Kim Cang Kinh: Mật Pháp Phá Tan Vọng Tưởng Chặt Đứt Phiền Não Tu Tâm Bất Động Chạm Trí Tuệ Giác Ngộ

Sống thuận tự nhiên
442 người theo dõi
Kim Cang Kinh: Mật Pháp Phá Tan Vọng Tưởng Chặt Đứt Phiền Não Tu Tâm Bất Động Chạm Trí Tuệ Giác Ngộ
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Kinh điển Phật học, kim cang kinh, trí tuệ đoạn trừ phiền não, tu tâm không bị ngoại vật quên nhiễu, đạt tới biến bở giác ngộ.
Thưa quý vị và các bạn, có một vấn đề có lẽ nhiều người đã bỏ qua.
Đó là trong phim Tezuki, câu chuyện về việc huyền trang thỉnh chân kinh được lập đi lập lại nhiều lần.
Vậy thì chân kinh mà huyền trang thỉnh về rốt cuộc là những điển tịch nào của Phật giáo?
Phật giáo có rất nhiều kinh điển, nhưng chúng không chỉ bao gồm kinh.
Kinh điển Phật giáo theo nghĩa rộng có thể được chia thành 3 loại chính, đó là kinh, luật và luận.
Kinh thường là những lời dạy do Đức Phật Thích Cà Môn Ni thuyết giảng, đưa các đệ tử ghi chép và tập hợp lại thành pháp bản.
Ví dụ như kinh kim cang, kinh lăng nghiêm, tâm kinh, tất cả đều thuộc loại kinh.
Luật là những giới điều do Đức Phật chế định cho các đệ tử.
Luận là những bài luận bình giảng hoặc ghi chép lại tâm đắc của các vị cao tăng qua quá trình học tập và nghiên cứu kinh điển Phật giáo.
Ví dụ như Đại Thừa Khởi Tín Luận, Trung Luận, Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận v.v.
Kinh, luật và luận hợp lại được gọi là tam tạng.
Chân kinh mà Pháp Sư Huyền Trang mang từ Tây Vực về thực chất là chỉ chung các kinh điển Phật giáo bằng tiếng Phạn, bao gồm cả kinh, luật và luận.
Trong Phật giáo, nếu một vị tăng nhân thông hiểu tường tận cả kinh, luật và luận thì quả thực rất đáng kính nẻ và được tôn xưng là tam tạng Pháp Sư.
Pháp Sư Huyền Trang chính là một vị tam tạng Pháp Sư uyên bác như vậy.
Vào năm trinh quán thứ 19 tức năm 645 sau Công Nguyên, Huyền Trang lên đường trở về Đông Thổ mang theo 657 bộ kinh điển Phật giáo.
Không chỉ dừng lại ở việc mang về số lượng kinh điển đồ sộ trong suốt cuộc đời mình, Huyền Trang đã phiên dịch tổng cộng 75 bộ kinh luận với 1.335 quyển.
Tháng 10 năm hiển khánh thứ 3, năm 663 sau Công Nguyên, Huyền Trang hoàn thành việc phiên dịch bộ kinh Phật cuối cùng, Đại Bát Nhã Kinh.
Ngài cảm khái rằng, ta đến phương Đông bàn nguyện là vì kinh Bát Nhã, nay kinh đã hoàn thành, đời ta không còn gì hối tiếc.
Ngày 9 tháng riêng năm sau, Huyền Trang bị trượt chân ngã ở con mương sau nhà, sức khỏe từ đó suy yếu nhanh chóng.
Ngài viên tịch vào ngày 6 tháng 2, tức ngày 8 tháng 3 năm 664, khoảng từ 0 đến 1 giờ sáng, hơn thọ, 63 tuổi.
Bộ Đại Bát Nhã Kinh mà Huyền Trang phiên dịch có tổng cộng 600 quyển, chỉ dạy cho tất cả chúng sinh phương pháp dùng trí tuệ để thành tựu pháp thân, đạt được giải thoát.
Kinh Kim Cang là một quyển trong số đó, là tinh túy cô đọng của 600 quyển Đại Bát Nhã Kinh, là cốt lõi của tinh túy Phật Pháp, là trung tâm của trung tâm.
Vậy sự khác biệt giữa Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo Tiểu Thừa là gì?
Trong phim truyền hình Tezuki có một tình tiết như sau.
Bồ Tát Quan Âm hóa thân thành một nhà sư và nói với Đừng Tăng rằng, Pháp Sư đang giảng là giáo Pháp Tiểu Thừa, không thể độ cho vong linh siêu thoát.
Ta có ba tạng Phật Pháp Đại Thừa, có thể độ người thoát khổ, kéo dài tuổi thọ, thân thể không bị ngăn ngại.
Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo Tiểu Thừa là hai tông phái lớn của Phật giáo.
Chữ Thừa ở đây có nghĩa là cỗ xe chuyên chở thời xưa.
Đại Thừa là cỗ xe lớn, chở được nhiều người.
Tiểu Thừa là cỗ xe nhỏ, chở được ít người.
Vì vậy, Phật giáo Đại Thừa về mặt giáo nghĩa không chỉ trú trọng đến việc tu hành để tự mình thoát khỏi khổ đau luân hồi, đoạn trừ phiên áo, diệt chờ sinh tử, mà còn quan trọng việc lợi tha, tức là giúp đỡ người khác.
Trong khi đó, Phật giáo Tiểu Thừa tập trung vào sự giải thoát của cá nhân.
Do đó, Kinh Kim Cang là một kinh điển của Phật giáo Đại Thừa, có tôn trị không chỉ giúp cho tự thân giác ngộ và giải thoát, mà còn có thể mang lại lợi ích cho những người xung quanh.
Không chỉ ở Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Kinh Kim Cang du nhập và đã có một ảnh hưởng nhất định suốt dòng lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Trong đời sống tâm linh và xã hội xuyên suốt mọi thời đại, các vị thiền sư, cao tăng, vua, Phật tử có sức ảnh hưởng lớn ở nước ta hành trì Kinh Kim Cang qua các thời đại như Đỗ Pháp Phọn, Thiền Sư Vạn Hạnh, Giáo Lý Vô Niệm.
Vô vi của văn kẻ Kim Cang bắt nhã không những dừng lại ở nhiệm vụ hộ quốc an dân của vua Lý Thái Tổ mà còn ảnh hưởng đến các vị thiền sư đời lý như Thường Chủ, Quảng Nghiêm v.v.
Và các vị vua nhà Lý như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Ủy Lan Thái Phi.
Đến thời nhà Trần có vua Trần Thái Tông nhiều lần tụng Kinh Kim Cang và ngộ câu ưng vô sở trụ, nhi sinh kỷ tâm.
Đồng thời có tác phẩm Thiền Tông chỉ Nam, Tinh thần thiền học và tư tưởng của Trần Thánh Tông.
Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông sau này đều viết tư tưởng Kinh Kim Cang.
Vậy cuốn Kinh Điển Phật Giáo lừng lẫy Kinh Kim Cang này rút cuộc giảng về điều gì?
Tại sao những doanh nhân kim cổ từ Đồng Huyền Trang, Vương Dương Minh, Tô Đông Pha cho đến Tể Bạch Thạch không ai không coi đó là khuôn vàng thức ngọc để tu hành, không ngừng tụng niệm, không ngừng sao chep?
Tại sao người ta lại nói rằng cuốn Kinh này có thể giúp người tu luyện được một tâm hồn không bị ngoại cảnh chi phối đạt đến bến bò giác ngộ?
Trong video chia sẻ lần này, chúng ta sẽ tìm hiểu và khám phá về trí tuệ đoạn trừ phiền não của Kinh Kim Cang.
Kinh Kim Cang giảng về điều gì?
Tên đầy đủ của Kinh Kim Cang là Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh, là một Kinh Điển vô cùng quan trọng trong Phật Giáo, là đại pháp cân bản của Phật Học.
Chữ Kim Cang ở đây có hai tầng ý nghĩa, một là tia xét mạnh mẽ có thể xuyên thủng mọi thứ, hai là viên kim cương cứng rắn nhất.
Kinh Kim Cang giảng rằng, khi các loại phiền não ập đến, chúng ta có thể như tia xét chốc nháng xuyên thủng phiền não, lập tức nhìn thấu bản chất của chúng.
Khi đó, tâm của chúng ta sẽ như viên kim cương, không có bất kỳ phiền não nào có thể lay chuyển.
Không chỉ vậy, khi các loại cảm xúc ập đến như vui vẻ, buồn bã, chúng ta đều có thể lập tức nhìn thấu chúng, và tâm của chúng ta sẽ như viên kim cương, không bị bất kỳ cảm xúc nào chi phối.
Vậy, làm thế nào có thể như tia chốc xuyên thấu mọi hiện tượng, nhìn thấu bản chất của vạn vật?
Làm thế nào để có thể như viên kim cương kiên cố, không bị ngoại vật hay phiền não quấy nhiễu?
Kinh Kim Cang chỉ cho chúng ta, đó là nhờ vào bát nhã ba la mật.
Ba la mật nghĩa là đến bờ bên kia, bát nhã nghĩa là trí tuệ, hợp lại có nghĩa là trí tuệ để đến bờ bên kia.
Vì vậy, tiên đầy đủ của Kinh Kim Cang là Năng đoạn Kim Cang bát nhã ba la mật Kinh.
Chính cái tên này đã hàm chứa tôn trị của Bộ Kinh.
Kinh Kim Cang giảng về trí tuệ để đạt đến bến bờ giác ngộ.
Làm thế nào để đạt được trí tuệ giác ngộ?
Để đạt đến bến bờ trí tuệ, Kinh Kim Cang dạy rằng trước tiên phải quét sạch mọi danh tướng, tức là những biểu hiện bên ngoài của sự vật.
Tất cả những gì Kinh này chủ trương phá bỏ chính là danh tướng, danh tướng là tên gọi.
Con người phát minh ra ngôn ngữ và chữ viết, sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy, đồng thời đặt tên cho mọi sự vật.
Tướng là nối tượng, được nhận biết bởi sáu giác quan.
Mắt nhìn thấy cảnh vật trước mắt, cảnh vật chính là tướng mà mắt nhìn thấy.
Tai nghe thấy âm thanh, âm thanh chính là tướng mà tai nghe thấy.
Mũi người thấy mùi hương, lưỡi nếm thấy vị, da thịt cảm nhận được nóng lạnh, đau đớn, xúc trạng, v.v.
Ngoài ra còn có ý thức, tưởng tượng, hồi ước và suy luận, tất cả những thứ này đều là tướng.
Con người thông qua sáu giác quan để nhận thức thế giới này và đặt tên cho vạn sự, vạn vật.
Vì vậy mọi sự vật trên thế gian, từ sông núi, cỏ cây, đồ dùng sinh hoạt cho đến vũ trụ bao la hay hạt bụi nhỏ bé, tất cả đều là danh tướng.
Thậm chí nghe cả những kinh điển Phật Pháp mà Đức Phật giảng dạy hay chính những câu chữ trong Kinh Kim Càng cũng đều là danh tướng.
Đức Phật nói tất cả danh tướng của mọi sự vật đều là hư vọng.
Bởi vì danh tướng không phải là bộ mặt thật của sự vật, danh tướng chỉ là sản phẩm của chúng sinh trong lúc mê lầm.
Con người chấp chước vào danh tướng, cho rằng thân thể và thế giới là có thật.
Quen với việc theo đuổi những khoái lạc về tinh thần và thể xác, khám phá những điều mới lạ, sáng tạo phát minh, kế thừa và phát triển, thúc đẩy văn minh tiến bộ.
Coi tất cả những điều này là thế giới chân thật tự nhiên.
Chúng sinh đắm chìm trong thế giới hư ảo, muôn màu muôn vẻ này, không ngừng luân hồi sinh tử, chịu đựng những nỗi khổ đau, do được và mất không ngừng, không có điểm dừng.
Điều này cũng giống như người diễn viên trên sân khấu, khoảnh khắc trước còn diễn vai đại tướng quân oai phòng lẫm liệt, vở kịch sau lại diễn vai nô lệ đáng thương.
Diễn viên say mê trong vở kịch, quên mất thân phận thực sự của mình.
Tuy nhiên, khi diễn viên cởi bỏ bộ trang phục, mới phát hiện ra mình không phải là đại tướng quân uy vũ, cũng không phải là nô lệ bị người khích miệt.
Bộ mặt thật của chúng sinh trong thế gian cũng như vậy.
Bộ mặt thật không cần người khác tâng bốc hay mắng nhức.
Bộ mặt thật không thuộc phạm vi nhận biết của sáu gia quàn, không có rành tướng.
Bộ mặt thật không phải là trạng thái mê man, không có trí giác, bất tỉnh nhân sự.
Cảnh giới này không phải là giữ khư khư cãi hư không, mờ mịt u mê, không hay biết gì về mọi việc lỡ nhỏ.
Ngược lại, trở về với bản tâm có thể nhìn thấy rõ thấu suốt mọi thứ.
Đức Phật nói, phàm phu tục tử suốt ngày dùng mắt để nhìn, tay để nghe, học tập và nắm bắt mọi kiên thức, phát minh và sáng tạo ra đủ thứ mới lạ.
Cũng giống như người có mắt mà ở trong bóng tối, không nhìn thấy gì cả.
Tuy nhiên, người trở về với bản tâm cũng giống như người có mắt ở dưới ánh mặt trời, nhìn thấy đủ loại màu sắc.
Vì vậy, người trở về với bộ mặt thật chính là người giác ngộ, là thái nhân.
Người đó có thể thấy được tất cả, biết được tất cả, biết được chân tướng, quá trình và chi tiết của vũ trụ nhân sinh.
Biết được những điều phàm phu biết, cũng biết những điều phàm phu không biết.
Kinh Kim Cang dạy con người quét sạch mọi danh tướng, trở về với bộ mặt thật.
Quá trình này chính là tu hành.
Dùng ví dụ để nói rõ, thì cũng giống như đi thuyền đến bên bờ bên kia.
Bờ bên này là thế giới muôn màu muôn vẻ, bờ bên kia là bộ mặt thật của chúng sinh.
Giữa bờ bên này và bờ bên kia cách nhau bởi biển sinh tử, giống như những xoáy nước và dòng chảy xiết, chúng sinh trôi nổi chìm đắm trong biển sinh tử.
Do nghiệp lực đã tạo, có lúc sinh ra ở cõi trời, có lúc lại đọa lạc xuống địa ngục, sinh sinh tử tử, luân hồi không ngừng.
Chiếc bè là sự tu hành trong Phật Pháp.
Sự tu hành trong Phật Pháp chỉ là công cụ.
Người tu hành mượn sự tu hành trong Phật Pháp để từ bờ bên này đến bờ bên kia.
Sau khi đến đến bờ bên kia, có thể bỏ lại chiếc bè vương víu.
Điều này có nghĩa là người giác ngộ đã đến bờ bên kia sẽ không bị trói buộc bởi danh tướng Phật Pháp.
Vì vậy trong Kinh Kim Cang chúng ta có thể thấy chữ câu như
Cái gọi là Phật Pháp, tức không phải Phật Pháp.
Cái gọi là Thực tướng, tức không phải Thực tướng.
Nhân chủ Palamut, tức không phải Nhân chủ Palamut.
Đệ nhất Palamut, tức không phải Đệ nhất Palamut.
Danh tướng được nói đến trong Kinh Kim Cang cũng giống như ngón tay chỉ trăng.
Mặt trăng tượng trưng cho bộ mặt thật của sự vật.
Trở về với bộ mặt thật chính là mục đích cuối cùng của việc tu hành.
Mục đích chính của người tu hành là phát hiện ra mặt trăng, chứ không phải là vướng mắt vào ngón tay.
Phật học cũng không phải là dạy con người làm thế nào để thành Phật thanh thần, mà là để đạt được trí tuệ giác ngộ.
Đây chính là lý do tại sao trong Phật giáo, từ bát nhã thường xuyên xuất hiện.
Bởi vì trí tuệ mà Phật giáo nói đến khác với cách hiểu thông thường của chúng ta.
Trí tuệ mà chúng ta thường nói như trí tuệ trong cuộc sống.
Từ góc độ Phật giáo mà xem thì chỉ có thể coi là thông minh, chẳng qua là những phương tiện và sách lược để mưu sinh.
Kinh Kim Cang nói về trí tuệ để đến bến bờ bên kia, đoạn trời những hư vọng của thế gian, đạt được giác ngộ cuối cùng.
Vì vậy, Kinh Kim Cang là một cuốn kinh giảng về trí tuệ, giảng về bát nhã, ba là mật.
Kinh Kim Cang có thể mang lại nhiều tiền tài hơn không? Có thể mang lại công việc tốt hơn không?
Câu trả lời là không.
Nếu một người muốn có nhiều tiền tài hơn, nếu một người muốn có công việc tốt hơn,
thì người đó có thể vận dụng kiến thức chuyên môn, vận dụng sự thông minh của mình để kiếm tiền, để có được công việc tốt.
Tuy nhiên, trong quá trình kiếm tiền, con người không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, luôn phải đối mặt với những khó khăn, trở ngại.
Sau khi thành công, lại phải đối mặt với những sự trống rỗng và nhàm chán, rồi lại đến những nhu cầu mới.
Dù có bao nhiêu tiền tài, công việc tốt đến đâu, cũng không thể đảm bảo tránh khỏi những phiền não, khổ đau của một người.
Kinh Kim Cang sẽ cho chúng ta biết bí mật tối thượng của đời người là gì, chân tướng của thế giới này là gì, quy luật biến hóa của vạn vật là gì.
Kinh cũng sẽ cho ta biết làm thế nào để cải thiện cảm xúc của mình, làm thế nào để trở về trạng thái tâm hồn thuận khiết nhất, làm thế nào để đối mặt với những tình huống bất ngờ.
Điều này cũng giống như cao thủ võ công trong tiểu thuyết võ hiệp.
Cao thủ võ công không chỉ cần biết chiêu thức mà còn phải có nội công tâm pháp.
Kinh Kim Cang chính là nội công tâm pháp để xử lý những thử thách trong thế gian.
Trong con mắt của Phật giáo, một người phấn đấu vì một mục tiêu thế tục không có gì là sai.
Con người sống ở đời luôn cần tiền bạc, quộc cải và những vật chất bên ngoài, những thứ này chúng ta đều có thể nỗ lực để đạt được.
Tuy nhiên, chúng ta không thể để sự nỗ lực đó trở thành một gánh nặng, không thể để bản thân trở thành nô lệ của những sự lo âu trong quá trình đó.
Con người sống ở đời luôn phải lao động để bu sinh, nhưng sự lao động này không nên là một gánh nặng mà nên là một niềm vui.
Vậy làm thế nào để trong quá trình lao động, tâm sinh hoan hỷ, mỗi khoảnh khắc đều chăn gặp niềm vui sống?
Chúng ta hãy xem Đức Phật Thích Ca Môni đã làm như thế nào.
Thích Ca Môni thành Phật
Chúng ta vừa nói Bát Nhã tức là trí tuệ.
Kinh Kim Cang giảng về Bát Nhã chính là giảng về Kinh Đại Trí Tuệ.
Kinh này xuất phát từ Đại Bát Nhã Kinh.
Năm xưa Đức Thích Ca Môni đã giảng Bát Nhã Kinh cho các tím đồ tại bốn địa điểm khác nhau, chia thành 16 lần pháp hội.
Pháp hội lần thứ 9 chính là giảng về Kinh Kim Cang.
Sau đó các đệ tử của Ngài đã ghi chép lại nội dung.
Vậy Thái tử Tất Đạt Đa xuất thân từ hoàng tộc đã trở thành Phật Thích Ca Môni như thế nào?
Vào khoảng 565 trước Công Nguyên, Thích Ca Môni sinh ra tại thành Cáti La Vẹ của Ấn Độ Cổ Đại.
Tên thật của Ngài là Tất Đạt Đa Cổ Đảng.
Thích Ca Môni là tôn sưng mà mọi người dành cho Ngài, có nghĩa là hiền nhân của dòng họ Thích Ca.
Từ nhỏ Thích Ca Môni sống trong cung điện lỏng lẫy, hưởng thụ cuộc sống xa hoa.
Ngài có vương phi sinh đẹp, có con trai đáng yêu.
Lẽ ra sau khi phụ vương bằng hà, Ngài sẽ kế vị trở thành quốc vương.
Tuy nhiên những khổ đau của thế gian đã khiến Ngài suy nghĩ sâu sắc, đặc biệt là cách chết và bệnh tật.
Ngài cảm nhận mãnh liệt rằng thế giới này có những khiếm khuyết và khổ đau không thể tránh khỏi.
Ngài muốn tìm hiểu rõ nguyên nhân.
Vì vậy, vào năm 29 tuổi, Ngài đã tư bỏ ngôi vị của gia đình, rơi bỏ Hoàng cung, dẫn thân vào con đường tìm kiếm Trần Lý.
Cứ như vậy, Ngài đi khắp nơi tìm kiếm trong hơn 6 năm.
Một ngày nọ, Thích Ca Môni với thân thể mệt mỏi, đi đến bờ sông Ni liên thiền, ngồi xuống dưới gốc cây tất Bát La và trầm tư mặt tưởng.
Ngài bắt đậu, nhanh chóng nhập vào tiền đỉnh sâu.
Đến ngày thứ bảy, vào khoảnh khắc sao băng xẹt qua bầu trời, Ngài đột nhiên giác ngộ và chứng đạo.
Từ đó được gọi là Phật Đà, gọi tắt là Phật, vột bậc giác ngộ.
Cây tất Bát La từ đó được gọi là cây bồ đề, bồ đề tức là trí tuệ.
Năm đó, vị vương tử xuất ra này 35 tuổi.
Đức Thích Ca Môni thành đảo không phải là thành tựu theo kiểu thông thường, mà là hiểu rõ chân tướng của thế giới, đạt được giác ngộ và giải thoát.
Trong khi thiền định dưới cây bồ đề, Thích Ca Môni đã hiểu rõ đạo lý tứ diệu đế.
Đế có nghĩa là chân lý, tứ diệu đế là 4 chân lý.
Thứ nhất là khổ đế, chân lý về nỗi khổ.
Thứ hai là tập đế, chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ.
Vì sao con người lại khổ, đó là dục vọng vô bờ bến.
Thứ ba là diệt đế, phương pháp duy nhất để diệt trừ khổ đau là Niết Bàn.
Niết Bàn không phải là cái chết theo cách hiểu thông thường, mà là sự giải thoát, tự tại, an lạc, không sinh, không diệt.
Tại sao lại Niết Bàn, bởi vì không còn phiền não, không còn tham dục, không còn oán hận, không còn ngu si.
Thứ tư là đạo đế, con đường dẫn đến Niết Bàn.
Chỉ có thông qua con đường tu hành đúng đắn mới có thể đạt được Niết Bàn.
Sau khi thành Phật, Đức Thích Ca Môni liên đến vườn Lộc Uyển, nơi thích hợp để giảng pháp.
Ngày tìm gặp 5 vị thị giả đã từng cùng Ngài xuất ra và giảng cho họ nghe về Tứ Diểu Đế.
Từ đó, Đức Phật bắt đầu hành trình Hoàng Pháp kéo dài 45 năm.
Trong quá trình Hoàng Pháp, Đức Phật dần dần hoàn thiện hệ thống lý luận của mình, đưa ra rất nhiều khái niệm và phương pháp tu hành trong Phật học.
Vì vậy, Tứ Diểu Đế là nền tảng, là tiền đề.
Nếu một người không hiểu rõ nền tảng và tiền đề này, thì rất khó có thể để lĩnh hội lý luận Phật học.
Khi Đức Phật còn tải thí, Ngài đều thông qua khẩu truyền để giảng dạy Phật Pháp, không để lại văn tự.
Những học thuyết của Ngài đều do các đệ tử ghi chép lại sau này.
Trước khi Đức Phật nhập diệt, đệ tử Anan đã hỏi Ngài mấy câu hỏi.
Trong đó có một câu hỏi là
Khi Ngài còn tải thí, mọi người đều có thể được trực tiếp nghe Ngài giáo hấn.
Nhưng sau khi Ngài rời cõi trần, nếu chúng con truyền thụ Phật Pháp cho người khác, làm sao để họ tin rằng đó là do chính Ngài nói?
Đức Thích Ca Mâu Ni trả lời
Chỉ cần trước khi giảng nói thêm một câu
Như thị ngã văn
Có nghĩa là ta nghe như vậy
Thì có thể khiến chúng sinh tin rằng đây là do chính ta nói
Vì vậy, những kinh Phật mà chúng ta được học ngày nay
Rất nhiều kinh đều bắt đầu bằng chữ
Như thị ngã văn
Có nghĩa là ta nghe như vậy
Khi Đức Thích Ca Mâu Ni còn tải thí
Chưa có kinh Phật, kinh Phật xuất hiện sau Thích Ca Mâu Ni nhập diệt
Các đệ tử của Ngài dựa vào ký ức
Ghi chép lại những lời dạy của Thích Ca Mâu Ni
Dân dân hình thành từng quyển, từng quyển kinh Phật
Chữ kinh trong tiếng Hán
Vốn chỉ sợi dọc của khung cửi
Có nghĩa là kéo dài, mở rộng ra là thường đạo
Tức là những đạo lý có tính quy luật không thay đổi
Vì vậy, kinh Phật nói về những thường đạo
Là những chân lý đã được kiểm chứng
Phù hợp với quy luật vận hành của thế gian
Kinh Kim Cang làm thế nào để hàng phục tạp niệm
So với các kinh Phật khác
Kinh Kim Cang có vẻ ngắn gọn hơn
Toàn bộ kinh chỉ có vài ngàn chữ
Các kinh Phật khác thường có những tưởng tượng hòa mỹ
Những ẩn rụ kỳ diệu, những phép so sánh trùng điệp
Nhưng kinh Kim Cang chỉ là một bản ghi chép lại cuộc đối thoại
Giữa Thích Ca Mâu Ni và các đệ tử
Thời gian và địa điểm diễn ra cuộc đối thoại cũng rất bình thường
Vào một ngày nọ
Đức Thích Ca Mâu Ni và các đệ tử đi ra ngoài khớt thực
Lúc này một trong thập đại đệ tử
Tu Bồ Đề bắt đầu đặt câu hỏi cho Đức Thích Ca Mâu Ni
Khi diễn giải nguyên tác Tây Du Ký
Chúng ta đã từng nói rằng
Vị sư phụ đầu tiên của Tổng hộ không
Tổ sư Tu Bồ Đề
Có cùng tên với đệ tử của Thích Ca Mâu Ni
Điều này cho tầm câu hỏi
Có nghĩa là nguyên mẫu của Tổ sư Bồ Đề trong Tây Du Ký
Chính là đệ tử của Thích Ca Mâu Ni hay không
Tu Bồ Đề
Một trong thập đại đệ tử của Đức Phật
Được mệnh danh là giải không đệ nhất
Ông là người giỏi nhất trong việc hiểu rõ tính không
Trong Kinh Kim Cang
Tu Bồ Đề đã thỉnh giáo Đức Phật 3 vấn đề
Câu hỏi thứ nhất
Thiện nam tử và thiện nữ nhân phát tâm cầu trí tuệ
Vô thượng, chính đẳng, chính giác của những lai
Nên duy trì tâm như thế nào
Đức Phật nói
Người ngộ đạo nên khởi tâm đại tử bi
Phát nguyện đổ tất cả chúng sinh vào vô dư Niết Bàn
Vô dư Niết Bàn
Chính là hình thái tối thượng của sinh mệnh con người sau khi giác ngộ
Diệt trừ hết thải phiền não
Giải thoát khỏi khổ đau sinh tử luân hồi
Câu hỏi thứ 2
Thiện nam tử và thiện nữ nhân nên tu hành như thế nào
Đức Phật nói
Người có căn cơ thượng thừa
Phụng trí năng đoạn kim cang bát nhã ba là mật kinh
Quét sạch mọi vọng tưởng
Đó chính là tu hành
Đối với những người còn nghi hoặc về lời dạy trong kim cang
Thì nên tu hành theo tứ cú kệ
Tứ cú kệ chính là đoạn kinh văn ở phần sau
Nhất thiết hiểu vi pháp
Như mộng huyễn, bào ảnh
Như lộ diệt, như điển
Ưng tác, như thỉ quán
Có nghĩa là
Tất cả pháp hiểu vi
Như mộng huyễn, như bọt sóng
Như xương, cũng như điện
Nên quán chiếu như vậy
Nhất thiết hiểu vi pháp
Bao hàm tất cả các hiện tượng trong thế gian
Từ thân tâm, vạn sự vạn vật bên ngoài
Cho đến những ý niệm, tư tưởng, cảm xúc bên trong
Vân vân
Tất cả những sự vật và tâm niệm này
Đều là vô thường
Như giấc mộng không thật
Như bọt nước sinh ra rồi mất
Như xương gặp ánh mặt trời liền tan biến
Một người giác ngộ
Quán chiếu tất cả các hiện tượng bên trong
Và bên ngoài thân tâm như vậy
Thấy chúng như huyễn, không thật, vô thường
Sinh diệt nhanh chóng
Thì có thể dần dần nhập đạo
Cuối cùng phá trừ vô minh
Quét sạch mọi vọng tưởng
Đạt đến bến bờ niết bàn
Thấy được bộ mặt thật của chính mình
Chúng ta nói về phá trừ vô minh
Vậy thì phá trừ vô minh là gì?
Phá trừ vô minh
Là quá trình loại bỏ sự thiếu hiểu biết sâu sắc
Đạt được trí tuệ bắt nhã
Thấy rõ bản chất chân thật của vạn pháp
Đó là
Thấy rõ tứ diệu đế
Nhận thức rõ ràng về sự thật khổ
Nguyên nhân, sự diệt khổ
Và con đường diệt khổ
Thấy rõ tam pháp ấn
Vô thường, khổ, vô ngã
Thấu hiểu sâu sắc về tính chất vô thường
Khổ và vô ngã của mọi hiện tượng
Buông bỏ chấp ngã và ngã sở
Không còn bám víu vào một cách tôi riêng biệt
Không còn coi trọng những gì thuộc về tôi
Chuyển hóa tam độc
Thay thế tham lam bằng bố thí
Sân hận bằng từ bi
Và si mê bằng trí tuệ
Đạt được giác ngộ, giải thoát
Khi vô minh hoàn toàn bị phá vỡ
Con người đạt đến trạng thái giác ngộ
Giải thoát mọi khổ đau và giang buộc
Tự trung lại
Phá trừ vô minh là quá trình chuyển hóa
Từ trạng thái mê mở
Thiếu hiểu biết về bản chất thực tại
Sang trạng thái giác ngộ, sáng suốt
Thấy rõ chẳng lý
Đây là mục tiêu tối thượng của người tu tập Phật giáo
Là con đường dẫn đến hạnh phúc và giải thoát đích thực
Nó không chỉ là loại bỏ sự thiếu kiến thức thông thường
Mà là một sự chuyển đổi sâu sắc trong nhận thức
Và cách nhìn về thế giới
Một người giác ngộ khi thấy được bộ mặt thật
Biết rằng vốn không có ngã tướng
Nhân tướng, chúng sinh tướng
Và thọ giả tướng
Lúc này đối với mọi sự vật đều không còn sợ hãi
Có thể đời đời kiếp kiếp làm lợi ích cho chúng sinh
Ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng là gì?
Tức Phật nói
Ngã tướng là chấp trước
Ta cho rằng thân thể và ý thức là thật có
Ta vì thế mà theo đuổi những khoái lạc về thể xác và tinh thần
Có ngã tướng thì sẽ sinh ra nhân tướng
Nhân tướng là giữa người với người có sự phân biệt
Lấy ta làm trung tâm, luôn bảo vệ lợi ích của bản thân
Chúng sinh tướng là tướng khác biệt của tất cả chúng sinh
Sinh vật bậc cao coi thường sinh vật bậc thấp
Thậm chí không quan trọng quyền được sống của sinh vật bậc thấp
Thọ giả tướng là tuổi thọ
Chúng sinh từ thân thể và ý thức mà có được khoái lạc
Muốn sống lâu trăm tuổi, sợ hãi cái chết
Câu hỏi thứ 3
Thiện nam tử và thiện nữ nhân khi gặp phải khó khăn chắc chở
Nên buông bỏ tâm như thế nào?
Đức Phật nói
Một người giác ngộ tuy phát nguyện đổ tất cả chúng sinh đến vô dư Niết Bàn
Nhưng trên thực tế không có chúng sinh nào được đổ
Vì người đó không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng và thọ giả tướng
Không có bốn tướng tức là buông bỏ tâm
Ví dụ
Kinh Kim Càng có đưa ra ví dụ về tiên nhân nhẫn nhục bị vua ca lợi
Dùng đao kiếm cắt xẻo thân thể
Nhưng không hề oán giận vua ca lợi
Ngược lại còn phát nguyện sau khi thành Phật sẽ đổ cho vua ca lợi đầu tiên
Vua ca lợi trong kiếp sau trở thành tôn giả
Kiều Trần Như, vị A-la-hán, đệ tử đầu tiên được Đức Phật Thích Ca-mô-ni đổ hóa
Trong câu trả lời của Thích Ca-mô-ni có 2 điểm quan trọng
Điểm thứ nhất là Ngài phát tâm cứu đổ tất cả chúng sinh
Điểm thứ 2 là trong tâm Ngài không có khái niệm về chúng sinh
Hai điểm quan trọng này ẩn chứa một tư tưởng quan trọng của Đức Thích Ca-mô-ni
Đó là một người muốn đạt được giải thoát rốt giáo
Muốn buông bỏ vọng tưởng của mình thì người đó phải phát khởi tâm lợi tha
Đồng thời người đó còn phải không có tâm phân biệt
Không vướng mắt vào sự phân biệt giữa ta và người
Đức Thích Ca-mô-ni sau đó còn nói thêm một câu
Này Tu-bồ-đề
Thực ra không có một phương pháp cụ thể nào
Có thể giúp con đạt được giải thoát rốt giáo
Ý của Đức Thích Ca-mô-ni là
Một người muốn đạt được giải thoát rốt giáo
Thì phải giải thoát khỏi các loại tướng
Không chỉ vậy
Còn phải giải thoát khỏi một pháp môn cụ thể nào đó
Vì vậy, ở tầng lớp đọc hiểu Kinh Kim Cang
Thực sự rất đơn giản
Mà chuyện chính chẳng qua là
Đức Thích Ca-mô-ni trả lời Tu-bồ-đề
Có thể đạt được giải thoát cuối cùng
Câu trả lời của Đức Thích Ca-mô-ni nhấn mạnh rằng
Muốn đạt được giải thoát cuối cùng
Thì nhất định phải đoạn trừ vọng tưởng và vọng niệm
Hiểu được Kinh Kim Cang chính là đang tu tâm
Kinh Kim Cang có ảnh hưởng vô cùng to lớn
Từ khi xuất hiện trên thế gian cho đến tận giờ phút này
Không ngừng khơi gợi vô số tâm hồn đi trên con đường rác ngọ
Đi trên con đường tự tại
Lục tỏ Huệ Năng vốn chỉ là một tiều phu đốn củi
Hôm mang củi đến nhà khách
Tình cờ nghe thấy có người đang đọc Kinh Kim Cang
Vừa đứng lúc nghe đến câu
Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỷ tâm
Nên không trụ vào đâu mà sinh tâm ấy
Trong khoảnh khắc đó
Câu nói này đã tác động kỳ diệu
Đến trái tim của người tiều phu chất pháp mộc mạc này
Khiến ông lập tức lĩnh hội được một khả năng sống khác
Sau đó ông từ biệt mẹ đi về phương Bắc
Để tìm kiếm một cuộc sống tâm linh
Nhiều năm sau
Người tiều phu này trở thành một bậc giác giả
Hoàng Pháp tại Chùa Nam Hoa
Để lại một bộ pháp bảo đàn Kinh
Đây là một bộ Kinh Phật duy nhất do người Trung Quốc soạn
Mở ra dòng chảy sống động của thiền tông
Nhưng đối với người bình thường
Đối với những người không nhất thiết muốn thành Phật
Kinh Kim Cang có ý nghĩa gì?
Cuốn Kinh được mệnh danh là đại pháp cân bản của Phật giáo này
Giảng những đạo lý không hề cao siêu, xa vời
Mà là những điều rất cụ thể
Bình thường trong cuộc sống hàng ngày
Toàn bộ Kinh Kim Cang
Là sự truy vấn về một câu hỏi của Tu Bồ Đề
Câu hỏi của Tu Bồ Đề không phải là một câu hỏi bình thường
Không phải là làm thế nào để đối phó với những vấn đề cụ thể trong ngày hôm nay
Mà là một câu hỏi mang tính tối thượng
Một câu hỏi về giác ngộ và giải thoát
Như Kinh Kim Cang đã nói
Pham sở hữu tướng dai thị hư vọng
Nhật kiến chư tướng phi tướng
Tức kiến như lai
Câu nói gì có hình tướng đều là hữu vọng
Nếu thấy các tướng không phải tướng
Tức là thấy như lai
Câu nói này rất nổi tiếng trong Phật học
Chúng ta chỉ cần hiểu theo nghĩa đen
Cũng sẽ thấy rất thú vị
Tất cả những hiện tượng mà chúng ta thấy đều là hữu vọng
Nếu bạn có thể nhận ra rằng
Tất cả những biểu hiện bên ngoài đều là không phải ráng vẻ chân thật
Thì bạn đã đến rất gần với việc khám phá ra bộ mặt thật của sự vật
Từ nhỏ chúng ta đã được dạy rằng
Chăm nghe không bằng một thấy
Nhưng Đức Thích Cà Môni lại nói
Những gì chúng ta thấy chưa chắc đã là thật
Và Kinh Kim Cang sẽ không mang lại cho mọi người nhiều tiền tài hơn
Cũng không thể giúp mọi người tìm được công việc tốt hơn
Nhưng Kinh Kim Cang có thể thay đổi cách tư duy của một người
Cũng có thể giải phóng một người khỏi lối suy nghĩ theo thói quen
Khi sự thay đổi này diễn ra
Chắc chắn sẽ có tác động đến cuộc sống của người đó
Theo nghĩa này
Kinh Kim Cang sẽ khiến cho sự nghiệp của một người thành công hơn
Khiến cho cuộc sống của một người thuận lợi hơn
Khiến cho thân thể của một người khỏe mạnh hơn
Sức mạnh này có thể thay đổi cuộc đời của một người từ gốc dễ
Trong Phật Giáo Tây Tạng
Có một câu chuyện kể rằng có một chú tiểu
Ở một ngôi chùa tại vùng Yaowa
Các một thầy tướng số tinh thông thuật xem tướng
Thầy tướng số liếc nhìn chú tiểu và nói
Cậu rất thông minh
Nhưng cậu chỉ có thể sống đến năm 18 tuổi
Chú tiểu đem chuyện này lại kể với sư phụ
Sư phụ bảo chú mỗi ngày hãy đến nơi thanh tịnh
Tụng đọc Kinh Kim Cang
Chú tiểu nghe lời an tâm làm theo
Mỗi ngày tụng đọc Kinh Kim Cang
Cứ như vậy đến năm 18 tuổi
Kết quả là chú vẫn sống khỏe mạnh
Mãi đến năm 95 tuổi mới qua đời
Chú dường như không làm gì cả
Nhưng sự thay đổi đã thực sự xảy ra
Trên thực tế
Trong quá trình tụng đọc Kinh Kim Cang
Chú vẫn rắc ngộ
Việc khi nào qua đời không còn quan trọng nữa
Điều quan trọng là chú có thể sống bình thẳng
Bình thẳng đối diện với việc mình đang già đi
Chúng ta kể câu chuyện này không phải để nói rằng
Kinh Kim Cang thần kỳ đến mức nào
Mà nên thực tế
Thông qua sự chỉ dẫn của Kinh Kim Cang
Chúng ta có thể bước vào một thế giới rộng lớn hơn
Có được những thứ vững chắc và vĩnh hàng hơn
So với thế giới vật chất bên ngoài
Kinh Kim Cang không phải là Phật giáo
Cũng không phải là thần thoại
Mà là sự hẽ lộ một cách rất chân thực với chân tướng
Đọc Kinh Kim Cang
Không phải là làm học thuật
Mà là sự tu hành thiết thực
Là gian luyện tâm mình trở thành tiết chấp mạnh mẽ
Viền kim cương kiên cố
Dù cho bất kỳ ý nghĩ hay quan niệm nào
Người già phiền não hay hoang mang
Đều có thể nhìn thấu rõ
Đều có thể xuyên qua hiện tượng để đi vào bản chất
Dù cho bất kỳ ý nghĩ hay quan niệm nào
Cũng không thể ảnh hưởng đến bản thân
An trụ trong bộ mặt thật của chính mình
Cảm nhận được niềm vui nguyên sơ của sinh bệnh
Và dùng tâm để đi trọn vẻn con đường thế gian
Cảm ơn bạn đã lắng nghe đến cuối cùng
Nếu chia sẻ hôm nay hữu ích với bạn
Hãy nhấn like
Và đừng quên chia sẻ với gia đình hoặc bạn bè của mình
Để ủng hộ Tân Phúc Khánh Official bạn nhé
Hãy bình luận
Kinh Kim Cang đoạn trừ phiền não
Khai mở trí tuệ, kiến tạo hạnh phúc
Cầu mong mọi người trên thế gian đều khai mở trí tuệ
Nếu bạn chưa được phiền não
Đón nhận những điều cắt tường hạnh phúc an nhiên trong cuộc sống
Nếu bạn chưa đăng ký kênh
Hãy nhấn vào nút đăng ký trên màn hình
Để kết nối sầu sặc với chúng tôi
Hoan hỉ chào mừng bạn tham gia hội viên
Để cùng nhau tu dưỡng, phúc báo
Xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn
Đã dành ra thời gian quý báo của mình
Để lắng nghe bài chia sẻ này
Một lần nữa xin kính chúc quý vị và các bạn cùng gia đình
Luôn luôn được hạnh phúc, thành công và bình an trong cuộc sống
Xin chân trọng kính chào
Phải hẹn gặp lại
