía Bắc Peru.
Các bức tượng ở Peru được cho là tạo bởi những người sống ở nền văn hóa Chachapoya chế tác ra.
Người Chachapoya hay còn được gọi là người mây,
là một bộ lạc sinh sống tại dãy núi Andes trong các rừng mây ở khu vực Amazon, nay là Peru.
Sau đó, người Inca xâm chiếm nền văn minh này trước khi người Tây Ban Nha đến Peru.
Một điều thú vị khác là cách xây dựng các bức tượng đá ở đảo Phục Sinh
rất tương đồng với cách xây dựng tường đá ở khu di chuyển khảo khu nổi tiếng Sacsayhuaman ở Peru.
Tại đây, các tàng đá nặng hàng tấn ở các bức tượng được xếp đặt, lồng ghép, khóa vào nhau một cách khéo léo,
kín khít đến mức người ta nghi ngờ rằng những người xây dựng công trình này biết cách làm mềm các viên đá khi xây dựng.
Tại đảo, hai bức tượng ở Ahu Vanapu và Ahu Tahira
cũng bao gồm các tàng đá nặng hàng tấn, có hình dạng khác nhau, được xếp trồng lên nhau theo phong cách của Sacsayhuaman.
Tuy nhiên, mức độ tinh xảo và chính xác trong việc xây dựng các bức tượng tại đảo Phục Sinh kém hơn chút ít so với ở Peru.
Thêm nữa, tại Sacsayhuaman có một số góc tường đá được chế tác thành góc cong hết sức thẩm mỹ, mềm mại và kín khít.
Cũng tương tự, đảo Phục Sinh cũng có những góc tường đá cong rất đẹp mắt.
Năm 1864, Elgen Elrad, nhà chuyên giáo của Gião hội Công giáo La Mã, đã đến đảo Phục Sinh để chuyên giáo.
Trong quá trình sinh sống ở đảo, ông đã phát hiện ra 26 tấm bảng gỗ ghi loại chữ tượng hình kỳ lạ, được gọi là chữ viết Rongorongo.
Cái tên Rongorongo xuất phát từ tiếng Rapanui.
Tiếng Rapanui được coi là ngôn ngữ mẹ đẻ của hòn đảo này.
Chữ viết Rongorongo được tìm thấy trên cây trượng của thủ lĩnh đảo Phục Sinh.
Một bức tượng người chim và hai tấm ray mirror, vật trang trí hình lưỡi liềm, từng được người dân đảo Phục Sinh mặc.
Nói về phát hiện của mình với chữ viết Rongorongo ở đảo Phục Sinh, nhà chuyên giáo Elgen viết.
Trong mỗi túc lều, người ta tìm thấy những tấm bảng hoặc thanh gỗ được khắc một số loại ký tự tượng hình.
Chúng là những hình ảnh mô tả các loài động vật chưa được biết đến trên đảo, được vẽ bảng đá sắc nhọn.
Một hình có tên riêng, nhưng sự chú ý ít ỏi mà họ dành cho những tấm bảng này khiến tôi nghĩ rằng
những ký tự này là tan tích của một số chữ viết nguyên thủy.
Giờ đây, họ giữ chúng như là một thói quen mà không tìm kiếm ý nghĩa của nó.
Theo Elgen, dường như loại chữ viết Rongorongo không có nguồn gốc từ đảo Phục Sinh,
mà chúng được truyền đến hòn đảo này từ xa xưa.
Vậy, người ta tìm thấy loại chữ viết này ở đâu?
Nhà nhân trùng học nổi tiếng người Na Uy, Thor Heyerdahl,
đã dẫn đầu cuộc thám hiểm khảo cổ đầu tiên đến đảo Phục Sinh vào năm 1955-1956.
Heyerdahl phát hiện rằng, nơi duy nhất khác mà loại chữ viết Rongorongo này được tìm thấy
là nơi những người da đỏ đầu tiên sống xung quanh hồ Titicaca trên dãy đuôi Andes ở Nam Mỹ,
vắt ngang qua Peru và Bolivar.
Vậy, bằng cách nào mà ngôn ngữ của những người ở dãy Andes,
cách đảo Phục Sinh gần 4.000 km, có thể xuất hiện ở đây?
Một chi tiết khác mà những người dân ở vùng hồ Titicaca ở Peru và Bolivar
thường trồng những cây sệ Totora để làm vật liệu đan lát
và tạo ra những chiếc thuyền để di chuyển trên hồ Titicaca.
Thật kỳ lạ là những cây sệ Totora cũng được Heyerdahl tìm thấy
tại khu vực Ven, các hồ ở miệng núi lửa của đảo Phục Sinh.
Trước đó, vào thế kỷ mới 9, nhiều nhà thám hiểm đã cho biết
những người đánh cá ở đảo Phục Sinh cũng dùng những cây sệ Totora
để làm thành những con thuyền nhỏ có tên là Pura.
Để chứng minh những cơ dân Nam Mỹ đã du hành về phía Tây trên bè
làm bằng cây sệ Totora của họ từ lục địa đến đảo Phục Sinh,
Heyerdahl đã đích thân thực hiện hành trình đáng kinh ngạc của mình
trên một chiếc bè Contiki cùng năm với người cộng sự.
Ông ấy đã viết một cuốn sách hấp dẫn về chuyến hành trình của Contiki.
Trong đó, Thor đã chứng minh một cách thuyết phục lý thuyết của mình.
Thậm chí sau đó, ông đã sống gần một năm trên đảo Phục Sinh
và viết một cuốn sách không kém phần kỳ diệu tên là Aku Aku.
Cuốn sách này nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người
và trở thành sách bán chạy nhất trên thế giới.
Tác giả đã thu thập rất nhiều bằng chứng để có thể chứng minh cho lý thuyết của mình.
Thor đã chứng minh những loại cây mọc trên đảo có nguồn gốc từ Nam Mỹ
cùng với sự tương đồng của các bức tượng so với các bức tượng thời tiền Columbia
của các nền văn minh Mỹ và nhiều hơn thế nữa.
Nhiều người đã phát hiện ra có một đường tròn kỳ lạ chạy vòng quanh trái đất,
đi qua đảo Phục Sinh và những di chỉ văn hóa cổ đại nổi tiếng
bao gồm Đại Kim Tử Tháp Giza ở Ai Cập,
quần thể đền Angkor Wat ở Campuchia,
thành phố cổ Mohenjo-daro ở Pakistan,
thành phố bị thất lạc Pecha ở Jordan và cao nguyên Nazca ở Peru.
Cho đến nay, chưa ai lý giải được đường tròn này biểu thị cho điều gì.
Tuy nhiên, có một điểm chung là các di chỉ ở trên đường tròn này đều là kiến trúc đồ sộ.
Một số thể hiện trình độ xây dựng cực cao, vượt quá hiểu biết của con người hiện nay.
Vậy, lý do gì mà những người dân ở hòn đảo biệt lập
với dân số chỉ khoảng 2.000 người, cách tắt liền lên đến gần 4.000 km
lại quyết tâm xây dựng những bức tượng đến vậy?
Vì sao các nhà học cổ không tìm thấy bất cứ bằng chứng nào của các công cụ,
vật dụng được sử dụng cho việc chế tác và di chuyển các bức tượng?
Mối quan hệ mật thiết về hình dáng khuôn mặt của các bức tượng đá,
công nghệ xây tường đá, nguồn gốc của ngôn ngữ rongorongo,
sự tồn tại của cây xe Totora giữa đảo Phục Sinh và đất nước Peru
cho thấy giữa hai nơi có một mối liên hệ sâu sắc về văn hóa, lịch sử.
Phải chăng, hai khu vực này đều có cùng một nguồn gốc văn hóa,
có cùng một trình độ kỹ thuật xây dựng?
Chúng ta cũng đã lý giải được rằng, đại kim tự tháp Giza ở Ai Cập,
quần thể đền Angkor Wat và các hình vẽ, đường băng trên cao nguyên Nazca Peru
là các công trình của văn hóa tiền sự,
là nền văn hóa có trước nền văn hóa 5.000 năm hiện nay của chúng ta.
Vậy, phải chăng các bức tượng đá ngoài và các bức tượng đá ở đảo Phục Sinh,
vốn cùng nằm trên một đường tròn vòng quanh trái đất,
với các di trì cổ đại bên trên cũng được xây dựng bởi một nền văn minh tiền sự
có trình độ công nghệ rất cao và đã bị hủy diệt vì một lý do nào đó?
Thêm nữa, di trì đá có trình độ xây dựng rất cao, sắc xêu và man,
vốn rất tương đồng với các bức tượng đá trên đảo Phục Sinh,
cũng được xác định là văn hóa tiền sự.
Vậy phải chăng các công trình đá ở hòn đảo này cũng đã được tạo ra
bởi những cư dân tiền sự đã từng xuất hiện trên trái đất này?
Câu hỏi sẽ được tiết lộ ở phần sau.
Sau tất cả những cố gắng của các nhà khóc của Dien Dô Hayodat trong quá khứ,
lý thuyết của ông đã bị các nhà khoa học hiện đại ném vào sọt rác theo đúng nghĩa đèn.
Bởi vì cho đến nay, hầu hết mọi người đều cho rằng,
chính người ở phía ngược lại, tức phía Tây, đã đến đảo Phục Sinh
và là người kiến tạo nền nguyện văn minh ở đây.
Họ là người Polynesia.
Có lẽ giả thuyết này có phần thuyết phục hơn và nó ít mâu thuẫn hơn sau tất cả.
Polynesia là một phân vùng của Châu Đại Dương,
gồm khoảng trên 1.000 hòn đảo ở phía Trung và Nam Thái Bình Dương.
Dân cư Polynesia có những nét tương đồng về nền văn hóa, ngôn ngữ và tình ngưỡng.
Thuật ngữ Polynesia được Charles de Broglie,
một nhà văn người Pháp sử dụng lần đầu tiên vào năm 1756
và ban đầu dùng để chỉ tất cả các đảo trên Thái Bình Dương.
Chúng ta đều biết, người Polynesia là những nhà hàng hải phỹ đại.
Họ thậm chí còn phát triển hệ thống định vị của mình từ đầu mà họ sử dụng hàng nghìn năm
để đảm bảo những chuyến đi dài hàng nghìn cây số trên Thái Bình Dương rộng mở.
Người Polynesia đã liên lạc với hầu hết mọi hòn đảo
Và tất nhiên, với khả năng của họ thì việc đến được đảo phục sinh là điều hiển nhiên.
Cư dân trên đảo phục sinh nói rằng, tổ tiên vĩ đại của họ là Hotumatu.
Ngài đã đến trên một số chiếc thuyền lớn cùng với gia đình, bạn bè của mình,
các động vật và hạt giống cho cây trồng trong tương lai.
Ông ấy đến từ phía tây hòn đảo.
Khi dân số đảo phát triển lên hàng nghìn người,
cư dân tại đây đã tạp những bức tượng người hoàn chỉnh được biết đến với tên gọi Moai để đại diện cho tổ tiên.
Hiện vẫn tồn tại khoảng một nghìn bức tượng như vậy.
Bức tượng lớn nhất có chiều cao lên đến 21 mét.
Kích cỡ khổng lồ và số lượng lớn các bức tượng cho thấy đảo phục sinh từng tồn tại một xã hội phát triển.
Nhưng có một vấn đề ở đây.
Ước tính, số người trên đảo ở thời điểm khưng thịnh lên tới hơn 17.000 người.
Tuy nhiên, hòn đảo không có sông, hồ hay suối mà toàn bộ nguồn nước sạch chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa.
Lượng mưa mỗi năm trung bình chỉ rơi vào khoảng 1.240 mm,
tức là không đủ để sống chứ chưa nói đến việc phát triển nền văn minh và điều khác như những bức tượng Moai khổng lồ.
Vào thế kỷ 18, những người châu Âu đến đây và thuật rại rằng,
người Rapa Nui đã uống trực tiếp nước biển để sống.
Ở thời điểm ấy, chẳng ai ngờ, nhưng với khoa học hiện tại thì nó là chuyện không tưởng,
vì cơ thể con người sẽ không cách nào tải được lượng múi có trong nước biển.
Vậy, người Rapa Nui đã tồn tại bằng cách nào?
Đó chính là bí ẩn mà phải mãi gần đây các nhà khoa học mới tìm ra manh mối.
Cụ thể, các chuyên gia từ Đại học Brighamton, New York cho rằng,
có một hệ thống nước ngầm quanh đảo.
Vốn nền đất trên đảo là đất núi lửa rất sốt,
nên nước mưa sẽ ngay lập tức ngấm xuống mà không động lại.
Tuy nhiên, may mắn là số nước này sẽ chảy ra biển theo thủy chiều.
Nước mưa trộn với nước biển sẵn có sẽ tạo ra các vùng nước lợn
với nồng độ muối đủ thấp để con người uống được.
Người Rapa Nui đã thu thập số nước này để sử dụng.
Nước sẽ chảy xuống dốc và tích tụ tại khu vực đá sốt tiếp xúc với đại dương,
trích lời chủ nhiệm nghiên cứu, nhà nhân chủng học Carl Lippo.
Khi thủy chiều xuống thấp, số nước này sẽ chảy trực tiếp vào nước biển,
tạo thành nước lợn.
Con người có thể lợi dụng hiệu ứng ấy để thu lấy nước sử dụng.
Lippo và các cộng sự đã xét nghiệm các vùng nước lợn
tại một số khu vực xung quanh hòn đảo
và ông nhận ra rằng nồng độ muối trong nước đủ thấp
để an toàn cho sức khỏe của con người.
Nguồn nước ấy uống được, nhưng vẫn mang vị mặn.
Điều này trông khớp với các giả định trước đó
về chế độ ăn của người dân đã phục sinh,
đó là họ ăn rất ít muối.
Điều này thì dễ hiểu,
bởi họ đã thu đủ lượng muối từ nước uống rồi.
Bởi vì nguồn nước ngọt là tài nguyên quý giá nhất tại đây,
nên họ đã xây dựng những bức tượng khổng lồ gần đó
để bảo vệ thứ quý giá nhất đối với họ.
Còn bạn, bạn nghĩ thế nào về nguồn gốc
của những bức tượng ngoài bí ẩn này và cư dân nơi đây?
Hãy để lại ý kiến ở bên dưới phần bình luận.
Đừng quên để lại cho kênh Thế Giới Cầu Đại
1 like và 1 subscribe.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những video tiếp theo!
