Chuyện Nhân Quả: Cứu Người Bị Cả Thiên Hạ Xa Lánh, Phúc Báo Đến Khi Không Ngờ

Sống thuận tự nhiên
442 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AICâu chuyện xoay quanh quy luật nhân quả thông qua hai bi kịch và sự cứu rỗi: gia đình Lâm Uyển vượt qua oan khuất nhờ lòng nhân hậu cứu giúp người nghèo, và Vương Hảo thoát khỏi sự tàn độc của chị dâu Lý Thị để trở thành danh y. Qua đó, video khẳng định giá trị của lòng tốt và sự trừng phạt tất yếu dành cho những kẻ tham lam, vô ơn.
Câu chuyện đổi gia tài lấy thiện duyên, biển người manh mông, vạn sự giai do nhân quả, lấy kim tiền mua chuộc cường quyền, họa trăng chỉ đổi được một kiếp vinh hoa giả tảm, nhưng cạn kiệt gia tài để đổi lấy một hơi thở của kẻ bần cùng thế cô.
Liệu có phải là chuyến hành trình tín niệm kiên định nhất để tự cứu lấy cốt nhục của chính mình khỏi cửa tự.
Hoàng hôn buông xuống phủ Lang Châu giữa một buổi chiều rông lóc, mây đen cuồn cuộn vần vũ trên bầu trời như muốn nuốt trừng những mái ngói rêu phòng.
Từng hạt mưa rào to bằng hạt đỗ chút xuống xối xả, giữa trôi lớp bụi mờ trên mặt đá xanh nhưng lại khuét sâu thêm cái lạnh lẽo của nhân tâm trốn thị thành.
Tiếng sấm rền vang từng hồi, rạch nát màn đêm mờ mịt, báo hiệu một cơn địa chấn kinh thiên động địa sắp bùa vây lấy một gia tộc thiện lương.
Lời khẳng định này, vốn dĩ chẳng phải mộng mị hư không, mà là sự thật được cất giữ qua năm tháng, để mỗi chúng ta khi nghe lại đều phải tự vấn lương tâm trước vạn pháp luân hồi.
Mưa tảnh, bình minh xé rách mây mù, chiếu dọi xuống, những con phố giao thương tấp nập lụa là gấm vóc.
Tại trốn phổn hoa này, Lâm Uyển lão ra nổi danh với chuỗi sạp gấm vóc bề thế.
Ông vận trường bào lụa xanh, bước đi điềm đạm, nụ cười luôn thường trực trên môi dẫu đối diện với kẻ sang hay người hèn.
Khác hẳn với lũ lái buôn mưu mô xạo quyệt, Lâm lão ra sống ngay thẳng, cự tuyệt việc luôn cúi dân lễ vật cho quan nhà.
Do vậy thường xuyên bị đồng đạo chê bai là kẻ gàn dở, ôm mộng thanh cao giữa vũng lầy lợi lộc.
Một buổi sáng, xương lạnh còn răng lối, góc chợ đông đúc bỗng bốc lên mùi xú ế nồng nặc.
Nơi góc khuất tồi tàn, láo ăn mày quách láo nằm co quắp trên ổ rơm dã nát, thân thể gầy gò chỉ còn da bọc xương.
Vết thương lở luet nhuống màu tím tái dỉ ra thứ dịch vàng đặc quánh, rồi nhạc bâu kín, tiếng thở dốc của láo đứt quáng.
Tựa như ngọn nến tàn trước gió bấc, đám đông qua lại kẻ bịt mũi, người xua tay nhổ tuẹt nước bọt xuống đất.
Mấy tên đại phu lướt ngang qua, chỉ ném lại cái nhìn lạnh nhạt, nhét mép buông lời cay nghiệt rằng chứng bệnh hoại tử này đã ăn sâu vào cốt tủy,
muốn giữ mạng chỉ có cách dùng nhân sâm ngàn năm cùng vô số chân dược, phí tổn lên tới ngàn lạng bạc trắng.
Nghe đến con số ngàn lạng, bá tánh xung quanh cười ổ lên châm biếm.
Nhưng Lâm Uyển vội vã bước tới, ánh mắt chạm phải sự đau đớn tuyệt vọng hằn sâu trong đôi mắt đục ngầu của kẻ bần hàn.
Không chút đắn đo, ông cởi phăng chiếc áo khoác ngụa đang mặc trên người, dịu dàng đắp lên thân thể đang run lên bần bật của láo ăn mày.
Lời ông cất lên rõng giạc, đanh thép giữa chợ đông.
Người con thì của con, mạng người dẫu hèn mọn cũng là tinh hoa của đất trời, há có thể khoanh tay đứng nhìn sinh linh lụi tàn.
Thương nhân xung quanh chỉ trọ, sầm si mỉa mai ông điên rổ, ném núi vàng để cứu một khúc gỗ mục trôi xong.
Lâm Uyển lặng lặng bỏ ngoài tai mọi lời rẻm pha.
Để gom đủ số bạc khổng lồ, cất thuốc trong ngày một, ngày hai, ông cắn răng bước vào cửa hiệu của kẻ thù không đội trời chung trên thương trường.
Ông chấp nhận hạ mình, ký giấy bán tống bán tháo phân nửa xưởng rệt và chuỗi sạp gấm tâm huyết cả đời với giá rẻ mạt.
Cầm túi bạc nặng trĩu trên tay, bước chân ông rời khỏi xưởng rệt in hẳn sự xót xa của kẻ mất đi một nửa cơ nghiệp, nhưng sống mũi lại cay cay một niềm an lòng kỳ lạ.
Số bạc ấy lập tức được đổi thành những thang thuốc quý giá nhất, dốc lòng giữ lại chút hơi tàn cho quách láo.
Trong khi Lâm Phủ đang dốc sức trăm lo cho kẻ hàn vi, thì ở chốn nhà môn uy nghiêm vách ngói tru xa, mây đen của tội ác đang cuồn cuộn tụ vệ.
Tôn Tri Phủ, vị quan phụ mẫu vận quan phục oai vệ nhưng mang một tâm hồn một rưỡng.
Hắn vốn từng ấp ủ hoài bão, làm quan thanh liêm, nhưng rồi thói phù phiếm sa hoa của thê tử cùng những đêm tiệt tùng thâu sáng đã đẩy hắn vào hố sâu nợ nợn.
Lòng tham trỗi dậy, hắn liên tục thâm lạm kho lương cứu tế của triều đình, lén lút tuồn gạo thóc ra ngoài đổi lấy vàng thỏi.
Cơn gió độc ập đến khi mật báo truyền về rằng triều đình sắp phải khâm sai đại thần hạ giá tra xét sổ sách Lang Châu.
Tôn Tri Phủ trao đảo ngồi phịch xuống sập ngủ, vầng chán lấm tấm mồ hôi hột, tay run run siết chặt tách trả xứ.
Hắn tự hồ nghe thấy tiếng đau phủ mài lưỡi vũ khí lạnh lẽo kẻ sát cổ mình.
Sự hoảng loạn tột độ khiến bản tính hèn nhát của hắn nảy sinh độc kế, phải tìm ngay một kẻ thế thân để bưng vít tội lỗi.
Kẻ đó phải là người không có ô rủ, không có vây cánh, càng ngây thơ bọc trực càng dễ bề đổ tội.
Ánh mắt nham hiểm của hắn chậm chậm dừng lại ở dòng tên Lâm Xuyên trên quyển danh sách quan viên.
Lâm Xuyên, con trai độc nhất của Lâm Nguyễn, vừa đỗ tú tài không lâu, được cử vào nhà môn làm viên lại thư nhỏ, coi việc xuất nhập kho lường.
Chàng thư sinh vóc dáng thanh tàu, ánh mắt sáng ngởi, tính tình cương trực.
Ngày ngày chàng chỉ biết cầm bút chú tâm ghi chép sổ sách rõ ràng, cần bạch.
Chàng nào hay biết, chính sự ngay thẳng và thân cô thế cô của mình lại biến chàng thành miếng mồi ngon cho giã tâm của kẻ thù ác.
Đúng ba ngày sau khi Quách Lão vừa qua cơn nguy kịch nhờ chén thuốc nhân xâm, tai ương dáng xuống Lâm Phủ.
Đêm ấy không trăng không sao, gió giít từng cơn qua khe cửa rẹo rã.
Lâm Xuyên đang trong đèn đọc sách thánh hiển, bỗng một tiếng vỡ chát chúa vang lên.
Cánh cửa gỗ bị đạp tung, hàng chục tên nha dịch mặt mày hung tợn, tay lăm lăm vũ khí sáng loáng lao vào.
Chúng không một chút dung tỉnh, lập tức quàng chiếc gông gỗ nặng trịch lên cổ thư sinh yếu ớt.
Lâm Uyển khoác áo chạy nhào ra từ phòng ngủ, sắc mặt trắng bệch tột độ.
Ông Lão tới, ôm chặt lấy chân tên cai ngục nhưng bị gạt phăng ngã nhào xuống nền đá lạnh lẽo.
Tôn Tri Phủ bước vào, vạt áo quan đung đưa ngạo mạn.
Hắn nhéch mép tung ra một sấp sổ sách đã bị cạo sửa tinh vi.
Lớn giọng kết tội Lâm Xuyên cấu kết gian thương, biển thủ kho lương.
Tăng trứng vật trứng rành rành không đường trối cái.
Dưới trốn ngục tối ẩm mốc, mùi máu tư hoà quyện cùng mùi dì xét của gông cùng làm người ta nghẹt thở.
Tôn Tri Phủ đích thân bước xuống bức cung.
Lâm Xuyên cắn nát bờ môi, ánh mắt kiên định giựt lửa tuyệt đối không chịu gật đầu nhận tội.
Tiếng la hét thê lương vang rộng cả hầm ngục,
khi những thanh kẹp gỗ nghiến chặt lấy mười ngón tay từng chỉ quen cầm bút lông của chàng.
Xương cốt gãy nát vang lên những tiếng lạo xạo rợn người, máu túa da nhuộm đỏ ướt đẫm cả vạt áo lụa trắng.
Dù thân xác tàn tạ đau đớn đến chết đi sống lại, Lâm Xuyên vẫn thoi thóp thốt lên từng lời khảng khái.
Ta sống ngẩn cao đầu không thẹn với thiên địa.
Các người bẻ gãy tay ta, nhưng không bẻ gãy được tiết tháo của một kẻ đọc sách thánh hiền.
Tôn Tri Phủ tức tối gầm lên, lập tức lôi kéo cánh tay vô lực của chàng.
Cương ép điểm chỉ bằng ngón tay đầm đìa, máu tươi lên tờ giấy nhận tội.
Hắn tàn nhẫn phán án chạm quyết vào đúng ngọ ba ngày sau.
Bản án oan nghiệt ráng xuống nhanh tựa sấm xét.
Đẩy Lâm ra vào bờ vực diệt vong.
Lâm Uyển nghe tin dữ chuyển ra.
Thân già trao đảo, ngá quỵ ngay giữa sân nhà, lồng ngực quặn thắt như có hàng ngàn mũi kim đâm xuyên qua.
Từng hạt mưa lại bắt đầu rơi lất phất.
Thấm đẫm bờ vai run dẩy của người cha già vừa mất đi một nửa cơ nghiệp,
nay lại sắp mất đi giọt máu duy nhất của đời mình.
Mưa vẫn rơi giả dích, dì giả không ngừng.
Rửa trôi những vết máu nhơ nhuốc trốn lao tủ, nhưng chẳng thể gột sạch nỗi oan khiên mút ngàn.
Lâm Uyển bán tháo nốt chút tài sản còn xót lại, ôm những thỏi bạc xịn,
màu chạy vậy khắp các cửa ngõ nhà môn, luồn cúi van xin từng tên lính canh.
Nhưng thói đời bạc béo, số bạc ít ỏi ấy chẳng đủ nhét kẽ răng lũ quả đen đói khát.
Bị đuổi đánh vứt ra ngoài thềm đá, Lâm Uyển tóc tai rũ rưỡi,
ôm chặt đôi giày vải đã rách bươm của con trai vào trước ngực.
Nước mắt người cha già hòa lẫn nước mưa mặn chát.
Ông quỳ gục dưới màn mưa xối xả,
trước cổng nhà môn liên tục dập đầu xuống phiến đá xanh đến túa máu đỏ tươi.
Vết thương rách toạc, máu hòa cùng nước mưa chảy dòng dòng trên khuôn mặt già nua nhân nhúm.
Ông ngửa mặt lên bầu trời xám xịt tuyệt vọng gào khóc thạm thiết,
tiếng thét xé rách cả màn mưa lạnh lẽo.
Trời cao, có mắt không? Con ta chỉ biết viết sách thanh hiền, sống đời thanh bạch,
cớ sao phải chịu cảnh hàm oan, thân tàn ma dại dưới đòn thủ oan nghiệt.
Lúc bấy giờ tại Lâm Phủ, quách lão nhờ ché nhân sâm ngàn năm đã dần hồi phục sinh khí.
Ông mở ảo tỉnh lại, gượng chống tay ngồi dậy trên chiếc sập êm ái,
bàng hoàng chứng kiến cảnh gia phủ tan hoang, gia nhân khóc lóc thảm thiết chạy loạn.
Nghe người hầu già kể lại cớ sự ân nhân vì cứu mình mà cạn kiệt gia tài,
nay lại bị quan phủ hàm oan bức tử con trai độc nhất.
Đôi mắt đục ngầu của vị lão nhân bỗng chốc đanh lại, lué lên những tia sáng sắc lạnh phi thường.
Ông không màng thân thể còn yêu ớt, lập tức với lấy chiếc mền rách nát mang theo từ lúc đi ăn mẩy,
dùng chút sức lực tàn tạ xé toạc lớp vài lót bên trong, từ nơi tối tâm nhơ nhuốc ấy.
Một ấn tín ngự xử đài bằng ngọc bích sáng ngời rơi ra,
kèm theo một cuốn sổ bìa ra được bọc kỹ càng bằng giấy dầu.
Thì ra, thân phận thật của lão ăn mẩy này chính là cựu ngự xử đài,
người từng dân tấu sớ can gián triều đình,
vì vạch trần bè lũ gian thần mà bị hãm hại, gián chức đầy ải đi xa.
Trên đường lưu đẩy, ông lén trốn thoát, cạo đầu nương nhờ cửa Phật,
nhưng lại mắc bạo bệnh mà lưu lạc thành kẻ khất cái bần hàn.
Trong những ngày tháng nằm chờ chết trước cổng kho lương nhà môn,
với sự nhạy bén của một cựu quan viên triều đình, ông đã âm thầm quan sát,
ghi chép tường tận, từng chuyến xe chở gạo thóc cứu tế,
bị tôn tri phủ lén lút tuồn ra ngoài giữa đêm tối.
Cuốn sổ mật ấy chính là bằng chứng thép, là lưỡi gươm công lý,
đã được mài dũa chờ ngày kết liễu bẻ lũ tham quan.
Nhìn thấy lâm uyển bước vào phòng, thân thể tơi tả, ánh mắt tuyệt vọng như kẻ mất hồn,
quách lão đưa tay đỡ lấy vị ân nhân, trịnh trọng cất lời.
Trồng dưa được dưa, gieo thiện duyên át gạt quả lạnh.
Lão phu tuy tàn tả, nhưng hôm nay, dẫu có bỏ nốt cái mạng già này,
cũng quyết trả lại sự trong sạch cho cốt nhục của ân nhân.
Giờ ngọ ba khắp của ngày thứ ba, trầm trầm điểm,
mặt trời đứng bóng thiêu đốt pháp trường đông nghịt bá tánh,
bầu không khí ngọt ngạt, căng thẳng đến mức nghẹt thở.
Lâm xuyên bị áp giải lên đoạn đầu đài,
mái tóc dối tung che khuất nửa khuôn mặt tiểu tụy,
chiếc áo lụa trắng nhuốm đầy những vết máu khô đen kịt.
Mười ngón tay gãy nát rủ xuống thảm hại,
nhưng ánh mắt chàng thư sinh vẫn kiên định, ngậng cao đầu nhìn thẳng vào đài quan,
nơi tôn tri phủ đang ngồi vắt chân, nhét mép cười đắc ý.
Kẻ hành hình bước tới, vụt một ngụm rượu nồng,
phun sương lên mặt lưỡi thép sáng loáng,
chuẩn bị vung tay đoạt mạng kẻ sĩ vô tội.
Đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc,
khi lưỡi thép lạnh lẽo vừa trực trở ráng xuống,
tiếng trống đăng văn từ ngoài cổng pháp trường bỗng vang lên rồn rập,
từng nhịp trống như sấm xét ráng xuống phá vỡ bầu không gian tĩnh mịch.
Lâm uyển hai tay siết chặt rùi cui,
dồn hết sức tàn đánh liên hồi vào mặt trống oan khiên.
Cùng lúc ấy, đám đông rạt ra hai bên,
một cỗ kiệu mộc mạc vội vã tiến vào.
Quách lão khoác trên mình chiếc áo troàng xám,
đứng thẳng người bước ra,
một tay dơ cao ấn tín ngự xử đài,
bằng ngọc bích lấp lánh dưới ánh mặt trời.
Giọng ông vang vọng, quy lực tựa hồng chung.
Ấn tín ngự xử tại hạ, kẻ nào dám lạm sát người vô tội?
Tôn Tri Phủ trợn trừng hai mắt,
mặt cắt không còn một giọt máu,
chẽn trà trên tay rơi vỡ tan tảnh.
Hắn nhận ra ấn tín tối cao của triều đình.
Cả cơ thể run lên bần bật.
Quách lão ném thẳng cuốn sổ mật
bọc giấy dầu xuống trước mặt Tôn Tri Phủ.
Vạch trần đường dây thăm nhũng,
từng cọc gạo, từng thỏi vàng bị tư túi,
đều được ghi chép không sai một hào.
Lâm uyển lúc này bước tới,
dáng đứng hiên ngang.
Ông chỉ thẳng tay vào mặt kẻ khoác áo quan phụ mẫu,
giọng giạc nói những lời xác xảo
như muốn giạch nát tâm can kẻ thủ ác.
Tôn Đại Nhân, Ngài ngỡ dùng quyền lực
che lấp được tay mắt thế gian,
ngỡ lấy máu người vô tội
để rửa sạch đôi bàn tay nhơ nhuốc của mình.
Nhưng Ngài quên mất rằng,
bạc vàng có thể mua chuộc được lũ tiểu nhân,
song tuyệt đối không thể bưng bít được công lý.
Ta thả bán cạn cơ nghiệp để giữ lấy cái đạo làm người.
Còn Ngài, khoác áo quan phụ mẫu
mà mục ruỗng từ tâm can,
rốt cuộc cũng chỉ là một kẻ cùng đinh của đạo đức.
Lời vừa dứt,
một đạo quân kỵ vinh của Khâm Sai Đại Thần
mang theo mật chỉ từ Kinh Thành ập đến.
Mọi đường ngang ngõ tắt đều bị phong tỏa.
Tôn Tri Phủ bị tước ngay mũ quan,
lột bỏ áo gấm,
bị đeo gông cùm dài thẳng vào ngục tối.
Gia sản của Tôn Phủ lập tức bị niêm phong,
tịch thu toàn bộ để đền bù vào kho lương cứu tế đã thất thoát.
Nay thân tàn ma dại trốn lao tù ẩm thấp.
Trong ngục tối lạnh lẽo vô cùng,
chuột bọ chạy quanh những vũng nước nhơ nhuốc.
Tôn Tri Phủ lúc này mới tỉnh ngộ,
nhưng mọi sự đã quá muộn mạng.
Nỡ nần trồng chất,
danh tiếng lụy tàn.
Người thê tử từng cùng hắn trung chăn gối này
cũng lén cuộm chút vàng bạc còn sót lại
bỏ trốn theo nhân tình.
Sự sụp đổ quá đỗi tàn khốc
khiến thần chí hắn hoảng loạn tột độ.
Lương tâm tự cắn dứt,
sinh ra những ảo giác kinh hoàng.
Đêm đêm,
giữa bốn bức tường giam tăm tối,
hắn liên tục nhìn thấy
những bàn tay đầy máu tươi
của biết bao bá tánh vô tội bị hắn hàm oan
đang từ dưới lòng đất vươn lên
siết chặt lấy cổ hắn.
Hắn phát điên, gào thét thảm thiết,
tự dùng đầu đập mạnh vào tường ngục
đến toạc máu để trốn tránh bóng ma tội lỗi,
sống những ngày tháng cuối đời trong sự điên loạn,
dàn vật sống không bằng chết
chờ ngày đến tội.
Sau cơn biến cố kinh thiên động địa,
Lâm Xuyên được trả lại sự trong sạch.
Vết thương nơi mười đầu ngón tay,
dẫu cần nhiều tháng ngày tĩnh dưỡng,
nhưng tinh thần chàng thư sinh
càng thêm kiên nghị,
thấu hiểu sâu sắc nỗi thống khổ
của bá tánh lầm than.
Quách lão từ đó lưu lại Lâm Phủ,
sống những tháng ngày dưỡng lão bình yên
bên gia đình ân nhân.
Câu chuyện Lâm Uyển chấp nhận
huynh gia bại sản,
đổi lấy chén thuốc cứu mạng,
một láo ăn mày xa lả,
bỗng chốc trở thành giai thoại vang danh
khắp các bến thuyền giao thường.
Các lái buôn thập phương nghe tiếng,
nể trọng nhân phẩm Bồ Tát của ông,
ùn ùn kéo đến xin hợp tác.
Chẳng bao lâu sau,
cơ nghiệp xưởng dệt nhà họ Lâm
không những phục hồi mạnh mẽ,
mà còn hưng vượng gấp mười lần ngày trước,
trở thành biểu tượng rực rỡ
của sự uy tín và nhân nghĩa vững bền.
Gieo nhân lành trong lúc cùng cực vất vả,
ngỡ như đánh mất tất cả,
nhưng thực chất lại là chuyến hành trình
Lòng tốt không bao giờ là sự đầu tư lỗ vốn.
Người dám xả bỏ vật chất ngoài thân
để cứu rỗi sinh mạng người khác,
rốt cuộc sẽ được thiên ý an bài,
giữ lại cho mình những thứ vô giá,
không gì đánh đổi được.
Tài sản thế gian dẫu chất cao như núi,
vô thường kéo đến cũng hóa cõi tay không.
Duy chỉ có phức đức
từ việc hành thiện cứu người,
là thứ hành trang duy nhất mang theo được qua nhiều kiếp.
Cứu một mạng người phúc đằng hà xa,
người cha dẫu bán cạn gia tài,
để cứu kẻ bần hàn,
nhưng lại vô tình gieo hạt giống thiện duyên tột bực,
chặn đứng ác nghiệp gõ cửa nhà mình.
Luật nhân quả rất công bằng và vi tế,
kẻ ý thế dùng mưu hèn kế bận
tàn hại người ngay,
cuối cùng đành phải nếm chén đắng diệt vòng.
Sống ở đời,
lấy lòng bi mẫn làm kim chỉ nam,
lấy sự cho đi làm cổi rễ,
ấy chính là chiếc bùa hộ mệnh vững vàng nhất
trước mọi tai ường nghịch cảnh.
Câu chuyện, đoạt bát cơm ân nghĩa,
để lập mưu độc,
trắng tay giữa đêm tuyết lạnh.
Người ta hay nói trời cao có mắt,
nhưng ít ai biết rằng mắt trời đôi khi nhắm lại rất lâu,
chỉ để nhìn thật rõ
trước khi ráng xuống đòn phán xét cuối cùng.
Có những kẻ thản nhiên trà đạp
lên ân tình cốt nhục,
hà hê cho rằng thế gian này,
kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu là lẽ đương nhiên,
mà không hay biết tự tay mình đang đào một nấm màu sâu hóm.
Cái lạnh của mùa đông năm ấy,
ở chấn Tây Khê không vút giá bằng lòng người,
và cơn đói quay quát cào
xé tâm can bách tính
cũng chẳng thể tàn nhẫn bằng ánh mắt
của một kẻ rắp tâm đoạt mạng
chính người đã nhường cho mình sự sống.
Lúc bấy giờ,
chấn Tây Khê chìm trong trận đói kém kinh hoàng chưa từng có,
đồng ruộng nứt nẻ rồi lại bị tuyết trắng vùi lấp,
thóc lúa cạn kiệt,
dân tình gào khóc vang vọng
cả những con ngõ nhỏ rêu phong.
Trong ngôi nhà, ngói vỡ nát ở phía đông chấn,
thiếu niên 15 tuổi vương hảo,
gầy gò như một cành củi khô,
đôi tay run dẩy bưng bát cháo loãng múc
từ đáy nổi,
lào đào bước về phía rừng bệnh.
Trên rừng là đại ca Vương Đức đang sốt ly bì
và người tẩu tẩu, chị dâu Lý Thị.
Lý Thị vốn xuất thân từ một gia đình
vần hàn ở phù Giang Nam,
cái nghèo từ nhỏ đã hẳn sâu vào tâm trí Thị,
biến Thị thành một kẻ ích kỷ,
tham lam và chỉ biết vun vén cho bản thân.
Tẩu tẩu, tẩu ăn đi.
Mụi vừa ăn ở nhà bếp rồi.
Vương hảo thều thảo,
giấu đi âm thanh xôi gạo
từ chiếc bụng xẹp lép,
đã ba ngày chưa có hạt cơm nào rơi vào.
Cậu cố nở một nụ cười nhợt nhạt.
Dúi bát cháo còn xót lại
vài hạt gạo hiếm hoi vào tay Lý Thị.
Lý Thị vội vàng vồ lấy bát cháo,
húc lấy húc để như ma đói,
không hề để tâm đến đôi môi khô
nứt nẻ dị máu của đứa em chồng.
Khi bát cháo đã nhãn thính,
Thị ngước lên nhìn Vương hảo.
Đáng lý ra, đó phải là một ánh mắt biết ơn.
Nhưng không, trong đáy mắt hẹp dài
của người đàn bà ấy chỉ lué lên
sự tính toán lạnh léo.
Thị nhìn Vương hảo không phải như nhìn một ân nhân,
mà như nhìn một cục nợ tốn cơm tốn gạo,
một cái gai trong mắt
cần phải nhổ bỏ trước khi hú gạo cuối cùng
trong nhà cạn sạch.
Cánh cửa gố ọp ẹp đập vào khung sậm sập
từng hồi theo cơn gió bấc,
như báo hiệu cho một tội ác tay trời
đang âm thầm nảy mầm trong bóng tối.
Mùa đông khắc nhiệt qua đi,
chấn tay khe dần hồi sinh
khi triều đình mở kho phát trận.
Gia đình họ Vương nhờ vào sức vóc
của Vương Đức đi làm phu khuân vác cho thương hội
mà dần có bát ăn bát để.
Bệnh tình của Vương Đức thuyên giảm,
nhưng Vương hảo thì ngay một tiều tụy.
Cơn đói khát kéo dài
vào mùa đông năm ngoái
đã bào mòn sinh khí của thiếu niên ấy,
khiến cậu mang theo một cơn ho lao dài rằng,
cơ thể lúc nào cũng suy nhược.
Lẽ ra, khi ra cảnh khá lên,
lý thị phải đắp bù cho người em
đã nhường mạng sống cho mình.
Nhưng lòng tham của con người
là một cái túi không đáy.
Càng có nhiều, lại càng sợ mất.
Lý thị nắm giữ toàn bộ tiền bạc trong nhà.
Mỗi lần thấy Vương hảo ho su sụ,
thị lại nhanh nhó, lầm bầm trời rùa.
Đồ sao trội, ăn bám rách cả cơ đồ.
Uống thuốc như uống nước lá,
nhà này có núi vàng cũng lở vì mày.
Thị bắt đầu cắt xén phần ăn của hảo.
Trong khi mâm cơm của hai vợ chồng thị
có thịt cá e hẻ,
bát cơm của hảo
chỉ là cơm đội ngô mốc meo
cùng vài cọng rau héo.
Không những thế, giữa tiết trời lập đông dét mướt,
thị lén đem chiếc áo bông duy nhất
mà cha mẹ quá cố để lại cho hảo
đem bán cho phường Buôn Đồ Cũ
dối Vương Đức rằng chuột cắn rách đã vứt đi.
Hảo lạnh run lầy bẩy,
chỉ biết khoác chiếc áo vải thô mỏng manh
cắn răng chịu đựng, nín lặng dọn dẹp sân gạch,
giếng đá từ tờ mờ sáng đến đêm khuya.
Nhưng bấy nhiêu
vẫn chưa đủ để thỏa mãn tâm địa ác độc của lý thị.
Sự tồn tại của hảo
như một lưỡi dao nhắc nhở thị
về những ngày tháng bần hàn
và thị muốn xóa sổ hoàn toàn cục nợ này.
Thị bắt đầu bài mưu tính kế.
Một hôm, thị cố tình
tháo cây trâm bạc trạm hình hoa mai
rỗng ruột giấu vào gầm giường của hảo
rồi gào khóc ẩm ý vu oan cho cậu
ăn cắp để lấy tiền mua thuốc.
Vương Đức vốn là kẻ nhu nhược,
nhu nhược đến mức ngu ngốc, tin lời
vợ dèm pha, gã không màng
đến lời phân trận giớm nước mắt của đứa em trai
quất cho hảo ba roi mây tứa máu lưng
rồi mắng mọ thậm tệ.
Đêm đó, hảo cuộn tròn trong góc củi
cắn chặt môi đến bật máu
để không bật ra tiếng khóc, mặc cho bóng tối
cắn nuốt niềm tin dách nát của mình.
Đình điểm của sự tàn ác
đến vào một ngày giữa chạp.
Lý thị bí mật gặp châu lão bản một tên thương nhân
buôn lậu hương liệu và thảo dược
khét tiếng gian xạo ở mạng ngược.
Hắn đang cần một kẻ chết thay
để đi vào Hắc Cốc,
một thung lũng xương độc quanh năm không thấy mặt trời
ở phía bắc huyện Bình Nguyên
nhằm hái cho bằng được dỏ huyết tế thảo cực độc
nhưng bán được giá trên kinh thành.
Ai vào Hắc Cốc cũng nắm chắc
9 phần chết, 1 phần tàn phế.
Lý thị nhận của châu lão bản
10 nén bạc trắng lóa, khóe môi nhích lên
nụ cười man dở. Về nhà,
thị bất ngờ ngã gục, ôm ngược
ho ra máu. Thực chất là nước
chua xa thị đã ngậm sẵn.
Thị diễn cảnh hấp hối rũ rười, nước mắt
giàn rùa nắm lấy tay Vương Đức.
Tướng công, đại phu nói thiếp mắc trứng lao
thủng vỡ phổi, chỉ có huyết tế thảo
ở Hắc Cốc mới cứu được mạng mọt này.
Nhưng đường đi muôn vàn hung hiểm,
thiếp thả chết chứ không dám để chàng đi.
Chàng là trụ cột của gia đình.
Vương Đức ôm đầu khóc lóc bất lực.
Ngay lúc đó,
Vương Hạo đang xốt hầm hập đứng ngoài cửa nghe thấy
trái tim lương thiện và khờ khạo của cậu
không cho phép cậu trơ mắt
nhìn gia đình ly tán.
Dù biết Hắc Cốc là cõi chết, Hạo bước vào
quỳ dạp xuống nền gạch lạnh lẽo.
Đại ca, tẩu tẩu,
để mụi đi. Mạng này của mụi
vốn đã tàn. Nếu đổi được mạng cho
tẩu tẩu, mụi xin cam lòng.
Trong khi Vương Đức còn đang trần trừ,
Lý Thị đã khóc nức lên, liên tục nói những lời
Hoa Mỹ cảm tạ. Nhưng đôi mắt giấu
sau tay áo bào lại ánh lên tia đắc ý
tàn độc. Sáng hôm sau,
Hạo gói dém chút lương khô ôi thiêu,
bước chân tập tĩnh tiến về phía
dặn núi Mù Sương. Không biết rằng
con đường phía trước đã được người chị dâu tàn nhẫn
trải đầy lưỡi dao trở sẵn.
Mười ngày trôi qua kể từ khi Vương Hạo
dấn bước vào Hắc Cốc. Nơi đây là
địa ngục Trần Gian. Sương mù
dày đặc như cháo tản ra mùi
hôi thối của lá mục và sát thú.
Hạo bị gai độc cào rách tươm ra
thịt. Đôi giày rơm rách nát,
thấm đẫm máu tươi in từng dấu chân
trên nền tuyết xám. Đến ngày thứ bảy,
cậu cạn kiệt lương thực,
cổ họng rát bỏng vì nuốt tuyết
lạnh hỏng giữ mạng. Nhưng ý chí
cứu chị dâu đã giúp thiếu niên ấy
leo lên được vách đá dựng đứng treo leo nhất.
Nơi đó,
một nhành huyết tế thảo đỏ rực như
máu đang đung đưa chức gió lớn.
Bằng chút sức tàn cuối cùng,
Hạo hái được ngọn cỏ. Nhưng
bàn tay tê cóng không gượng nổi đá trơn trượt.
Một cơn gió giít gào quét qua,
thiếu niên gầy gò trượt chân, rơi
thẳng xuống vực sâu hunh hút, tay vẫn
nắm chặt sinh lộ của kẻ đã bức tử mình.
Trong khi đó, tại ngôi nhà ngói
ở Trấn Tây Khê, Lý Thị đang sống
những ngày sung sướng nhất. Bệnh ho thập tử
nhất sinh của Thị biến mất như có phép mỏ.
Thị Hà Hê Tiêu xài số bạc
mới nén nhận từ Châu Lão Bản,
sắm sửa lụa là ăn uống linh đỉnh.
Vương Đức ngây ngốc hỏi
thăm tin tức của em trai. Lý Thị
Chàng xem, tấm lòng chúng ta nuôi
ông tay áo, rốt cuộc nó lừa
lấy hết tiền bạc bỏ đi, mặc kệ
sống chết của thiếp. Vương Đức
nghe vậy, tức giận đập vỡ chén trả,
buông lời từ mặt đứa em vong ân bội nghĩa.
Hôm ấy, Lý Thị dọn dẹp
căn phòng tồi tàn của Hảo để làm nhà kho.
Dưới góc giường, Thị lôi ra
một chiếc hộp gỗ sồi kỹ lưỡng khóa
chặt. Tưởng rằng Hảo giấu vàng bạc,
Thị vội vã dùng búa đập nát
ổ khóa. Nhưng khi nắp hộp mở ra,
không có bạc vụ nào cả.
Bên trong, chỉ có ba bức tượng
gỗ nhỏ bé được điêu khắc vụng về.
Một người nam cao lớn, một người nữ
mặc áo hoa và một cậu bé nhỏ.
Phía dưới là một mảnh giấy nát
viết bằng nét chữ nghệch ngoạc của người
ít học. Cầu quan âm Bồ Tát
phù hộ cho đại ca và tẩu tẩu
bình an. Hảo có bệnh trong người
không sống được lâu, chỉ mong hai người
vinh hoa phu quý. Số tiền
làm thuê mài ngược ba năm qua,
Hảo xin để lại trong hũ sành
trôn dưới gốc đào sau vườn. Nhỡ
Hảo chết đi, tẩu tẩu có tiền
lo ma chay. Ngay lúc đó,
Vương Đức vừa bước vào phòng, nhìn thấy
mảnh giấy rơi trên đất. Gã nhặt
lên đọc, đôi tay run dẩy,
lòng ngược như bị ai đấm mạnh một cú.
Gã điên cuồng chạy ra sau vườn đào
bới gốc cây săn sùi.
Quả nhiên, một hũ sành chứa đầy
những đồng tiền đồng ghi xét, đẫm
mồ hôi nước mắt của Hảo nằm yên tịnh
dưới lớp đất lạnh. Vương Đức
gục xuống, gạo khóc thảm thiết.
Lý thị đứng xững lại, nhưng rồi
thì mau chóng lấy lại vẻ mặt đánh đá.
Ôi giào, nó viết thế để lừa gà
thôi, chắc gì? Chưa dứt lời.
Từ ngoài cổng vẳng lại tiếng chuông
đồng thông thả nhưng uy nghiêm.
Một vị tăng nhân mặc áo cà sa vá tràng
chịt, vai đeo một giỏ tre,
bước vào sân. Đó là
Không Liễu Đại Sư, từ ngôi chùa cổ
trên đỉnh Tây Khề. Phía sau lưng ông
là một thân ảnh gầy gỏ, được cuốn
trong tầng tầng lớp lớp vải ấm là
Vương Hảo. Cậu không chết.
Nhờ bị vướng vào tán cây tuyết
tùng ngàn năm dưới đáy vực, cậu
được Không Liễu Đại Sư đi hái thuốc cứu mạng.
Đại Sư bước tới, ánh mắt
thấu suốt tâm can, đặt thẳng xuống
bàn một nhánh huyết tế thảo đỏ rực và
một bọc bạc có con dấu của Châu Lão Bản
mà ngài nhặt được từ tên lính hầu của Châu
Lão Bản vừa bị bắt giữ vì tội buôn lậu.
Sự thật như một bức màn đen
bị xé toạc, phơi bày trần trụi
dưới ánh sáng mặt trời.
Không khí trong sân gạch yên lặng đến
mức tiếng thở dốc của Vương Đức nghe như
tiếng rèn sắt bễ lỏ. Thẩm Đại Phu
người đi cùng Không Liễu Đại Sư
được mời đến bắt mạch cho Lý Thị ngay tại trận.
Bàn tay già nua của vị Đại Phu già
vừa chạm vào cổ tay Lý Thị
đã vội rụt lại. Ông vút dâu lạnh lùng nói
Phu nhân mạch tượng khỏe mạnh
Hồng Hảo, khí huyết sung mãn
Nào có nửa điểm ho lao vỡ phổi
Huyết tế thảo là thứ đại độc
Người không bệnh nan y mà dùng vào
Lục phủ ngũ tạng sẽ đứt gãy mà chết
Bà Phu nhân đây không phải muốn chữa bệnh
mà là muốn mượn dao giết người
đẩy người nhà vào chỗ chết để trục lợi tà dâm hèn hạ
Mọi lời ngụy biện của Lý Thị
bắt tiếng. Thị lùi lại
mặt cắt không còn một giọt máu
Vương Đức, người đàn ông nhu nhược
cả đời, lần đầu tiên trong đời
bùng lên cơn thịnh nộ của một con thú
Gã lao tới, ráng một cái tát nảy lửa
khiến Lý Thị ngã lăn xuống bậc thềm
gạch vỡ mẻ, răng thị gãy bật
máu tươi trào ra từ khóe miệng
Đồ độc phụ!
Gia môn bất hạnh!
Nhà họ Vương ta có đắc tội gì với ngươi
mà ngươi lấy oán báo ân
Bức tử chính đứa em đã nhịn đói
nhường cơm cho ngươi sống qua mùa đông năm ấy
Vương Đức gầm lên, nước mắt giàn ruộ
Gã vội quay vào nhà
cầm bút lông viết nguyệt ngoạc
một bức hư thư giấy từ vợ ném thẳng vào mặt thị
Cút! Cút ra khỏi nhà ta
Từ nay ân đoạn nghĩa tuyệt
Ngươi không còn là người của họ Vương
Lý Thị ôm má, đôi mắt lươn lẻo
vẫn không hề có lấy nửa điểm hối cãi
Thị nhổ tuẹt ngụm máu xuống đất
cười gần
Hử! Tưởng bà đây cần cái nhà rách nát này sao
bà đây có 10 nén bạc
bà đi tìm châu lão ra
làm phu nhân nhà giàu, còn lũ nghèo hèn
các người cứ ôm nhau mà chết đói đi
Nói rồi, thị xông vào buồng
cướp lấy tay nải giấu 10 nén bạc
vùng vòng bỏ đi giữa trời
bắt đầu đổ cơn bão tuyết
Thị ham hở chạy đến trang viên của châu lão bản
ở chân bên, nhưng ác giả ác báo
lưới trời lồng lộng nào, có chưa một ai
Khi thị đến nơi, trang viên họ châu
đang bị nhà môn niêm phong
Châu lão bản vì buôn lậu
dược liệu cấm và liên quan đến nhân mạng
đã bị quan huyện Chi châu
áp giải lên kinh thành chịu tội chém đầu
Đám thù hạ của hắn
đang hôi của, tẩu tán tài sản
Thấy lý thị xuất hiện với tay nải
nặng trịch ôm khư khư trước ngực
Hai tên ác bá nhận ra thị liền lao tới
Chúng đánh đập thị tàn nhẫn
cướp sạch 10 nén bạc không chừa một cách
lột cả chiếc áo khoác lông cửu
dày giận thị đang mặc, rồi ném thị ra
ngoài bìa rừng heo hút lạnh lẽo
Màn đêm buông xuống, cơn bão tuyết
ập đến cuồng nội chưa từng thấy
Làng mạc chìm trong màu trắng xóa
Gió hú từng hồi bi thương như tiếng vong hồn oán thán
Lý thị co ro
Lê lết từng bước chân trần giữa máu
trên nền tuyết sắc như dao
Thị lạnh, một cái lạnh vuốt thấu
tận xương tủy, hệt như cái lạnh
mà Vương Hảo đã phải chịu đựng
khi thiếu áo bông mùa đông năm trước
Thị đói, cơn đói
cồn cào xé rách dạ dày
Gợi lại ký ức về bát cháo loãng
mà thị đã cướp trắng từ tay ân nhân
Thị gõ cửa từng nhà dân dọc đường
Khóc lóc van xin một ngụm nước ấm
Nhưng ai nấy đều biết tiếng tâm ác độc của thị
nên đóng chặt cửa cái
Đứng yên bên trong không ai đáp lời
Ngay cả lũ chó hoang cũng gầm gừ
xua đuổi thị
Thị cứ đi, đi mãi trong vô vọng
Trượt ngã xuống một con mương cạn phủ đầy băng tuyết
Toàn thân thị cứng đỡ
băng giá dần phong kín ra thịt
Trong cơn mê sảng trước lúc chết
Thị ảo giác thấy Vương Hảo tiều tụy năm xưa
đang bưng bát cháo nóng hổi tiến về phía mình
Thị vươn tay ra vổ lấy
Nhưng ảo ảnh vỡ tan thành những bông tuyết lạnh
vuốt rớt thẳng vào mặt
Thị giống lên một tiếng tuyệt vọng
rồi cầm bật vĩnh viễn
Sáng hôm sau, người dân đi nhặt củi
phát hiện sát một người đàn bà gầy gò chết
cóng dưới mương, đôi mắt vẫn mở trừng trừng
đầy sợ hãi và hối hận muộn màng
Hai bàn tay kào rách cả đất tuyết
như đang cố bấu víu, lấy chút sinh mệnh hư vô
Trong khi đó
Nhờ sự chăm sóc tận tình của Không Liễu Đại Sư
và Vương Đức, Vương Hảo dần hồi phục
Cậu không chỉ khỏe lại
Vài năm sau
Hạo trở thành một vị danh y nổi tiếng
khắp vùng Giang Nam
chuyên chữa bệnh cứu người nghèo mà không lấy tiền
Ngôi nhà ngói ọp ẹp năm xưa
được xây lại khang trang
Vương Đức cũng trí thú làm ăn
sống đời lương thiện
Nhưng mỗi ngày gã đều thắp nhang tạ ơn trời Phật
và tự dăn mình bài học sâu sắc về tình máu mũ
Chuyện nhà họ Vương ở Trấn Tây Khe
nhanh chóng lan truyền khắp các hang cùng ngõ hẻm
trở thành câu chuyện cửa miệng
của những người già dăn dạy con cháu
bên bếp lửa hồng mùa đông
Kẻ thâm độc gieo gió át phải gạt báo
Lấy oán báo ân thì cuối cùng cũng bị trời đất quay lưng
vùi xác trong băng tuyết cô độc
Người lương thiện chịu muôn ngàn oán khuất
dẫu có lúc tưởng chừng
rơi xuống vực thầm bế tắc
Nhưng cuối cùng sự hy sinh cao cả
lại dọi sáng tấm lòng son
được Phật trời gia hộ, tai qua nạn khỏi
mà hưởng phúc dài lâu
Cổ nhân có câu
Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên
Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai
Lòng tham và sự vô ơn
chính là hai liều thuốc độc
tàn phá tâm hồn con người nhanh nhất
Lý thị vì một chữ tham
mà che lấp chữ ân
tự cho mình thông minh dùng kế sâu
mưu độc để hại người
Nào ngờ mọi đường đi nước bước tàn nhẫn ấy
lại là đang tự đào huyệt trôn thân
Cuối cùng thị chết trong lạnh giá
và đói khát chính cái hoàn cảnh
mà thị đã đang tâm đẩy người em chồng lương thiện vào
Còn bạn?
Giữa cõi nhân sinh đầy rẫy thị phi
và cám rỗ vật chất này
đứng trước những lợi ích cá nhân mở mắt
Liệu bạn có đủ vững tâm để nhớ về bát cơm
ân nghĩa của những người đã giang tay lúc mình hoạn nạn
hay sẽ để lòng tham biến mình
thành một lý thị thứ hai
chìm trong bóng tối nhân quả luân hội
