Tại Sao IRAN Từng Là ÔNG TRÙM GIÀU CÓ BẬC NHẤT Lại Rơi Vào Thảm Cảnh? | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại, tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Tháng 1 năm 2026, Iran chìm trong mùa đông giá lạnh.
Nhưng trên các con phố Tehran, bầu không khí lại nóng bỏng đến nghẹt thờ.
Một biến động chưa từng có đáng diễn ra.
Nếu nhìn ra toàn bộ bản đồ Iran, bạn sẽ nhận ra làn sóng phản kháng
không còn bị giới hạn trong các khu vực đại học ở thủ đô hay những khu nhà giàu phía bắc Tehran nữa.
Từ các đại đô thị cho tới tỉnh Kurdistan Sarsoi,
rồi hơn 100 thành phố vừa và nhỏ ít tên tuổi khác,
cần phẫn nộ lan rộng như cháy rừng.
Lần này, bản chất của sự việc đã thay đổi.
Trong quá khứ, các cuộc biểu tình thường bùng phát vì một chính sách cụ thể nào đó,
như tăng giá xăng hay thiếu hụt nước sinh hoạt.
Nhưng hiện tại, cơn giận dữ trong mắt người dân không còn đơn lẻ hay mang tính cục bộ,
mà đã biến thành một cảm giác tuyệt vọng mang tính toàn xã hội.
Theo số liệu chính thức, lãm phát của Iran đã lên tới 42,3%.
Với nhiều nhà kinh tế, con số này thậm chí còn đã được làm đẹp.
Trải nghiệm thực tế của người dân khốc liệt hơn nhiều.
Giá thực phẩm tăng 72%, giá thuốc men tăng 50%.
Vậy, điều đó có ý nghĩa gì?
Nó có nghĩa là tầng lớp trung lưu từng sống tương đối ổn định,
này thu nhập của họ thậm chí không đủ để duy trì mức sống tối thiểu.
Khi một kỹ sư hay giáo viên được đào tạo bài bản phát hiện ra rằng
mình không đủ tiền mua một ổ bánh mì tử tế,
hoặc không thể mua thuốc hạ sốt khi còn sốt cao,
thì nền móng ổn định của xã hội coi như sụp đổ.
Và thế là cầu hiệu trên đường phố thay đổi.
Vài năm trước, người ta còn hô,
hãy cho chúng tôi việc làm, hãy giảm giá xăng.
Mối quan tâm vẫn xoay quanh bánh mì và sinh kế.
Nhưng mùa đông này, cầu hiệu trở nên sắc lạnh bất thường
và mang tính chính trị cực mạnh.
Giữa đám đông vang lên tiếng hô,
không Gaza, không Lebanon, mạng sống tôi chỉ dành cho Iran.
Cầu hiệu ấy trực tiếp phủ nhận chiến lược mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài
mà chính quyền Iran đã tự hào suốt nhiều thập kỷ.
Nhưng đó vẫn chưa phải là đòn trí mạng nhất.
Trong khoảnh khắc phẫn nộ tột cùng,
có người đã hô một cái tên bị cấm suốt nửa thế kỷ,
Reza Shah.
Đó là lời kêu gọi hướng về chiều đại Palavi.
Với giới cầm quyền hiện nay,
không điều gì đáng sợ hơn việc người dân công khai hoài niệm
về một thời đại mà chính họ đã lật đổ.
Trên mạng xã hội lan truyền một bức ảnh mang tính biểu tượng,
có lẽ rồi sẽ đi vào lịch sử.
Trong ảnh, một phụ nữ trẻ Iran
tháo bỏ chiếc khăn trùng đầu bắt buộc.
Cô không la hét, không kích động,
chỉ lặng lẽ đứng trước chân rung lãnh tụ tồi cao Khamenei
và châm một điều thuốc.
Trong làn khói mờ,
ánh mắt cô không hề sợ hãi,
chỉ còn sự lạnh lùng và quyết tuyệt.
Sự khinh miệt im lặng ấy
còn mang tính sát thương lớn hơn cả những chiếc lốp xe cháy rực
hay những hòn đá ném trên đường phố.
Đó cho thấy hệ thống quyền lực
được xây dựng suốt nửa thế kỷ qua
đã hoàn toàn mất uy tín
trong mắt thế hệ trẻ.
Đối diện với lăn sóng quần cuộn ấy,
chí quyền Tehran trở nên lúng túng,
chống đỡ trong tiệt vọng.
Liệu Iran còn có thể chống đỡ nổi không?
Bài học sơn máu cho các quốc gia khác là gì?
Chúng ta sẽ cùng làm rõ tất cả
trong video ngày hôm nay nhé!
Trong nhiều thập điên,
Iran từng có một logic sinh tồn khá hiệu quả
đó là xoa dịu đại đa số,
chấn áp tối thiểu.
Cụ thể, họ dùng nguồn thu từ dầu mò
để trợ cấp hào phóng cho tầng lấp dưới,
duy trì cuộc sống cơ bản
và sự trung thành chính trị,
đồng thời sử dụng lực lượng an ninh hùng hậu
để đàn áp không khoan nhượng
những người phản kháng.
Nhưng giờ đây, công thức ổn định ấy
đã mất tác dụng.
Thứ nhất, biện pháp xoa dịu không còn hiệu quả
do các lệnh trừng phạt quốc tế kéo dài
và quản lý kinh tế yếu kém,
ngân khố ngày càng cạn kiệt.
Nhà nước không còn đủ tiền
để tiếp tục trợ cấp cho tầng lấp thấp.
Khi chính những nhóm
từng ủng hộ cách mạng mạnh mẽ nhất nhận ra rằng
họ thậm chí không đủ ăn,
họ lập tức biến từ người bảo vệ chế độ
thành những kẻ đào mồ phẫn nộ nhất.
Thứ hai,
hiệu quả của đàn áp ngày càng suy giảm.
Duy trì trật tự cần chi phí.
Khi biểu tình chỉ diễn ra
ở vài thành phố,
việc tập trung lực lượng chấn áp còn khả thi.
Nhưng khi hơn 100 thành phố
đông loạt bùng nổ,
lực lượng an ninh trở nên quá tài.
Quan trọng hơn cả,
khi người dân không còn đủ sống,
nỗi sợ bị bắt hay bị giảm giữ
cũng giảm đi đáng kể.
Nếu ở ngoài cũng chết đói,
thì chết đói trong tù khác gì nhau.
Chính quyền Iran hiện đang
bắt kẹt trong một thế bề tắc chết người.
Muốn soa dịu dân chúng thì cần tiền,
nhưng họ không có tiền.
Muốn đàn áp mạnh tay hơn,
thì cần chi phí quản trị
và cái giá chính trị cao hơn.
Nhưng điều đó đã vượt qua
giới hạn chịu đựng vật lý của chế độ.
Iran,
quốc gia gần 90 triệu dân,
nơi sở hữu một trong những chữ lượng dầu mọ
hàng đầu thế giới,
đứng trên nền tảng của nền văn minh
34 huy hoàng hàng nghìn năm,
lẽ ra phải là quốc gia giàu có
và hiện đại nhất Trung Đông,
là con sư tử 34 thực thụ.
Vậy bằng cách nào mà đất nước ấy
từng bước rơi vào tình trạng ngày hôm nay?
Vì sao người dân Iran
lại chìm trong nội loạn
và áp lực bên ngoài?
Vì sao quốc gia của hy vọng
lại biến thành một vùng đất kiệt quệ sinh kế?
Để tìm câu trả lời,
chúng ta phải quay ngược thời gian
về nửa thế kỷ trước,
nhìn lại cuộc cách mạng trắng
đã thay đổi mọi thứ
và một Iran từng chỉ còn một bước ngắn
là chạm tới hiện đại hóa.
Nếu đứng trên đường phố Tehran
đầu những năm 1970,
bạn sẽ có cảm giác như bị lạc trong không gian,
thời gian.
Bạn có thể tưởng tượng mình đang ở Paris,
London hay Beirut thời Hoàng Kim.
Những con đường rộng rãi,
sạch sẽ,
hai bên là các quán cà phê thời thượng
và trung tâm bách hóa hiện đại.
Điều gây ấn tượng mạnh nhất
chính là hình ảnh phụ nữ trên phố.
Họ để tóc ngắn hợp mốt,
mặc váy ngắn hoặc quần jean bò sát,
tự tin xảy bước trong khuôn viên đại học
và các tòa nhà băn phòng.
Thời đó không có áo tràng đen,
không có cảnh sát đạo đức
cũng không có việc bắt buộc che khăn trùm đầu.
Và không cảnh ấy
không chỉ tồn tại trong một nhóm tinh hoa nhỏ bé
mà đang làn rộng ra toàn bộ
tầng lớp trung lưu đồ thị.
Trong những bức ảnh lịch sử còn xót lại
từ thời kỳ đó, ta thấy phụ nữ
Iran mặc đồ bơi phơi nắng trên bãi biển,
nữ sinh và nam sinh ngồi cạnh nhau
đọc sách trên thảm cỏ Đại học Tehran.
Nữ phi công điều khiển máy bay
lao vút lên bầu trời.
Trong ánh mắt họ ánh lên niềm tin rực rỡ,
tất cả tạo nên một sự đối lập tàn nhẫn
với ngày hôm nay.
Trên đường phố Iran hiện tại
là những đôi mắt ẩn rời áo tràng đen,
canh rác, bị đè nén,
thậm chí là tuyệt vọng.
Vua Pahlavi không phải là một bạo chúa
chỉ biết hưởng lạc.
Trái lại, ông là một người thúc đẩy hiện đại hóa
với tham vọng cực lớn,
thậm chí có thể gọi là một nhà lý tưởng cấp tiến
và nóng vội.
Ông hiểu rất rõ ràng căn nguyên của sự lạc hậu Iran
nằm ở chế độ phong kiến ruộng đất.
Khi ấy, phần lớn đất canh tác
nằm trong tay một nhóm rất nhỏ
các đại địa chủ và giới giáo sĩ.
Hàng triệu nông dân sống phù thuộc
vào ruộng đất như nông nộ.
Để phá vỡ thế bế tắc đó,
Pahlavi thể hiện một quyết đoán hiếm thấy.
Ông chọn tự mô xe chính quyền của mình,
cải cách sở hữu tư nhân được triển khai,
công nhân được khuyến khích nắm giữ cột phần.
Với nguồn đô la dầu mỏ
dồi dào làm bệ đỡ,
kinh tế Iran tạo nên một kỳ tích.
Trong suốt thập niên 1960
tốc độ tăng trưởng kinh tế
trung bình hàng năm của Iran
liên tục duy trì trên 15% suốt hơn 10 năm.
Khi đó, Iran không chỉ sản xuất ô tô,
mà còn xây dựng được
các ngành công nghiệp hóa dầu,
thép và điện tử hoàn trình.
Tuổi thọ trung bình tăng mạnh,
tỷ lệ mùa trữ giảm nhanh.
Trong thời kỳ ấy,
đường cong tăng trưởng của các chỉ số kinh tế
chủ chốt của Iran hướng thẳng tới
các quốc gia phát triển châu Âu.
Tháng 10 năm 1971,
triều đại Palavi bước vào khoảnh khắc
huy hoảng nhất,
đồng thời cũng gieo mầm cho sự huy diệt.
Để kỷ niệm 2.500 năm
ngày thành lập đế quốc Ba Tư,
nhà vua quyết định tổ chức một yến tiệc
chưa từng có tại cố đô Persepolis.
Đây là lễ hội nhằm phô diễn
trước thế giới mọi thành tựu
của sự phục hưng Iran.
Giữa sa mạc, một thành phố liều chạy sa hoa
được dựng lên từ con sâu không.
Những chiếc liều do các nhà thiết kế Pháp thực hiện.
Bên trong trang trí bằng lụa và pha lệ.
Hàng chục tấn thực phẩm,
rượu vàng, thậm chí cả đá lạnh
đều được vận chuyển bằng đường hàng không
từ nhà hàng Maxim danh tiếng ở Paris.
Cả thế giới rồn ánh nhìn về nơi đây.
Hơn 60 vị vua,
hoang hậu, tổng thống
và thủ tướng tham dự buổi yến tiệc.
Ngay cả Mỹ và Liên Xô
khi đó đang đối đầu gây gắt
trong chiến tranh lạnh,
cũng đều cư đại diện cấp cao.
Tạp chí tham của Mỹ và Newsweek
dành những lời ca ngợi không tiếc,
mô tả Iran như trụ cột
ổn định của Trung Đông
và ngọn hải đăng của hiện đại hóa.
Các chính khách phương Tây
giữa những toàn tính chẳng chịt,
nhìn nụ cười đầy tự tin của vua Pahlavi
và cùng rơi vào một ảo tượng.
Họ tin rằng
mình đang chứng kiến sự trỗi dậy
của một cường quốc thế giới mới.
Họ tin rằng dưới sự dẫn dắt của Pahlavi,
Iran đã bước lên con đường văn minh
hiện đại một cách không thể đảo ngược.
Nhưng tất cả đã bị làm mờ mắt
bởi sự phồn hóa ấy,
kể cả chính nhà vua.
Bên ngoài những chiếc liều vàng son,
bên ngoài vành đai an ninh nghiêm ngặt,
sự bất mãn đang âm thầm lên men.
Các thường nhân truyền thống
trong chợ bà già phẫn nộ trước sự trỗi dậy
của siêu thị hiện đại.
Giới giáo sĩ Nguyên Rùa vì quyền lực bị tức đoạt.
Đêm cuối cùng trước khi con tàu
leo lên đỉnh cao,
buổi dạo vũ vẫn rực sáng ánh đèn,
ca múa tưng bừng.
Không ai nhận ra rằng
bóng tàu dưới chân đã bắt đầu nghiêng,
rằng vực sâu đang há miệng
cho nước trưởng quốc gia
từng được coi là bất khả xâm phạm này.
Muốn hiểu vì sao
triệu đại Palavi lại sụp đổ
nhanh như một lâu đài cát,
chúng ta không thể chỉ nhìn vào những con số
kinh tế hào nhoáng.
Ta cần hướng ánh mắt xuống mảnh đất khô cằn
dưới chân Iran,
và những quy luật xã hội đã hình thành
trên mảnh đất ấy suốt hàng nghìn năm.
Dù Iran sở hữu khoảng 18 triệu hectare
đất canh tác,
nhưng bên trong đó tồn tại một vấn đề trí mạng
thiếu nghiêm trọng nguồn nước tưới ổn định.
Chỉ một phần rất nhỏ đất đai
được hưởng nước từ sông ngòi
hoặc mạch ngầm,
phần lớn còn lại là đất khô,
phụ thuộc hoàn toàn vào mưa.
Điều này có nghĩa là suốt hàng nghìn năm
lô dích sinh tôn của nông dân Iran
chỉ có thể trông chờ vào ông trời.
Mưa nhiều hơn một chút
thì cả năm còn sống được,
mưa ít đi một chút là cả gia đình
phải chịu đói,
thậm chí phải bỏ xứ chạy nạn.
Với một nông dân bình thường,
chỉ cần một chút biến động xã hội
hay một sai lầm chính sách nhỏ
cũng có thể trực tiếp đe dọa đến sinh mạng
của cả gia đình.
Cảm giác bất an cực độ ấy
đã khắc sâu vào gen của dân tộc này.
Vì thế, họ theo bản năng bài xích
những cải cách quá cấp tiến
và có xu hướng lựa chọn
chiến lược sinh tồn bảo thủ
dựa vào cộng đồng.
Họ không tin vào những bánh vẽ xa xôi
mà nhà vua ở thủ đô hứa hẹn.
Thứ họ tin tưởng
chỉ là những gì nhìn thấy được,
sơ nắm được ngay bên cạnh mình.
Trong xã hội cổ đại kéo dài hàng nghìn năm,
khi thiên tai xảy ra,
ai cứu nông dân?
Nhà vua thì quá xa, quăn lại thì quá tham.
Thứ duy nhất họ có thể nước tượng
chính là nhà thờ Hồi giáo.
Điều này chạm tới
lõi cấu trúc xã hội của Iran.
Tôn giáo không chỉ là tín ngưỡng
mà còn là một hệ thống tương trợ xã hội chặt chẽ.
Iran theo Hồi giáo dòng Sia
khác với Sunni.
Sia có hệ thống giáo sĩ độc lập hơn
và năng lực tài chính riêng.
Các giáo sĩ Sia
có quyền hợp pháp thu thuế tôn giáo khung
từ tín độ.
Khoản tiền này không cần nộp cho nhà nước
mà do giáo hội toàn quyền sử dụng.
Khi có tiền, nhà thờ Hồi giáo
bắt đầu đảm nhiệm chức năng của một chính quyền cơ sở.
Ở những vùng đông thôn hẻo lánh
hay các khu ổ chuột trong thành phố,
nhà thờ không chỉ là lãnh tụ tinh thần
mà còn là thầm phán,
giáo viên, bác sĩ tâm lý
và nhà tử thiệt.
Gia đình hết lương thực, nhà thờ phát cứu trợ.
Xảy ra tranh chấp hàng xóm,
nhà thờ đứng ra phân xử.
Tinh thần bế tắc,
nhà thờ trở thành phòng khám tâm lý duy nhất.
Suốt hàng trăm năm,
khi nhà nước gần như vắng mặt trong dịch vụ công,
chính mạng lưới tôn giáo
đã giữ Iran không sụp đổ.
Đây là cái gọi là
nền móng văn hóa xã hội.
Khi làn sóng nông dân đổ vào thành thị,
ai tiếp nhận họ?
Vẫn là nhà thờ Hồi giáo.
Các nhà thờ trong thành phố trở thành
biến tranh bão duy nhất của những người nông dân nộc cư.
Trong những buổi tu học âm thầm ấy,
cảm giác bất mát của họ
tìm được lối thoát.
Các giáo sĩ nói với họ rằng,
nỗi đau của các anh không phải vì thiếu kỹ năng,
cũng không phải vì cái giá tất yếu
của chuyển đổi kinh tế,
mà vì nhà vua là kẻ xấu,
vì ông ta độc quyền quyền lực,
vì mọi yêu cầu chia sẻ quyền lực
đều bị coi là thách thức hoàng quyền.
Và nhà vua rơi vào nghịch lý
của một nhà độc tài.
Ông muốn biến Iran thành cường quốc công nghiệp
lớn thứ 5 thế giới,
nhưng công cụ ông dùng để cai trị đất nước
lại vẫn là chính trị cung đình cổ xưa.
Kinh tế càng tự do,
xã hội càng đa dạng,
thì chính trị lại bị siết chặt hơn.
Đây chính là cái gọi là kéo cắt
nổi tiếng của Iran.
Nhà vua giải tán toàn bộ
các đảng phái hiện có,
lập ra đảng hợp pháp duy nhất,
đảng phục hưng quốc gia.
Ông yêu cầu mọi công dân Iran
bắt buộc phải gia nhập,
nếu không sẽ bị coi là kẻ phản bội.
Đây là một quyết định cực kỳ ngu ngốc.
Ông đã ép những người vốn không hề
quan tâm đến chính trị,
chỉ muốn sống yên ồn,
đứng hẳn về phía đối lập với chế độ.
Nhà vua nghĩ rằng,
chỉ cần ai cũng đột đơn vào đảng
thì đất nước sẽ đoàn kết.
Nhưng ông không hiểu rằng,
đằng sau sự trung thành giả tạo ấy
là sự chán ghét hoàng quyền
của cả xã hội.
Để duy trì quyền lực,
vua Pahlavi dựa vào Savak,
bộ máy mật vụ khổng lồ,
gieo rắc nỗi sợ khắp xã hội bằng giám sát,
bắt bớ và trà tấn.
Trong khi đó, hoàng gia Pahlavi
coi Iran như máy rút tiền,
trục lợi từ dầu mỏ,
độc quyền và hoa hồng.
Doanh nghiệp nước ngoài muốn làm ăn
buộc phải chia trác.
Ngịch lý xảy ra khi tầng lớp
trung lưu do chính chế độ nuôi dưỡng
lại quay lưng sớm nhất.
Được hưởng hiện đại hóa,
nhưng căm ghét độc tài, mật vụ và tham nhũng.
Ban đầu họ đồng cảm,
ủng hộ phong trào với hy vọng dân chủ.
Nhưng khi khẩu hiệu tôn giáo
cực đoan và bạo lực bùng phát,
họ bắt đầu hoảng sợ.
Từ nửa quay năm 1978,
sân bay Marabat ở Tehran
mỗi ngày đều trật kiến người.
Đó là tầng lớp tinh hoa của Iran.
Bác sĩ, kỹ sư,
giáo sư, đại thương gia.
Họ ban tháo mọi tài sản có thể mang theo,
đổi thành đô la hoặc vàng,
rồi kéo cả gia đình bay sang
London, Paris và Los Angeles.
Đó là một cuộc bốc hơi
xã hội khủng khiếp.
Giống như một nồi nước đang sôi,
những phân tử hoạt động mạnh nhất
dưới tinh hoa và chi thức
bốc hơi thoát giả trực tiền.
Để lại phía sau chỉ còn lại
những cặn lắng ngày càng đục ngầu.
Khi lực lượng trung gian của xã hội
rút lui, Iran mất hẳn vùng đêm.
Một bên là chính quyền
đã hoàn toàn mất lòng dân.
Một bên là tầng lớp dưới phẫn nộ,
bị ngọn lửa cuồng tín tôn giáo thổi bùng.
Giữa hai cực đó không còn
tầng lớp lý tính nào để điều hòa.
Đại sụp đồ trở thành điều
không thể tránh khỏi.
Tháng 1 năm 1979,
vị vua Pahlavi tuyệt vọng
lặng lẽ lên máy bay rời Iran
bay sang Ai Cập.
Ông vừa rời đi, hệ thống phòng tuyến
tưởng chừng vững chắc của đế quốc
sụp đổ như tuyết lờ.
Thứ sụp đổ đầu tiên chính là quân đội.
Pahlavi từng hứa hẹn
về một mùa xuân tự do.
Nhưng tháng 2 năm 1979,
khoảnh khắc Khomeini bước xuống
chiếc máy bay của Air France
tại sân bay Tehran.
Mọi thứ đã hoàn toàn đổi khác.
Cánh cửa Iran đóng sập lại.
Trong cơn đại sụp đổ ấy,
cảnh tượng đau lòng nhất
chính là số phận của phụ nữ Iran.
Chỉ vài tháng trước,
họ còn mặc bikini tăm nắng trên bãi biển Caspian
tranh luận triết học
với bạn nam trong giảng đường đại học.
Họ tin rằng tự do ấy
là điều hiển nhiên như không khí.
Nhưng chỉ sau một đêm,
cơn gió lạnh ập đến.
Trên đường phố xuất hiện những cảnh sát đạo đức cầm gậy.
Mệnh lệnh bắt buộc trung khăn được bàn hành.
Son môi, sơn móng tay
trở thành bằng chứng phạm tội.
Tiếng cười nói giữa nam và nữ bị cầm đoán.
Khi những phụ nữ
được giáo dục hiện đại ấy cố gắng phản kháng,
họ kinh hoàng nhận ra
mình hoàn toàn cô độc.
Những người đàn ông từng cùng họ uống cà phê
đã sớm bay sang châu Âu hoặc Mỹ
đứng ở xứ người mà than thở
về sự sụp đổ của quê hương.
Đệ hơn nữa, còn vô số đàn ông
đến từ tầng lớp đáy xã hội
ăn mừng sự đào chiều quyền lực.
Trong trật tự mới này,
họ nhìn cánh cửa tự do
đóng sập trước mắt phụ nữ
rồi khóa họ lại sau lớp vải đen,
một khoa kéo dài nửa thế kỷ.
Đó chính là Iran năm 1979,
tình hòa tháo chạy,
lý tính sụp đổ.
Trong tiếng họ gieo quảng diệt,
một nền văn minh đã lạc hướng
tại ngã rẽ này, rơi vào đêm tối kéo dài.
Sau khi cách mạng 1979
giành thắng lợi,
Khomeini từng vẽ ra trước dân chúng
một thiên đường lý tưởng.
Ông hứa rằng
trong Cộng hòa Hồi giao mới
không chỉ có độc lập tinh thần
mà còn có phồn vinh vật chất.
Không hiệu nổi tiếng nhất khi ấy
là tiền dâu mỏ sẽ trực tiếp
đặt lên bàn ăn của bỗi người Iran.
Ông còn hứa nước miễn phí,
điện miễn phí và nhà ở miễn phí
cho người nghèo.
Thế nhưng, nửa thế kỷ trôi qua,
những lời hứa ấy không những không được thực hiện
mà đất nước còn rơi vào một thế
bế tắc không lối thoát.
Căn nguyên của bế tắc ấy
nằm ở mô hình chính trị tôn giáo hợp nhất,
một thể chế có khiêm khuyết
ngay từ trong gen.
Nó giống như một chiếc máy tính
bị cài sai hệ điều hành,
dù có nâng cấp phần cứng đến đâu
cũng không thể chạy được chương trình phức tạp
của nền kinh tế hiện đại.
Trước hết là ý thức hệ chói chặt kinh tế.
Chính quyền mới xác lập nguyên tắc đối ngoại,
không Đông, không Tây,
chỉ có Cộng hòa Hồi giáo.
Nghe thì rất khí phách,
nhưng trong thời đại toàn câu hóa
điều đó chẳng khác nào tự xác.
Hệ thống công nghiệp hiện đại
cần phân công toàn cầu, cần công nghệ,
cần thị trường quốc tế.
Nhưng vì ý thức hệ,
Iran bị cô lập lâu dài hoặc liên tục bị trừng phạt.
Dầu mò không bán được
hoặc chỉ bán với giá rẻ mạt.
Nhà máy không mua được linh kiện,
thậm chí thiết bị hỏng hóc
cũng không có phụ tùng thay thế.
Một thị trường chỉ có khoảng 90 triệu dân
không thể duy trì chương trình công nghiệp
Vì thế, công nghiệp Iran dần tèo tóp
cuối cùng chỉ còn sống nhờ bán tài nguyên.
Thứ hai là xung đột cán bản
giữa giáo luật và kinh tế thị trường.
Cốt lõi của kinh tế thị trường hiện đại
là tinh thần hợp đồng,
lãi suất ngân hàng
và bảo vệ sở hữu tư nhân.
Nhưng những điều này thường xung đột
với luật Hồi giáo truyền thống.
Ví dụ, để tuân thủ giáo luật cấm cho vai nặng lãi,
hệ thống ngân hàng Iran
trở nên cực kỳ phức tạp và kém hiệu quả
khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn.
Nghiêm trọng hơn,
để kiểm soát các huyết mạch kinh tế,
Iran hình thành một dạng biến dịch kinh tế
đặc thù, đó là các quỹ bòn nhát.
Trên danh nghĩa,
đây là tổ chức tư thiện.
Trên thực tế, chúng là những tập đoàn
thương mại khổng lồ do lãnh tụ tôn giáo
trực tiếp kiểm soát.
Những doanh nghiệp nhà nước khoác áo tôn giáo,
chúng kiểm soát một nửa nền kinh tế Iran,
từ dầu mỏ,
xây dựng cho tới cả nước giải khát.
Điều thèn chốt là
chúng không phải nộp thuế,
không chịu kiểm soát nhà nước,
và chỉ chịu trách nhiệm trước lãnh tụ tối cao.
Với đặc quyền đó,
các quỹ này chèn ép khu vực tư nhân.
Một doanh nhân Iran bình thường,
dù làm ăn giỏi đến đâu,
một khi doanh nghiệp lớn mạnh,
sớm muộn cũng sẽ đụng trần giáo luật.
Nếu không chịu dựa dẫm vào giới quyền lực tôn giáo,
việc làm ăn không thể tiếp tục.
Điều này tạo ra một nghịch lý tàn nhẫn là
để bảo vệ tinh thần thuần khiết
của thần quyền,
logic phát triển kinh tế buộc phải bị hy sinh.
Nếu coi vấn đề thể chế là bệnh mãn tính,
thì việc vắt kiệt toàn diện
trong đối nội và đối ngoại
chính là cơn suất huyết cấp tính hiện nay.
Dù sở hữu nguồn tài nguyên dầu mọc khổng lồ,
số tiền ấy không được dùng
để cải thiện đời sống dân sinh,
mà bị hai hố đen khổng lồ hút cạn.
Hố đen thứ nhất
là xuất khẩu cách mạng.
Để tranh giành quyền lực ở Trung Đông,
Iran theo đuổi chính sách mở rộng
ảnh hưởng trong nhiều thập niên
từ Hezbollah ở Lebanon,
Houthi ở Yemen,
cho tới chế độ Assad ở Syria.
Mỗi năm Iran đều rót hàng chục tỷ đô tiền
và vật tư cho các đồng minh
ở nước ngoài.
Với các chiến lược gia Tehran,
đó là cây giá cần thiết để xây dựng
vành đai Sia.
Nhưng với người dân Iran không đủ tiền mua thịt,
đó chẳng khác nào cắt thịt mình
để nuôi sói của kẻ khác.
Hố đen thứ hai
là chi phí duy trì ổn định khổng lồ.
Lực lượng vệ binh cách mạng
không chỉ là một đội quân,
mà là một tập đoàn lợi ích khổng lồ.
Để bảo vệ chế độ,
Nhà nước phải nuôi quân đội, cảnh sát,
dân quân và mạng lưới tình báo đổ sổ.
Hai hố đen,
một ngoài, một trong,
đã rút cạn ngân khố Iran.
Hệ quả của sự vắt kiệt ấy
là sự phản đòn tàn nhẫn
và nền tảng ủng hộ chế độ.
Ai từng là lực lượng trung thành nhất
của Khomeini,
tầng lớp nghèo bị gọi là những người bị áp ức.
Trong giai đoạn đầu cách mạng,
họ thực sự nhận được một số lợi ích
như trợ cấp lương thực và năng lượng.
Nhưng nay,
vì ngân khố cạn kiệt,
chính phủ không còn đủ tiền để trợ cấp.
Để bù đắp thâm hụt,
Nhà nước chỉ còn cách in tiền
và hệ quả là làm phát phi mã.
Số liệu chính thức cho thấy
làm phát vượt qua 40%,
nhưng cảm nhận thực tế
còn cao hơn rất nhiều.
Làm phát là hình thức cấp bóc tàn nhẫn nhất
đối với người nghèo.
Những người từng giành được chút ít phẩm giá
trong hệ thống này,
giờ đây nhận ra mình chính là nạn nhân lớn nhất.
Họ từng trông chờ nhà thờ Hồi giáo cứu trợ,
nhưng giờ đây lại thấy nhà thờ
xa hoa chẳng khác gì cung điện xưa,
trong khi con cái họ
không mua nổi thuốc hạ sốt.
Khi người dân bị áp ức không còn tin
vào kẻ giải phóng,
nền tảng chính danh của chế độ
sụp đổ hoàn toàn.
Nếu là 20 năm trước,
người Iran có lẽ còn hy vọng vào các tổng thống cải cách.
Họ còn đi bỏ phiếu,
mong chọn được một lãnh đạo ôn hòa hơn,
mới lòng quản lý, cải thiện kinh tế.
Nhưng ngày nay,
sao Iran đã hoàn toàn tuyệt vọng?
Điều đó có nghĩa là
người dân không còn cầm ghét
một chính sách cụ thể,
mà đã nhìn thấu toàn bộ hệ thống.
Thế hệ trẻ hiểu rằng,
dù ai làm tổng thống,
chừng nào còn ở trong khung thân quyền,
vẫn mệnh Iran không thể thay đổi.
Mọi con đường cải lương
đã đi tới tận cùng.
Thể chế này giống như một chiếc xe cũ
lao thẳng về phía bức thầm.
Vô lăng bị khóa chết,
phanh đã hỏng.
Còn ông già giáo chủ ngồi trên ghế,
vẫn đạp ga, mơ tường có thể bay qua vực.
Những hành khách trên xe,
những người Iran tuyệt vọng,
không còn muốn sửa xe nữa.
Họ biết chiếc xe này không thể sửa được.
Sự trỗi dậy và xa xuất của Iran
không chỉ là bi kịch
một quốc gia Trung Đông xa xôi,
mà còn phản ánh những quy luật tàn khốc
và phổ quát của văn minh nhân loại.
Vì sao chiều đại Palavi
có nhiều tinh hoa được giáo dục phương Tây đến vậy?
Các nhà kinh tế,
khỉ sư, nghệ sĩ xuất sắc,
mà cuối cùng lại thua trước
những tầng lớp đáy, thậm chí là còn bù chữ.
Ở đây tồn tại
một sự thật xã hội học tàn nhẫn.
Vận mệnh một quốc gia
không được quyết định bởi nhóm bay cao nhất,
mà bởi nền móng thấp nhất
nơi đại chúng đứng về đầu.
Nói theo ngôn ngữ thống kê,
tinh hoa đại diện cho phương sai,
còn đại chúng đại diện cho giá trị trung bình.
Tại điểm nút năm 1979,
giới tinh hoa Tehran
đã bàn về xã hội học công nghiệp,
về chiết học hiện sinh,
về điện hạt nhân.
Nhưng tại vùng nông thôn mênh mông
và các khu ổ chuột đầu thị,
nhận thức của đa số người Iran
vẫn dừng ở vài trăm năm trước.
Họ không hiểu lý thuyết kinh tế phức tạp,
không quan tâm thế nào là thế tục.
Họ chỉ nghe được những lời nhồi sọ
trong nhà thờ Hồi giáo.
Khi khoảng cách nhận thức
giữa hai nhóm lớn đến mức không thể hàn gắn,
địa kịch bắt đầu xảy ra.
Lịch sử cho chúng ta biết rằng,
hướng đi của một quốc gia cuối cùng
được quyết định bởi giá trị trung bình của nhận thức.
Khi giới tinh hoa của kéo đất nước
lên một độ cao
mà đa số không thể hiểu
và không thể thích nghi,
sợi dây sẽ đứt, lực phản hồi
sẽ ném cả quốc gia rơi mạnh xuống mặt đất.
Và những người đi trước thời đại
thường có kết cục bị thảm.
Nhiều trí thức và người theo
chủ nghĩa tự do ở Iran
đã nhìn đúng hướng,
nhưng họ chạy quá nhanh,
bỏ lại nhân dân phía sau.
Nếu không chọn im lặng,
họ buộc phải trả giá
cho điểm mù nhận thức của cả cộng đồng.
Trong các cuộc thanh trừng
sau cách mạng,
những bộ óc xuất sắc nhất,
những trái tim nhiệt thành nhất
hoặc lưu vong,
hoặc gã xuống trước họng súng
đó là bì ca của những người đi trước thời đại.
Lịch sử Iran còn đập tan
quan niệm tiến bộ tiến tính
mà nhiều người vẫn tin tưởng.
Giáo dục ở nhiều quốc gia
thường ám chỉ rằng
lịch sử luôn xoán ốc đi lên.
Ngày mai nhất định sẽ tốt hơn hôm nay.
Văn minh hiện đại
tất yếu chiến thắng ngu mụy truyền thống.
Ta tưởng đó là con đường một chiều.
Một khi đã bước qua ngưỡng hiện đại hóa
thì sẽ không thể quay đầu.
Nhưng Iran dùng máu
và nước mắt để chứng minh rằng
điều đó không đúng.
Lịch sử phi tiến tính
giống như trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng tạm thể.
Kỳ nguyên ổn định và thịnh vượng
chỉ là sự may mắn ngắn ngủi,
còn hỗn loạn vô trật tự
mới có thể là trạng thái thượng trực.
Cánh cửa hiện đại hóa
có thể đóng sập bất cứ lúc nào.
Hãy nhìn những bức ảnh phụ nữ Iran
thập niên 1970.
Đó không phải là tưởng tượng về tương lai,
mà là một quá khứ
đã thực sự tồn tại.
Khi ấy họ có quyền bầu cử,
quyền ly hôn, quyền tự do ăn mặc.
Ai có thể ngờ rằng
những quyền lợi ấy có thể bị thu hồi
chỉ trong một đêm.
Ai có thể ngờ rằng
một quốc gia từng có nhà máy điện hạt nhân,
công nghiệp ô tô,
thậm chí là dự định đăng cài Olympic
lại có thể trong vài năm
thoái lui về trạng thái trung cổ của chính giáo hợp nhất.
Văn minh cực kỳ mong manh,
phồn vinh có thể bị xóa sổ
chỉ bởi một lựa chọn chính trị sai lầm.
Tự do có thể biến mất
vì sự im lặng và nhu nhược của con người.
Nó chưa bao giờ là di sản hiển nhiên,
mà là một khế ước
cần được bảo vệ cẩn trọng
và cảnh giác không ngừng.
Dù Tehran hôm nay
vẫn bị bao phủ trong mùa đông nóng bỏng,
dù phụ nữ vẫn phải liều mạng
chỉ để giành quyền lộ ra một lọn tóc,
dân tộc cổ xưa này
vẫn sở hữu một sức bền bỉ đáng kinh ngạc.
Vật lý học cho chúng ta biết rằng
khi nước trong một nồi áp xuất
liên tục sôi
trong khi nắp bị đè chặt,
kết cục chỉ có hai khả năng
hoặc nắp bị bật tung
hoặc cả chiếc nồi phát nổ,
khoảnh khắc ấy sớm muộn cũng sẽ đến.
Chỉ là khi ta nhìn vào con sư tử
ba tư đầy thương tích,
lòng không khỏi chua sót.
Bởi để chứng minh những điều lẽ ra chỉ là thương thức,
nó đã đổ quá nhiều máu,
đánh mất quá nhiều thời gian.
Và bạn thấy chủ đề ngày hôm nay như thế nào?
Hãy để lại ý kiến dưới phần bình luận nhé!
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!
