Phát Hiện Chấn Động Tại Đảo Phục Sinh - Nếu Kích Hoạt Loài Người Sẽ Biến Mất? | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại và tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Trong một video trước đây, chúng ta từng dựa trên nghiên cứu của Jared Diamond để giải mã bí ẩn của Đạo Phục Sinh.
Diamond chính là tác giả của cuốn Súng, Vi Trùng và Thép.
Sau khi nghiên cứu Đạo Phục Sinh, ông lại viết thêm một tác phẩm nổi tiếng khác mang tên Sụp Đồ.
Trong cuốn này, Diamond cho rằng Đạo Phục Sinh chính là một lời tiên tri dành cho nhân loại.
Từng có một nhóm cư dân ngu ngốc sống trên hòn đảo ấy vì muốn ganh đua và khoe khoang với nhau.
Họ liên tục xây dựng những công trình kỳ vĩ.
Để vận chuyển các tượng đá khổng lồ, họ chặt hết cây này đến cây khác cho đến khi cây cuối cùng trên đảo cũng biến mất.
Rồi họ ăn đến con chuột cuối cùng.
Khi toàn bộ tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, trong tiệt vọng, họ quay lưỡi dao về phía chính đồng đội của mình chỉ để có thứ lấp đầy bụng.
Cuối cùng, cả nền văn minh tự hủy diệt trong máu và lửa.
Đạo Phục Sinh được gọi là cây rốn của thế giới.
Khoảng cách từ đây đến lục địa gần nhất cũng hơn 3.000 km.
Nó chỉ là một hòn đảo hình tam giác cô độc giữa đại dương với nguồn tài nguyên vô cùng hữu hàn.
Còn trái đất thì sao?
Giữa vũ trụ mênh mông, chẳng phải chúng ta cũng đang sống trên một hòn đảo cô lập tương tự hay sao?
Vậy việc con người khai thác dầu mỏ theo kiểu tận diệt, phá hủy hệ sinh thái,
liệu có giống với những cư dân ngu ngốc trên đảo Phục Sinh từng chặt sạch 16 triệu cây cọ của họ?
Quả thực, Đài Mần đã mô tả đảo Phục Sinh như một ví dụ hoàn hảo về thảm họa sinh thái,
một câu chuyện khiến người ta dùng mình.
Và sau đó, nó gần như trở thành một thứ kinh thánh của chủ nghĩa bôi trường,
thống trị giới học thuật suốt hơn 20 năm.
Nhưng nếu nghiên cứu mới nhất cho thấy tất cả những điều đó đều sai thì sao?
Một nhà khoa học tên là Calipo đã sử dụng các nghiên cứu mới nhất để nói với chúng ta rằng
những cư dân trên đảo hoàn toàn không ngu ngốc.
Ngược lại, người ngu ngốc có lẽ chính là chúng ta.
Bởi những cư dân ấy sở hữu một hệ thống tri thức sinh tồn đáng kinh ngạc,
đến mức có thể đem ra so với công nghệ sinh tồn khi con người định cư trên xa hỏa.
Và nếu một ngày nhân loại thực sự muốn thoát khỏi nhà tù cô đảo mang tên trái đất này,
có lẽ chúng ta lại phải học từ chính những người từng bị coi là nguyên thủy ấy.
Vậy đây rốt cuộc là một cú đảo ngược khoa học như thế nào?
Chúng ta sẽ làm rõ tất cả trong video ngày hôm nay nhé!
Calipo là một nhà học của học người Mỹ.
Năm 2010, ông mang theo những thiết bị radar nặng nề đặt chân lên đảo phục sinh.
Khi ấy, lý thuyết của Jared Diamond đang ở thời kỳ cực thi.
Trong mắt công chúng, câu chuyện về đảo phục sinh gần như đã có một lời giải hoàn chính.
Những phào tượng ngoài khổng lồ không phải là sản phẩm của người ngoài hành tinh
hay một nền văn minh bí ẩn nào đó,
mà do chính cư dân bản địa Rapa Nui tạo nên.
Và theo cách giải thích nổi tiếng của Diamond,
chính quá trình dựng và vận chuyển những phào tượng ấy đã góp phần đầy hòn đảo đến tham họa.
Các bộ lạc được cho là đã ganh đua với nhau xây dựng tượng ngày càng lớn,
chặt ngày càng nhiều cây để lấy gỗ vận chuyển mù ai.
Cho đến khi rừng cọ bị tàn phá, tài nguyên cạn kiệt,
xã hội rơi vào đói khát, xung đột và cuối cùng là sụp đổ.
Nói cách khác, vào thời điểm Calipo đặt chân lên đảo,
rất nhiều người tin rằng bí ẩn lớn nhất của đảo Phục Sinh đã được giải quyết.
Mù ai là do người Rapa Nui xây dựng,
còn chính sự ám ảnh với mù ai lại thành một phần nguyên nhân
khiến họ tự hủy diệt nền văn minh của mình.
Ba đầu, cao lên đảo không phải là để lật đổ Diamond.
Ông chỉ định đi theo con đường nghiên cứu đã có,
thu thập thêm một số dữ liệu, hiệu trình vài chi tiết,
rồi viết một bài báo khoa học.
Thế nhưng khi thật sự cuối xuống quan sát những con đường cổ trên đảo
bằng con mắt của người có tư duy kỹ thuật,
ông vô cùng xứng sở.
Diamond từng cho rằng,
để vận chuyển những tượng mù ai nặng hàng chục tấn,
người dân trên đảo phải chặt cây,
đặt thân gỗ xuống mặt đường rồi dùng chúng làm con lăn.
Nhưng nếu dùng con lăn,
mặt đường phải tương đối bằng phẳng.
Trong khi Cat lại phát hiện mặt đứt của những con đường cổ trên đảo,
lại thường có hình chữ U hoặc chữ V.
Một cấu trúc như vậy hoàn toàn không phù hợp để lăn những thân cây lớn.
Chưa hết, phần đáy của nhiều tượng mù ai nằm dọc đường vận chuyển
lại có dạng giống chữ D,
đồng thời trọng tâm tượng hơi đổ về phía trước.
Diamond chưa thể giải thích rõ điều này.
Từ cóc độ kỹ thuật,
Cat lập tức nhận ra một khả năng rất rõ ràng.
Người Rapalui có lẽ đã sử dụng một phương pháp vận chuyển hoàn toàn khác.
Họ không cần con lăn gỗ.
Nếu không cần con lăn,
thì cũng không cần phải chặt nhiều cây.
Mà nếu việc vận chuyển mù ai đòi hỏi chặt cây rừng,
thì chẳng phải một trong những nền móng quan trọng nhất của lý thuyết Diamond
đã bắt đầu lung lay hay sao?
Cat cảm thấy khó tin.
Nhưng ngay sau đó, một đoạn video thí nghiệm kinh điển đã xuất hiện.
Có lẽ nhiều người từng nhìn thấy cảnh một bức tượng mù ai dường như đang tự đi bộ.
Thực ra, đó chính là thí nghiệm do Cat và nhóm nghiên cứu thực hiện.
Với tư duy kỹ thuật,
ngay khi nhìn thấy phần đáy hình chữ D
và trọng tâm nhìn về phía trước của tượng,
Cat đã nghĩ đến phương pháp này.
Năm 2011,
nhóm của ông dùng bê tông sao chép một bức tượng nặng khoảng 4,35 tấn.
Chỉ cần hơn chục người,
vài sợi dây thừng,
không cần dùng bất kỳ thân cây nào
và bức tượng thật sự đã bước đi.
Bằng cách kéo luân phiên từ hai phía,
họ khiến tượng lắc quả lắc lại,
từng chút một dịch chuyển về phía trước.
Như vậy, trí tuệ của người Rapa Nui đã được chứng minh.
Và lý thuyết sụp đổ của Diamond dường như cũng bắt đầu lùng lại.
Nói trí tiết hơn,
mô hình của Diamond cho rằng
những người Polynesia sau chiến hải trinh dài
đã phát hiện đã phục sinh
và sống một cuộc đời chẳng khác nào thiên đường.
Điều đó có được nhờ món quà tự nhiên khổng lồ
khoảng 16 triệu cây cọ bao phủ hòn đảo.
Với nguồn tài nguyên phong phú,
dân số nhanh chóng gia tăng.
Theo một số mô hình cũ,
vào thời kỳ cực thinh dân số trên đảo
có thể từng đạt tới khoảng 30.000 người.
Sau đó, toàn đảo được chia thành 12 nhóm bộ lạc
dưới quyền của các thủ lĩnh khác nhau.
Họ bắt đầu cạnh tranh với nhau,
cho đến khi một nhóm dựng lên bức tượng ngoài đầu tiên
để tượng trưng cho tổ tiên của mình.
Từ đó, bản tính tham lam
và tâm lý ganh đua của con người được phóng đại.
Bộ lạc này dựng tượng lớn,
bộ lạc kia phải dựng tượng lớn hơn.
Tượng càng lớn thì càng cần nhiều nhân lực và tài nguyên.
Cây càng ngày càng bị chặt nhiều.
Cuối cùng, khi 16 triệu cây cọ gần như biến mất,
những cư dân điên cuồng ấy mới nhận ra rằng
chính họ đã tự tay phá hủy thiên đường của mình.
Và lúc họ muốn rời đi,
họ kinh hoàng phát hiện chẳng còn đủ cây cọ
để đóng thuyền vật biển.
Thậm chí là đến cuối cùng,
họ còn không thể đóng nổi những chiếc thuyền nhỏ
để đánh cá ven bờ.
Bời gỗ, dây thừng, vật liệu dệt,
rất nhiều thứ đều phụ thuộc vào hệ sinh thái cây cọ.
Diamond cho rằng,
trong những tầng di tích muộn hơn,
số lượng lưỡi câu và sương cá giảm xuống,
trái cây cũng trở nên hiếm hoi.
Ngược lại,
người ta lại thấy nhiều sương chuột.
Những con chuột này vốn theo thuyền
của người Polynesia đến hòn đảo.
Khi con người tìm thấy thiên đường,
thì chuột cũng tìm thấy thiên đường.
Chúng sinh sôi với tốc độ kinh khủng.
Và theo Diamond,
cư dân thời hậu kỳ thậm chí
phải bắt chuột để ăn.
Sau đó, khi tài nguyên hoàn toàn cạn kiệt,
họ còn phải quay sang giết chính đồng loại của mình.
Những bức tượng người chim gây cho sương
cũng từng được giải thích như hình ảnh
phản chiếu sự tuyệt vọng đó.
Một ước vọng hóa thành chim
bay khỏi hòn đảo tuyệt vọng.
Có thể thấy, lý thuyết của Diamond
dựa trên một số mắt xích cực kỳ quan trọng.
Nhưng ngay khi cát bước lên đảo,
mắt xích đầu tiên đã có vấn đề.
Vận chuyển tượng dường như không cần chặt cây.
Tất nhiên, Diamond vẫn còn một cách biện hộ.
Phương pháp đi bộ có thể áp dụng với tượng nhỏ.
Nhưng những bức tượng năng hàng chục
hay hàng trăm tấn thì sao?
Có thể cuối cùng vẫn phải cần đến gỗ.
Và chỉ cần cư dân từng chặt rừng,
người ta vẫn có thể lập luận rằng
chính họ đã làm suy thoái môi trường.
Ở thời điểm ấy,
lập luận của Diamond vẫn chưa hoàn toàn bị đánh đổ.
Nhưng rồi Cát tiếp tục nghiên cứu về loại chuột.
Và chính tại đây, câu chuyện thực sự bắt đầu đảo chiều.
Trong quá trình khai quật gần bờ biển,
Cát tìm thấy hàng nghìn mạnh vỏ quả cọ
trong các tầng đất cổ.
Khi quan sát kỹ từng mảnh,
gần như tất cả đều có dấu răng chuột ly tì.
Điều này có nghĩa là chuột trên đảo
đã sống chủ yếu bằng hạt và quả cọ.
Chúng sinh sản cực nhanh.
Một con chuột cái có thể sinh ra nhiều lứa mỗi năm,
trong khi cây cọ phải mất hàng chục năm mới trưởng thành và cho hạt.
Vậy nguyên nhân thực sự
khiến hàng triệu cây cọ trên đảo biến mất là gì?
Có thể không phải chỉ đơn giản là do con người chặt phá,
mà là do chuột liên tục ăn hạt,
khiến cây cọ không thể tạo ra thế hệ mới.
Chuột không có thiên địch,
chúng khiến tỷ lệ sinh sản của rừng cọ gần như bị khóa lại.
Trong khi cư dân trên đảo để tồn tại
vẫn phải sử dụng một lượng cây nhất định để trồng trọt,
dựng nhà, đóng thuyền hay làm nhiên liệu.
Trong một hệ sinh thái bình thường,
điều đó không phải vấn đề.
Cây chết đi rồi cây mới mọc lên.
Nhưng trên đảo phục sinh,
nếu hạt cây liên tục bị chuột ăn sạch
và gần như không còn cây non mọc lên,
thì ngay cả khi không có con người,
thì sự biến mất của rừng cũng trở thành một quá trình đếm ngược.
Các nghiên cứu khảo cổ về quân thể chuột cũng cho thấy
chúng từng bùng nổ số lượng rồi suy giảm mạnh.
Đó là mô hình thường thấy
khi loài sâm nhập phát triển quá mức,
phá hủy chính nguồn thức ăn của mình
rồi sau đó tự suy sụp.
Nhưng kể cả như thế,
còn chuyện cư dân sau đó ăn chuột,
chiến tranh và tàn sát lợn nhau thì sao?
Cát tiếp tục đào sâu
và những gì ông tìm thấy
không giống một nền văn minh đang tự hủy.
Theo Diamond,
sau khi rừng cọ biến mất,
những cơn gió mạnh quét qua
khiến bề mặt đảo trở nên khắc nghiệt.
Muốn trồng tròn ở đây,
người dân phải đối mặt với 3 vấn đề lớn.
Thứ nhất, đất cực kỳ nghèo dinh dưỡng.
Đảo phục sinh vốn được hình thành
từ 3 núi lửa.
Lớp đất trên bề mặt thiếu chất hữu cơ
và nhiều dưỡng chất dễ bị rửa trồi.
Rất giống một vùng đất chết.
Thứ hai, là khó giữ nước.
Nước trên bề mặt dễ bị gió
và ánh nắng làm bốc hơi.
Trong khi nền điện chất núi lửa sốt
khiến nước nhanh chóng thâm xuống dưới.
Thứ ba, là gió mạnh.
Khi rừng cây giảm đi,
bề mặt trở nên trống trải,
gió biển có thể làm tổn thương những mầm cây non.
Muốn trồng khoai lang, khoai môn
và nhiều loại cây khác trong điều kiện như vậy
là điều rất khó khăn.
Những khi Calipo
cùng các nhà nghiên cứu sử dụng ảnh nhiệt
khảo sát địa hình và phân tích đất,
họ nhận ra rằng
những lớp đá tưởng như lộn sột ấy
có thể là một phần của hệ thống canh tác phù đá
cực kỳ tình vị.
Đó không phải dấu hiệu của sự lời biếng
mà là một dạng kỹ thuật cải tạo ngôi trường
mà hiện nay người ta vẫn đang áp dụng.
Có thể chia thành 3 kỹ thuật chính.
Kỹ thuật thứ nhất,
kho chứa nước dặn dắn.
Người dân cố ý đập đá núi lửa
thành các mảnh nhỏ
rồi rải lên bề mặt ruộng.
Ban ngày, lớp đá giúp che phủ mặt đất,
giảm tác động trực tiếp của ánh nắng
và làm giảm sự bức hơi nước.
Ban đêm,
nhiệt độ bề mặt đá giảm nhanh.
Hơi ẩm trong không khí có thể ngưng tụ trên đá
thành những giọt nước nhỏ
rồi chảy xuống các khe,
bổ sung độ ẩm cho vùng rễ cây.
Nói cách khác,
người Rapa Nui đã tạo ra một hệ thống giữ ẩm
và khai thác nước từ môi trường
mà không cần máy bơm hay đường ống.
Kỹ thuật thứ 2 là
một hệ thống phân bón nhả chậm bạc đá.
Đất trên đảo phục sinh nghèo dinh dưỡng.
Nhiều khoáng chất quan trọng
đã bị nước mưa rửa trôi trong thời gian dài.
Về lý thuyết,
đây không phải là nơi lý tưởng để trồng khoai lang.
Nhưng cư dân trên đảo nhận ra rằng
mặc dù lớp đất mặt nghèo dinh dưỡng,
những mảnh đá núi lửa mới
lại chứa nhiều khoáng chất.
Vì vậy, họ liên tục khai thác,
đập nhỏ đá,
rồi trộn vào với đất canh tác.
Đó không phải là vì họ không biết dọn đá,
mà ngược lại,
họ đang chủ động bón khoáng cho đất.
Trong quá trình phong hóa,
các mảnh đá từ từ giải phóng
những nguyên tố khoáng vào đất.
Đó gần như là một loại phân bón nhả trộm tự nhiên.
Còn kỹ thuật thứ 3 có tên là manavai.
Ngoài việc phủ đá
và bổ sung khoáng chất,
Calipo còn phát hiện ra
trên khắp hòn đảo có hàng nghìn vòng tường đá hình tròn.
Người địa phương gọi chúng là manavai.
Trước đây, có người từng cho rằng
đây là chuồng gia súc
hoặc buộc dạng công trình phòng vệ.
Nhưng khi bước vào bên trong,
các nhà nghiên cứu nhận ra rằng
thực chất đó là những vì khí hậu nhân tạo.
Trên một hòn đảo liên tục bị gió mạnh quét qua,
những loại cây mềm yếu như khoai môn
rất khó sống sót ngoài trời.
Vì vậy,
cư dân Rapa Nui dựng quanh từng khu trồng trọt
một vòng tường đá.
Những bức tường ấy chăn gió, giữ nhiệt,
hạn chế mất nước,
tạo ra một môi trường nhỏ ổn định hơn bên trong.
Nói một cách hình tượng,
người dân đã phục sinh
đã xây cho những cây trồng quý giá của mình
những pháo đài bằng đá riêng biệt.
Những bức tường đá chặn luôn
gió biển lạnh bốt,
đá bên trong hấp thụ nhiệt vào ban ngày,
rồi từ từ tỏa ra,
tạo thành một vùng vì khí hậu riêng biệt
vừa ấm vừa ẩm.
Đây là những cư dân ngu ngốc sao?
Rõ ràng đây là trí tuệ
ở cấp độ sinh tồn liên hành tình.
Nhưng những người ủng hộ Diamond
vẫn còn một lập luận khác,
đó là diện tích đất cành tác quá ít.
Hãy nhìn vào chính báo cáo nghiên cứu này.
Những chấm màu vàng trên bản đồ
là các khu vực cành tác.
Tính hết lại,
chúng chỉ chiếm khoảng
0,46% diện tích toàn đảo.
Một diện tích nhỏ như vậy
làm sao có thể nuôi sống hàng chục nghìn cư dân?
Calipo sẽ giải thích thế nào đây?
Nên tháng 9 năm 2024,
khi cuộc tranh luận vẫn đang diễn ra,
một nhóm nghiên cứu
từ Đại học Copenhagen công bố thêm
dữ liệu di truyền về cư dân Rapa Nui cổ đại.
Họ phân tích DNA của 15 người cổ đại trên đảo
và sử dụng các mô hình di truyền quân thể
để tìm dấu vết của cái
gọi là nút thắt của chai dân số.
Nguyên lý rất đơn giản.
Nếu một quân thể từng có dân số cực lớn,
sau đó bất ngờ sụt giảm xuống
chỉ còn một phần rất nhỏ,
thì sự kiện ấy sẽ để lại dấu vết rõ ràng
trong cấu trúc xen của các thế hệ sau.
Hãy tưởng tượng
có một chiếc bình chứa rất nhiều viên bi đủ màu.
Mỗi màu tượng trưng
cho một nhóm biến thể di truyền.
Nếu bạn đột ngột chỉ lấy
một lượng rất nhỏ bi từ chiếc bình lớn
để tạo thành quân thể mới,
thì tỷ lệ màu sắc sẽ thay đổi rõ rệt.
Sau đó,
dùng những viên bi ấy tiếp tục sinh sôi
thành một quân thể lớn hơn.
Dấu vết của lần thu hẹp ban đầu vẫn còn đó.
Đó chỉ là nguyên lý
của hiệu ứng nút thắt cổ chai.
Nhưng khi nhóm
nghiên cứu tinh toán dữ liệu DNA của Rapa Nui,
họ không tìm thấy bằng chứng
rõ ràng cho một cuộc sụp đổ
dân số khổng lồ trước khi người Châu Âu xuất hiện.
Các mô hình mới cho thấy
dân số trên đảo có thể chỉ
giao động ở quy mô vài nghìn người trong thời gian dài.
Nói cách khác,
có thể chưa bao giờ tồn tại một xã hội
20.000 hay 30.000 người trên đảo
để rồi đột ngột rời xuống
còn khoảng 1.500 người
như câu chuyện Diamond từng mô tả.
Vậy tại sao diện tích
canh tác chỉ chiếm khoảng 0,46%?
Bởi nếu dân số thực tế
chỉ ở mức vài nghìn người,
thì lượng lương thực từ những khu vườn đá
cộng với hải sản đánh mắt ven bờ
và các nguồn thực phẩm khác
hoàn toàn có thể duy trì cộng đồng đó.
Như vậy, toàn bộ câu chuyện
về một dân số bùng nổ, sống xa hoa,
cạnh tranh điên cuồng rồi tự hủy diệt
vì tái nguyên cạn kiệt
bắt đầu trở thành một giả thuyết
ngày càng khó đứng vững.
Người ra phát nuôi có thể không tham làm,
không phong túng,
và đảo phục sinh có lẽ chưa bao giờ
có quy mô dân số 20.000 đến 30.000 người
như một số ước tính cũ.
Tiếp theo là cột thứ 3
trong lý thuyết sụp đổ của Diamond.
Những hình tượng chim gầy guộc
đại diện cho sự tuyệt vọng
của cư dân muốn thoát khỏi nơi này.
Điều này thực ra dễ kiểm tra hơn nhiều.
Chỉ cần xác định niên đại của chúng,
kết quả cho thấy
một số hình tượng và truyền thống
liên quan đến người chim
lại xuất hiện trong những giai đoạn
được coi là thịnh vượng nhất của hòn đảo,
không hề thể hiện hình ảnh
về một xã hội đang chết đói hàng loạt
như mô tả của Diamond.
Nói cách khác,
việc nhìn thấy thân hình gầy gò
rồi lập tức kết luận rằng
đó là biểu tượng của nạn đói,
có thể chỉ là cách diễn giải của người hiện đại.
Nhưng nghiên cứu mới có đưa ra
một bằng chứng thú vị hơn,
đó là những mảnh đá
Ossidian xuất hiện khắp hòn đảo.
Trước đây,
nhiều mảnh đá nhọn được gọi là Mata'a
từng bị coi là vũ khí.
Chúng được xem như những bằng chứng
rằng cư dân trên đảo đã bước vào
một thời kỳ nội chiến và toàn sát lợn nhau.
Nhưng Kalippo và các cộng sự
đã phân tích hình dạng,
cạnh sát, dấu mai mòn
và công năng có thể có của chúng.
Kết quả cho thấy,
chúng không hề giống một loại vũ khí
được tối yêu cho chiến đấu.
Ngược lại, Mata'a
có thể là những công cụ đa dụng
của người Polynesia.
Trên nhiều đảo khác trong thế giới Polynesia,
những công cụ đá tương tự
cũng được sử dụng trong lao động thường ngày.
Chúng có thể dùng để cắt dây,
xử lý thực phẩm, canh tác,
gọt khoai hoặc thực hiện
các hoạt động nghỉ lễ.
Nhưng điều quan trọng nhất là
không có đủ cơ sở để coi toàn bộ
Mata'a là vũ khí chiến tranh.
Và nếu chúng không phải vũ khí,
thì một trong những bằng chứng
được Đài Mân dùng để kể câu chuyện
về cuộc chiến man rợ
cũng yếu đi rất nhiều.
Đến đây, có lẽ chúng ta mới thật sự
bắt đầu nhìn người Polynesia
từ một góc độ khác.
Và năm 2022,
các nhà khảo cổ công bố
một phát hiện gây chấn động từ đảo Moneo.
Một bộ xương người khoảng
31.000 năm tuổi
có dấu hiệu cho thấy
phần dưới chân trái đã bị
cắt cụt có chủ định.
Điều đáng kinh ngạc là
người này không chết ngay sau đó.
Các dấu hiệu lành xương cho thấy
họ còn sống thêm nhiều năm.
Điều đó có nghĩa là hơn
30.000 năm trước,
một cộng đồng người săn bắt hái lượm
đã có khả năng thực hiện một thủ thuật
cực kỳ nguy hiểm. Và quan trọng hơn,
sau cuộc phẫu thuật ấy,
họ tiếp tục chăm sóc một người
bị mất chân trong một thời gian dài.
Có người phải mang
thức ăn cho họ,
có người phải bảo vệ họ,
có người phải giúp họ di chuyển,
có người phải chia sẻ nguồn lực
của cả cộng đồng.
Vậy khi đảo sầu đến đây,
chúng ta ngày càng tiến gần hơn
một hình ảnh khác của đảo phục sinh.
Bạn còn dễ dàng tin vào
những cảnh tượng kinh dị
về việc cư dân ăn thịt người yếu,
giết nhau vì đói khát,
như trong câu chuyện Sụp Đổ Cũ nữa không?
Hãy nghĩ về cuộc
chinh phục Thái Bình Dương của người Polynesia.
Nếu ai cũng sống đơn độc,
nếu bản chất con người
chỉ là ích kỳ,
thì bằng cách nào họ có thể tạo nên
một không gian văn hóa rộng lớn
đến mức tam giác Polynesia
bao phủ một vùng đại dương khổng lồ?
Và từ đây,
câu chuyện về người Polynesia
bất ngờ dẫn chúng ta
đến một câu hỏi lớn hơn rất nhiều.
Nếu một ngày nào đó,
con người thực sự rời khỏi trái đất,
bay tới sao hỏa,
xây căn cứ trên một hành tinh xa lạ,
hoặc phải sống hàng chục năm
trong một con tàu giữa không gian sâu,
thì thứ quyết định
chúng ta sống hay chết sẽ là gì?
Một con tàu nhanh hơn?
Một hệ thống tái chế nước hoàn hảo hơn?
Hay công nghệ tạo oxy?
Tất nhiên,
tất cả đều quan trọng.
Nhưng vẫn còn một bài toán
khó hơn rất nhiều.
Làm thế nào để một nhóm người
bị nhốt trong một không gian nhỏ,
tài nguyên hữu hạn,
không thể quay về,
vẫn có thể sống với nhau suốt nhiều năm
mà xã hội không tán rã?
Bởi một chuyến bay
liên hành tinh không chỉ là bài toán
của động cơ và nhiên liệu,
nó còn là bài toán của chính con người.
Điều thú vị là hơn nửa thế kỷ trước,
một nhà nhân học
đã nhìn thấy câu trả lời
ở một nơi tưởng như
chẳng liên quan gì tới tên lửa
trên những chiếc thuyền gỗ
của người Polynesia.
Tên ông là Ben Finney.
Khi ấy, giới học thuật phương Tây
vẫn tồn tại một định kiến rất lớn
về khả năng hàng hải của các dân tộc
Polynesia.
Họ không có la bàn hiện đại,
không GPS, không bản đồ hàng hải
theo kiểu chầu Âu,
cũng không có công nghệ đóng tàu bằng kim loại.
Vì vậy,
nhiều học giả cho rằng
người Polynesia
không thể nào chủ động thực hiện
những chuyến hải hành dài hàng nghìn km
để tìm kiếm các hòn đảo nhỏ bé
giữa Thái Bình Dương.
Theo cách giải thích phổ biến lúc đó,
phần lớn những hòn đảo xa xôi
chỉ được phát hiện theo một cách tình cờ.
Một nhóm ngư dân
bị bão cuốn khỏi tuyến đường,
trôi giặt nhiều ngày, rồi may mắn
đâm vào một hòn đảo nào đó.
Cứ như thế, thế giới Polynesia
rộng lớn được hình thành
từ hàng loạt tai nạn ngậu nhiên.
Nhưng Ben Finney
không tin điều đó.
Nếu tất cả chỉ là tình cờ,
thì số lượng tai nạn cần thiết
để tạo nên một mạng lưới định cư
rộng khắp Thái Bình Dương như vậy
gần như là khó tin.
Finney cho rằng,
những chuyến hải hành ấy phải có chủ đích.
Và ông quyết định chứng minh
bằng một cách không thể trực tiếp hơn.
Tự mình phục dụng lại hành trình
của Polynesia.
Ông cùng các cộng sự
thành lập Polynesian
Voyagering Society
rồi chế tạo một chiếc thuyền hai thân
truyền thống mang tên Popular.
Nhưng có thuyền vẫn chưa đủ.
Họ còn cần một người
có thể đọc đại dương
theo cách tổ tiên người Polynesia từng làm.
Và người đó là
Mao Pai-lung,
một bậc thầy định hướng truyền thống
đến từ Micronesia.
Ông không cần GPS,
không cần la bàn,
không cần bản đồ điện tử.
Thường ông sử dụng là mặt trời,
các vị sao, hướng gió,
hình dạng sóng, dòng hải lưu,
mây, chim biển
và hàng loạt dấu hiệu tinh tế
mà người bình thường gần như không thể nhận ra.
Năm 1976,
Popular rơi khỏi Hawaii,
lao thẳng
vào hơn 4.000 km Thái Bình Dương
và cuối cùng cập biến
tại Tahiti.
Đó không phải là một con thuyền
bị bão thổi đi rồi tinh cơ
gặp đất liền,
mà là một chuyến hải hành có định hướng.
Khoảnh khắc ấy,
một định kiến tồn tại lâu năm gần như sụp đổ.
Người Polynesia
hoàn toàn có khả năng vượt đại dương
mà không cần những công cụ hàng hải hiện đại.
Những người từng
bị coi là nguyên thủy,
thực ra sở hữu một công nghệ khác.
Không nằm trong máy móc,
mà nằm trong trí nhớ, kinh nghiệm
và khả năng độc tự nhiên của con người.
Nhưng Finney
còn nhận ra một điều quan trọng hơn.
Một chiếc thuyền Polynesia
không chỉ là phương tiện giao thông,
mà trong nhiều chuyến định cư
nó gần như là một xã hội
thù nhỏ.
Nếu chỉ đi đánh cá rồi trở về,
họ chỉ cần những người khỏe mạnh.
Nhưng nếu mục tiêu là vượt đại dương
để lập nên một cộng đồng mới
trên một hòn đảo hoàn toàn xa lạ,
họ phải mang theo nhiều hần thế.
Trên thuyền có người biết lái,
người biết tìm nước,
người biết trồng cây,
người biết chữa bệnh,
người già mang theo ký ức và trí thức,
trẻ em mang theo tương lai của cộng đồng.
Cùng hạt giống, cây giống,
lương thực, công cụ,
và nhiều trường hợp cả lợn, chó, gà.
Nói cách khác,
trên một chiếc thuyền gỗ nhỏ bé,
họ phải mang theo một phiên bản
thu nhỏ của cả thế giới mình.
Năm 1985,
Ben Finney cùng các học giả khác
tham gia biên soạn công trình
di cư giữa các vị sao
và trải nghiệm của con người.
Trong đó,
có một tư tưởng rất đáng suy ngẫm.
Con người vốn là một loài
mở rộng không gian sinh tồn.
Tổ tiên chúng ta rời châu Phi,
đi qua những đồng bằng rộng lớn,
vượt núi, vượt sa mạc,
rồi một ngày bước xuống thuyền
và vượt đại dương.
Từ châu Lục này sang châu Lục khác,
từ đảo này sang đảo khác,
cho tới khi dấu chân
con người xuất hiện gần như khắp hành tinh.
Nếu nhìn lịch sử
theo cách ấy,
thì không gian vũ trụ chỉ đơn giản
là đại dương tiếp theo.
Và người Polynesia
có thể là một trong những ví dụ
đẹp nhất cho bản năng mở rộng đó.
Năm 1991,
giữa sa mạc Arizona
của Mỹ,
một công trình khổng lồ băng kính
và thép bắt đầu vận hành.
Tên của nó
là Biophia II,
sinh quyển II.
Ý tưởng nghe gần như hoàn hảo,
xây dựng một trái đất thu nhỏ
gần như khép kín,
có rừng, đất canh tác, nước,
bô khí quyển riêng
và nhiều hệ sinh thái khác nhau.
Sau đó đưa con người vào bên trong
để xem họ có thể sống tự cung tự cấp
trong thời gian dài hay không.
Nếu thành công,
đây có thể trở thành mô hình quan trọng
cho những căn cứ tương lai trên mặt trăng
hoặc sao hòa.
Tám người bước vào Biophia II.
Họ có khoa học hiện đại,
thiết bị đo đạt,
một công trình trị giá hàng trăm triệu đô la
và sự hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài.
Nhưng chẳng bao lâu
những vấn đề bắt đầu xuất hiện.
Oxy suy giảm,
sản lượng lương thực không đạt kỳ vọng,
một số loài sinh vật bùng phát,
một số khác biến mất,
cân bằng sinh thái
ngày càng khó kiểm soát.
Nhưng còn một vấn đề khác
cũng nghiêm trọng không kém.
Chính tám con người bên trong
bắt đầu chia thành hai phe.
Những bất đồng ngày càng sâu,
quan hệ trở nên căng thẳng.
Có người gần như không muốn nói chuyện
với thành viên thuộc phe đối lập.
Hệ sinh thái có vấn đề,
nhưng hệ sinh thái con người
cũng bắt đầu giãn nớt.
Nếu đặt Biophia II cạnh những chuyến đi
của người Polynesia,
một sự tương phản rất thú vị hiện ra.
Một bên là con người hiện đại
sống trong một công trình
trị giá hàng trăm triệu đô la
không thể cùng tồn tại.
Một bên là những cộng đồng cổ xưa
lenh đenh trên những chiếc thuyền gỗ
vượt đại dương, lập nên nơi
định cư mới và tồn tại qua nhiều thế hệ.
Điều đó không có nghĩa là
người Polynesia hoàn hảo
hay Biophia II
đơn giản là một thất bại.
Nhưng nó nhắc chúng ta rằng
công nghệ không tự tạo ra khả năng sinh tồn.
Vì vậy,
khi nói về tương lai ngoài trái đất,
có lẽ chúng ta đã quá tập trung
vào tên lửa mà quyên rằng
bài toán khó nhất có thể lại nằm
ở chính con người.
Và đó cũng là lý do câu chuyện
đã phục sinh trở nên đặc biệt.
Bởi nếu người Rappanui
thực sự không phải một xã hội ngu ngốc,
tư hủy như chúng ta tưởng tượng,
nếu họ đã thích nghi thành công
với một môi trường cô lập
và ngày càng khắc nghiệt trong nhiều thế kỷ,
thì câu hỏi phải được đặt ngược lại.
Nếu họ giỏi sinh tồn
đến như vậy,
tại sao cuối cùng nền văn minh ấy
vẫn gần như biến mất?
Câu trả lời bắt đầu vào năm 1722.
Ngày bùng 5 tháng 4 năm đó,
ba con tàu Hà Lan
do Jacob Rookerville
chỉ huy
nhìn thấy một hòn đảo nhỏ
giữa Thái Bình Dương.
Hôm ấy đúng vào chủ nhật phục sinh
và từ đó
người châu Âu gọi nơi này là
Easter Island, đảo phục sinh.
Đối với họ,
đó là một phát hiện mới.
Nhưng đối với người Rappanui,
đó có thể là khoảnh khắc thế giới cũ
của họ bắt đầu kết thúc.
Bởi từ giây phút
một hòn đảo cô lập xuất hiện trên bản đồ
của các đế quốc hàng hải,
nó không còn cô lập nữa.
Những đoàn tàu tiếp tục xuất hiện,
thường nhân xuất hiện,
những kẻ lao động xuất hiện,
rồi dịch bệnh xuất hiện.
Đầu thập niên 1860,
tham hoa thực sự ập đến.
Khi ấy,
phân chim biển hay guano
trở thành một loại phân bón cực kỳ giá trị
được gọi là vàng trắng.
Nhưng việc khai thác guano
rất khắc nghiệt, nóng bụi,
nặng nhọc và đầy mùi ammonia.
Ít người tư nguyện
tham gia công việc đó.
Vì vậy,
các tàu săn lao động bắt đầu đi khắp Thái Bình Dương
để lừa bắt
hoặc trực tiếp bắt cóc người bản địa.
Hoạt động này về sau
thường được nhắc đến với cái tên
Black Birding và đã phục sinh
trở thành một trong những nạn nhân đau đớn nhất.
Đến cuối thế kỷ 19,
trên toàn đảo
chỉ còn khoảng 111 người Rapa nuôi.
Sau đó,
các hoạt động tran nuôi thương mại
và việc kiểm soát đất đai từ bên ngoài
tiếp tục làm thay đổi hoạt đảo.
Nhiều vùng đất truyền thống bị chiếm dụng.
Cư dân bản địa
bị giới hạn trong những khu vực nhỏ.
Cầu trúc xã hội tiếp tục tan rã.
Nhiều trí thức truyền thống biến mất.
Còn Rongo-Rongo
trở thành một hệ thống ký hiệu
mà cho tới ngày này
chúng ta vẫn chưa thể giải đọc được chắc chắn.
Phần lớn
cộng đồng Rapa nuôi hiện đại
là hậu rợi của chính nhóm dân cư
nhỏ bé đã sống sót
qua thời kỳ khủng khiếp đó.
Vì vậy
nếu phải nói về một cuộc sụp đổ của đảo phục sinh
có lẽ câu chuyện thật sự
không chỉ là một dân tộc nguyên thủy ngu ngốc
đã chặt cây tới mức giết mình
mà gần với một bi kịch khác hơn.
Đó là một câu chuyện
về cộng đồng đã vượt đại dương
thích nghi với môi trường
cực kỳ khắc nghiệt
và duy trì xã hội suốt nhiều thế kỷ.
Nhưng rồi
gần như bị xóa sổ chỉ trong vài thế hệ
sau khi thế giới bên ngoài
tìm thấy họ.
Bạn cảm nhận như thế nào về người Polynesia?
Hãy để lại ý kiến
trong phần bình luận nhé!
