Đâu Là Giới Hạn Của DỤC GIỚI? - Vũ Trụ Quan Của Đạo Phật | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Có ai không cảm thấy kinh hãi khi nhìn vào bầu trời được chiều sáng với vô số vị sao trong đêm?
Ai không từng tự hỏi có một trí thông minh nào đằng sau vũ trụ hay không?
Ai không từng tự hỏi có phải trái đất là hành tinh duy nhất nuôi dưỡng sự sống của các tạo vật?
Đối với tôi, đây là những sự tò mò tự nhiên trong tâm thức con người.
Suốt lịch sử văn minh của loài người,
có một sự thôi thúc thật sự để tìm những câu trả lời cho các câu hỏi này.
Một trong những thành tựu lớn của khoa học hiện đại là dường như nó đã đưa chúng ta đến gần hơn bao giờ hết
một sự thấu hiểu về những điều kiện và những tiến trình phức tạp làm cơ sở cho những nguồn gốc của vũ trụ.
Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất vũ trụ này.
Như các bạn đã biết, theo thuyết Big Bang thì vũ trụ của chúng ta sinh ra từ một vụ nổ giải phóng ra một nguồn năng lượng cực lớn.
Quan điểm này được hầu hết mọi người công nhận, nhưng mô hình này vẫn vấp phải tính kỳ dị của dây đầu tiên.
Nơi mà các định luật vật lý quen thuộc bị hụt hẳn, nghĩa là trước vụ nổ xảy ra thì cái gì tồn tại.
Từ ngàn xưa đến nay, các trường phái chết học và tôn giáo từ Đông sang Tây đều có vũ trụ quan và nhân sinh quan riêng mình.
Từ đó hình thành lẽ sống và lối sống muôn màu muôn vẻ của toàn nhân loại.
Theo quan điểm phổ thông, người ta thường phân ra hai chủ thuyết, đó là thuyết duy tâm và duy vật.
Và từ hai khuyên hướng cực đoan này, lịch sử ghi nhận là chúng đã pha trộn, cọ sát, hình thành nhiều tư tưởng,
các hệ chết học, tôn giáo khác nhau và đã tạo ra các mâu thuẫn nhiều khi không thể dùng hòa.
Và đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt,
đôi khi dẫn đến những cuộc chiến tranh thanh trừng thảm khốc và đẫm máu trên toàn thế giới.
Không phải chỉ thời cổ đại mà ngay trong thời kỳ được gọi là văn minh hiện đại ngày nay.
Vào giữa thế kỷ 20, nhà bác học Einstein đã ăn chai trường suốt cuộc đời còn lại của mình và phát biểu
Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ, vươn lên mọi thần linh, giáo điều và thần học.
Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn tâm linh, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý,
xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên, vật chất và tâm linh,
trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy.
Ông cũng nhấn mạnh rằng nếu có một tôn giáo thoả mãn được những yêu cầu của khoa học hiện đại
thì tôn giáo đó là Đạo Phật.
Năm 2008, Liên Hợp Quốc đã chọn Phật giáo là tôn giáo chính thức của nhân loại
và tổ chức đại hội VESAK tại Việt Nam để kỷ niệm ngày đản sinh Đức Phật Thích Ca.
Tất cả những điều này đã đạt ra những yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu và ứng dụng
những ý nghĩa thâm sâu mà vũ trụ quan, nhân sinh quan mà Phật giáo đã đem lại cho các ngành khoa học hiện đại.
Theo quan điểm của chúng ta ngày nay, thế giới này gồm có trái đất xoay quanh mặt trời,
Thái dương hệ nằm trong dạng ngân hà, ngân hà nằm trong hệ thiên hà
và vô số thiên hà trong vũ trụ luôn di chuyển và biến dịch.
Ngành thiên văn học hiện đại đã phát hiện ra số lượng vô cùng lớn lỗ đen trong vũ trụ,
được đánh giá là nhiều hơn thế giới quan sát được, đó là cái nhìn vĩ mô.
Còn ở cấp vĩ mô, đã có thời kỳ cùng với việc phát minh ra nguyên tử,
người ta tưởng đã tìm được viên gạch cơ bản của vật chất.
Nhưng các phát hiện hiện đại đã xóa đi những ảo tượng này khi tìm thấy epsom, quốc, phản hạt, không gian nhiều chiều.
Điều này đã một con người phải xét lại triệt để quan điểm duy vật thực dụng của mình.
Các ngành khoa học khác cũng đã có những phát hiện vượt ngoài sức tưởng tượng,
trong đó đáng chú ý nhất là ngành tâm lý và phân tâm học hiện đại.
Ngoài việc ứng dụng khoa thôi miên vào việc chữa bệnh, đi sâu vào tiềm thức, vô thức,
các nhà thôi miên và phân tâm học đã đưa người bệnh trở về ký ức tuổi thơ,
thậm chí họ đã đưa được người thôi miên về tận kiếp trước để biết mình từng là ai.
Các kết quả này đã đụng chạm mạnh đến quan niệm chết là hết.
Niềm tin vào sự tái sinh, luân hồi một thời đã từng bị nhạc bán,
mỉa mai nay lại được các nhà khoa học nghiêm túc xem xét lại.
Thuyết nhân quả không còn được nhìn với góc độ khô khăn, duy vật, theo kiểu tam đoạn luận nữa,
tức là theo logic thông thường như O cộng H2 bằng H2O,
mà được nhìn lại với góc độ tổng quát, ứng dụng cả tâm thức và vật chất.
Nhân quả, luân hồi của Đạo Phật đã là cơ sở căn bản để các nhà khoa học
ứng dụng và triển khai các nghiên cứu của mình theo nhận thức hiện đại.
Những ai đã từng tìm hiểu về Phật giáo đều tróng ngợp trước kho tàng kinh,
luận, luận vô cùng phong phú của Đạo Phật và từng có những trình bày khác nhau về vũ trụ khoan của Phật giáo.
Tuy nhiên, Đại Đồng Tiểu Dị, tức là tất cả đều công nhận,
ứng với hoạt động của tâm thức sẽ có những thế giới khác nhau tương thích với nó.
Tổng hợp từ Kinh Phật, các thiền sư, luận sư chúng ta có thể trình bày mô hình thế giới đó như sau.
Toàn bộ thế giới này được chia làm ba cõi, rục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Toàn bộ chúng sinh của ba giới này vẫn phải sinh từ luân hồi,
còn những chúng sinh đã tu luyện đủ công đức sẽ thoát khỏi vòng luân hồi từ tứ thánh,
quả vị Bồ Tát và cho đến khi đạt được sự toàn giác.
Chúng ta cũng cần hiểu rằng, chúng sinh theo nghĩa của Phật giáo không chỉ riêng con người,
mà còn chỉ các chúng hữu tình có tâm thức từ con virus nhỏ bé đến các atola to lớn che được cả mặt trời.
Từ hữu hình đến vô hình, từ địa ngục cho đến cõi trời cao nhất như phi tưởng, phi tường xứ, có nghĩa là vô tận.
Nay ta sẽ điểm qua các thế giới mà các chúng sinh sẽ sống tương ứng với tâm thức của mình
và cũng cần nói rõ theo quan điểm Đạo Phật,
các chúng sinh theo kết quả của nghiệp mình đã tạo ra mà sinh ra trong các thế giới theo bốn cách khác nhau.
Sinh từ trứng gọi là loạn sinh, từ bào thai gọi là thai sinh,
từ ẩm ướt tam tối sinh ra gọi là thấp sinh và do biến hóa sinh ra gọi là hóa sinh.
Tam hữu hay còn gọi là tam giới được trình bày như sau.
Theo Kinh Tự Thệ Tam Nguội nói, ta bà thế giới có đức Phật nên năng nhân thống lãnh một cõi bao la
được gọi là tam giới gồm có 1. dục giới, 2. sắc giới, 3. vô sắc giới.
Trước tiên là dục giới, có bốn loại dục, 1. tình dục, 2. sắc dục,
3. thực dục, 4. dâm dục.
Thứ 2 là sắc giới, có 2 loại dục nơi sắc giới, 1. tình dục, 2. sắc dục,
3. vô sắc giới thì chỉ có tình dục.
Trong dục giới có bốn loại vừa nói trên, vì dục mạnh, sắc yếu nên được gọi là dục giới.
Trong sắc giới thứ 2, vì sắc mạnh, dục yếu nên gọi là sắc giới.
Trong vô sắc giới thứ 3, sắc hết, dục yếu nên gọi là vô sắc giới.
Đầu tiên là dục giới.
Trong tam giới, dục giới thuộc về xứ sở hạ phương, được mệnh danh là dục giới,
vì chúng sanh ở nơi đây nhiễm 5 thứ dục lạc, sắc dục, tiền của, danh vị, ăn mặc, ngủ nghỉ.
Dục giới cũng gọi là chỗ ngũ thú tạp cư.
Ngũ thú là trời, người, xúc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
Tạp cư có nghĩa là trong mỗi chủng loại lại có các chủng loại khác ở lật lội.
Như nơi có trời cũng có xúc sinh, quỷ thần, nơi có người có xúc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
Nếu nói đại khái theo thứ bậc thấp cao thì trong dục giới có 3 loại.
Loại ác thú, loại người, loại trời.
Ác thú có 4 loại gồm Atula, xúc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
Loại người gồm có dân chúng ở 4 nơi, Nam Thiện Bộ Châu, Tây Nguyên Hóa Châu, Đông Thắng Thần Châu và Bắc Câu Liêu Châu.
Thứ 2 là sắc giới.
Trên dục giới là sắc giới.
Cõi này nằm giữa 3 giới, gồm nhiếp hữu tình và khí thời gian.
Sở dĩ gọi là sắc giới vì chúng sinh ở cõi này lìa sự nhiễm dục.
Từ thân đến cảnh đều là sắc chất trang nghiêm, thành tịnh.
Cõi này chia ra làm 18 thiên phước khác nhau từ sơ thiền đến tứ thiền.
Chúng tôi sẽ có một video riêng nói rõ hơn về cõi này.
Cõi thứ 3 là vô sắc giới.
Trên sắc giới là vô sắc giới, cõi cao nhất trong 3 giới.
Được mệnh danh là vô sắc.
Vì nơi đây không có sắc quẩn, chỉ có thọ, tưởng, hành, thức, bốn ấm mà thôi.
Cõi này do không có sắc pháp biểu hiện, không có phôn sở,
đời quá khứ vị lai đều như thế, lý đã quyết định.
Nhưng về phần dị thuộc sinh thì có 4 bậc.
Không vô biên sứ, thức vô biên sứ, vô sở hữu sứ, phi tưởng phi phi tưởng sứ.
4 bậc này không phải có riêng sứ sở cao thấp mà dòng nghiệp chúng sinh hơi kém khác nhau.
Về thân lượng trư thiên cõi vô sắc giới, không thể nói được vì cõi này thuộc về vô hình.
Những chứng sinh tu tiên thường xa lánh sự ồn ào náo nhiệt, ưa thích nơi thanh vắng,
yên tĩnh để thanh tâm quả rục, nhằm từng bước đoạn diệt thất tình lục rục,
luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hóa hư.
Khi thành công có những hiệu quả phi thường tùy theo pháp môn đã chọn,
những vị tu theo đạo lão, yogi có thể liệt trong dạng này.
Theo nhận định nhà Phật, những chứng sinh này gần gũi đạo Phật nhất.
Mật tổng Thề Tạng còn liệt kê và xem cho một cõi nữa là cõi trung giới hay còn gọi là cõi âm,
nơi chuyển tiếp các tâm thức sau khi thác và trước khi tái sinh vào các cõi nêu trên.
Tòng tát vũ trụ qua Phật giáo như sau.
Thế giới này có nhiều chiều không gian khác nhau.
Các chiều không gian đó tương ứng với kết quả hành động của từng cá nhân,
tập thể và chủ yếu là từng tâm thức của các chứng sinh.
Loài người của chúng ta là một trong những cõi đó.
Mỗi cõi đều có những quy luật, định luật khác nhau nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại.
Thế giới chúng ta nhận thức hiện tại bằng các giác quan, lục nhập, nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt,
thân và ý hoặc bằng trợ lực của các máy móc thiết bị hiện đại.
Kính thiên văn, hiển vi, gia tốc chỉ là những kiến thức người mù xem voi.
Có một cách trình bày khác về vũ trụ có thể nói thuần vật chất.
Theo kinh Phật đã phân loại các thế giới thành 3 loại,
tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới và đại thiên thế giới.
Nói rõ hơn một chút là chữ thiên ở đây hàm nghĩa là số ngàn, không phải nghĩa là trời.
Và vũ trụ có vô số vô biên các đại thiên thế giới.
Thế giới theo nghĩa này, một ngàn thiên thể là tiểu thiên thế giới,
một ngàn tiểu thiên thế giới là trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới là đại thiên thế giới.
Như vậy, tiểu thiên gồm một nghìn thiên thể, trung thiên một triệu và đại thiên là một tỷ.
Có người lại đặt vấn đề là thế giới là một thiên hà,
vậy tiểu thiên là một ngàn thiên hà, trung thiên là một triệu thiên hà và đại thiên là một tỷ thiên hà.
Các cách trình bày này có phần hơi cực đoan.
Có lẽ, cách trình bày của Bồ Tát Phổ Hiền trong Kinh Hoa Nghiêm
là gần gũi với kiến thức ngành thiên văn học hiện đại nhất.
Lúc đó, Phổ Hiền lại bảo đại chúng ta rằng,
chư Phật tử, thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác hoặc tròn hoặc hình nước xoáy hoặc hình như hoa,
có vô số vi trần sai khác như vậy.
So sánh với tình trạng các trầm sao, các giải thiên hà, ngân hà mà khoa học khám phá gần đây,
người ta nhận thấy hình dạng giống một cách lạ lùng theo mô tả trên.
Thí dụ hình bánh xe, nước xoáy đã quan sát được trong các trầm sao Cetus, Pegasus và Hercules.
Hình sông là giải ngân hà, và trong nhiều thiên hà khác, hình dạng hoa là những khối tinh vân trong không gian liên thiên hà.
Như vậy, ta không thể biết thiên hà chúng ta hình dạng gì, vì với khả năng hiện tại,
tàu vũ trụ chưa thể bay ra ngoài thiên hà và quan sát vì bay từ đầu thiên hà này sang bên khác
phải mất hàng triệu năm ảnh sáng.
Nhưng có một mô tả khác trong Kinh Phật,
cõi ta bà ngũ trược ác thế này có hình dạng núi Tu Di, phía Bắc có Bắc cầu Lô Châu,
Nam có Nam Thiên Bộ Châu, Đông có Đông Thắng Thần Châu và Tây có Tây Ngư Hóa Châu.
Hình dạng thiên hà chúng ta có dạng núi Tu Di,
một ý niệm đầy cảm hứng và dĩ nhiên còn chờ sự xác nhận của ngành thiên văn học.
Đó là nói về không gian, còn thời gian thì sao?
Theo các nhà khoa học, thời gian là sự vận động của vật chất,
vào một năm tính theo tru kỳ trái đất quay đúng một vòng xung quanh mặt trời.
Tuy nhiên nhìn ở cấp độ vị mù thì thời gian của các thiên thể,
ngân hà và thiên hà sẽ có những cách tính sai biệt rất lớn.
Vào thế kỷ 20, những phát hiện của nhà bác học lỗi lạc Einstein
đã làm lung lay quan niệm phân chia không và thời gian một cách cơ học
bằng công thức nổi tiếng E bằng mc bì phương.
Điều này đã thiết lập mối tương quan mật thiết giữa năng lượng, vật chất và tốc độ,
cũng có nghĩa là quan hệ chặt chẽ với thời gian,
với c là tốc độ ảnh sáng được tính tròn là 300.000 km chình giây.
Từ đó, một khái niệm mới ra đời với hệ không thời gian 4 chiều,
khối lượng vật chất thay đổi khi tốc độ hay thời gian thay đổi và tại sao không.
Dĩ nhiên, đã có không gian 4 chiều thì sẽ có thể có nhiều chiều không gian khác nhau
mà các nhà khoa học đang miệt mài khám phá.
Vật giáo thì sao? Đã có phân loại như sau.
Tiểu kiếp có 16 triệu 800.000 năm. Trung kiếp có 336 triệu năm.
Đại kiếp có 1 tỷ 334 triệu năm.
Theo nhà Phật, vũ trụ này luôn trải qua các thời kỳ thành, trụ, hoạn, không.
Thành là sự bắt đầu hình thành vũ trụ tương đương vụ nổ Big Bang nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại.
Trụ là các thiên hà, ngân hà và trái đất mới hình thành và là nơi cho các chúng sinh
với muôn vàn sai biệt xuất hiện theo luật nhân quả, luân hồi và tiền hóa.
Hoạn là vũ trụ đã giả cỗi và chúng sinh cũng đi vào thời kỳ nhà Phật, gọi là mạt pháp.
Không là vũ trụ sụp đổ, tương đương thời mặt trời đã phóng hết năng lượng vật chất của mình
và lỗ đen xuất hiện, còn chúng sinh đi vào thời kỳ kỳ tô giáo, gọi là tật thế.
Nhà Phật cũng thường diễn đạt không gian bằng các câu 10 phương chư Phật.
Trong đó, 10 phương có nghĩa 8 hướng, cộng thêm phương trên và phương dưới là 10 phương.
Thật là một cách diễn đạt không gian chính xác, không bắt bẻ vào đâu được,
dù đối tượng khảo sát tọa vị tại bất cứ điểm nào trong vũ trụ.
Còn quá khứ, hiện tại, vị lai diễn đạt tình trạng vô thủy, vô chung của thời gian,
tương đương âm vô cùng đến dương vô cùng trên chục thời gian toán học hiện đại.
Hiện tại được phân tử quan nghiệm, bao gồm một nửa là quá khứ, một nửa là tương lai.
Có một cách diễn đạt thời gian khác, nhất là trồng phái thiền và mật tông.
Theo đó, thời gian là một tiểu niệm tương đương với một sát na,
và cũng tuân theo quy luật thành, trụ, ngoại, không,
nhưng với tốc độ cực nhanh trong tâm thức của mỗi chúng sinh,
có thể ví như những sóng của điện não đầu trong khoa học.
Điều này không phải là kiến thức gì đó quá cao xa, thực tế chúng ta hay dùng câu
nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, tức là một ngày trong tù dài như hàng ngàn năm vậy.
Đó là minh chứng rõ ràng kết luận rằng, tâm thức chúng ta quyết định tất cả.
Hay nói cách khác, mỗi người trong chúng ta sẽ có một cái nhìn về vũ trụ khác nhau,
tùy theo tâm thức của mỗi người.
Theo luật tăng kỳ, một cái búng tay có 20 cái nháy mắt,
một nháy mắt có 20 đại niệm, một đại niệm có 90 tiểu niệm, tức là một sát na.
Có nghĩa là một cái vải móng tay thì có 36.000 sát na đã trôi qua.
Chúng ta có thể thấy một liên hệ mật thiết giữa năng lượng, vật chất và tâm thức đã được thiết lập.
Điều này đã lý giải vì sao có những chúng sinh tu luyện đạt các khả năng phải nói là phí thường,
ngoài sức thưởng tượng, không chỉ là trong kinh sách mà ngay trong thời hiện đại.
Ngày càng có nhiều người nhập định không ăn không uống trong một thời gian dài mà sức khỏe vẫn rất tốt,
hoặc có những vị đại sư có thể ngồi kiết giả hàng tháng trời trên những đỉnh núi tuyết ở Tây Tạng.
Nhận định này rất quan trọng vì nó sẽ là văn cứ để giải thích các phần sau.
Và vụ trụ này, theo kinh lăng nghiêm, chỉ là bọt nước trên biển lớn, xin trích nguyên văn như sau.
Một phen lầm cái tường ấy là tâm thì quyết định làm cho tâm ở sắc thân,
mà không biết rằng cho đến núi sông, khứ không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tính.
Ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận cái bọt nước rồi cho nó là toàn hết cả nước,
cùng tột biển lớn.
Hoặc, nên biết, hư không sinh ra ở trong tâm ông cũng như chút mây điểm trên vùng trời,
huống là các thế giới ở trong hư không.
Kinh Kim Cương Đức Phật cũng xác định, nhất thiết hữu vi pháp như mọng, huyễn, bào, ảnh,
như lộ diệt, như điện, ưng tác, như thị quán.
Có nghĩa là tất cả pháp hữu vi như mọng, huyễn, bọt, bóng, như xương, cũng như điện, nên khởi quán như thế.
Pháp hữu vi ở đây có thể hiểu là toàn bộ thế giới, bao gồm cả vật chất, tâm thức, hữu hình và vô hình
còn trong cõi đơn hồi.
Những bí ẩn của vũ trụ là vô tận so với khả năng và giới hạn của chúng ta,
và vũ trụ này vô tận cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.
Theo các diễn đạt của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì vũ trụ này luôn dịch chuyển theo kinh dịch.
Một bộ sách cổ Trung Quốc được các nhà khoa học ca ngợi là Công thức của Vũ trụ
và Lão Tử, một chiến gia cổ đại Trung Quốc đã khẳng định trong Đạo Đức Kinh như thế này.
Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu.
Một trong những phát hiện quan trọng nhất của Phật giáo là sự biến đổi trong tâm thức của chúng ta,
quyết định vận mệnh của chính mình và sự tương quan thế giới.
Sự hiểu biết của nhân loại hiện nay còn quá xa để tìm ra câu trả lời chính xác nhất về vũ trụ.
Vì vậy, Đức Phật vẫn tuyên bố
Chân lý đó chỉ là lá trong nắm tay trước cánh rừng chân lý vũ trụ,
nhưng cũng đủ giúp cho các người giải thoát. Mỗi cá nhân hay chúng sinh đều là một vị Phật tiềm năng.
Thông thường các Phật tử đều quan niệm vũ trụ kết cấu bởi tứ đại,
đất, nước, gió, lửa, nghĩa là thuần vật chất.
Nhưng nghiên cứu sâu kinh lăng nghiêm, ta thấy Đức Phật đã xác định vũ trụ luôn tiềm ẩn
và kết cấu bởi thất đại, địa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại, không đại, kiến đại và thức đại.
Trong đó, thức đại có vai trò cực kỳ quan trọng và quan niệm này gần gũi với khoa học nhất.
Các bạn có thể thấy, để nhìn nhận thế giới một cách khách quan nhất,
chúng ta phải nhìn nhận ở cả góc độ khoa học và tâm linh.
Khoa học và tâm linh bổ túc cho nhau và không chồng đối nhau.
Cả hai khía cạnh đều hoàn toàn cần thiết và không thể thiếu được cho con người
và cho sự phát triển của tương lai.
Chiết lý Phật giáo nhờ tính chất thực dụng và sự bình dị của nó
đem lại cho con người một khôn khổ tâm linh tự nhiên cho sự thăng hoa của khoa học hiện đại.
Mỗi ngày, khoa học phát hiện ra rằng sức mạnh của tư tưởng và lời dạy thực nghiệm
của những người sống cách đây 25 thế kỷ có một tính chất thời sự đáng kinh ngạc.
Rất có thể, chúng sẽ cho phép nhân loại tự giải thoát ra khỏi những ràng buộc và ảo tưởng của mình
và cuối cùng tiến tới sự thanh thản, hạnh phúc và bình an.
Để làm được điều đó, các bạn hãy bắt đầu thiền định.
Vì nhà khoa học Mathieu Ricard đã cho thấy qua các thí nghiệm sử dụng MRI, chức năng não,
dòng thiền định tích cực và liên tục có thể thay đổi một số cấu trúc não
và nhờ sự tăng trưởng mức độ hoạt động của các cấu trúc đó,
thay đổi dài hạn hành vi của người thiền định.
Dù vũ trụ là gì, trông như thế nào, tôi vẫn mong muốn chúng ta hãy sống tử tế,
chăm chỉ tu tập hằng ngày để kiếp sống này được trọn vẹn,
đủ nghiệp thiện, bạn sẽ được tái sinh ở cõi cao hơn và cứ như thế sẽ có ngày được giải thoát.
Cảm ơn các bạn đã theo dõi đến hết video. Đừng quên bấm đăng ký kênh và bật chung thông báo.
Chúng ta sẽ đồng hành cùng nhau trong những video tiếp theo trên kênh Thế Giới Cột Đại.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!
