Xa Nhà 6 Năm Trở Về, Bi Kịch Bất Ngờ Ập Đến, Bao Thanh Thiên Dựa Vào Quẻ Xăm Phá Án

Sống thuận tự nhiên
442 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Ở huyện Thương Thủy, phủ Khai Phong có một tú tài tên là Mai Tĩnh, cưới cô gái họ Khương ở huyện Lâm làm vợ.
Khương thị sở hữu dung mạo thanh tú, tính tình hiền hòa, dịu dàng, vì thế cuộc sống của hai vợ chồng luôn êm ấm, yêu thương và kính trọng nhau.
Thế nhưng, biến cố liên tiếp ập đến khi cha mẹ của Mai Tĩnh lần lượt qua đời.
Sau thời gian để tăng song thân, ông lại ôm trí lớn, tiếp tục bước vào con đường khoa cử, mong thực hiện tâm nguyện thuở thiếu thời.
Đáng tiếc, hết lần này đến lần khác dự thi, ông vẫn không thể đỗ đạt.
Bao năm đèn sách, bao hy vọng và khát khao lập thân lập nghiệp đều hóa thành nỗi thất vọng chất trọng.
Một hôm, Mai Tĩnh thở dài rồi nói với vợ.
Từ nhỏ, ta đã chuyên tâm đọc sách thánh hiền, chỉ mong có ngày công danh hiền đạt để làm dạng giỡn tổ tiên, cũng để nàng được sống những tháng ngày đủ đầy, sung túc.
Nào ngờ, trời chẳng chiều lòng người.
Cha mẹ còn chưa kịp nhìn thấy ta thành tài thì đã lần lượt qua đời.
Mỗi khi nghĩ đến điều ấy, lòng ta đau như dao cắt.
Ta suy nghĩ rất nhiều.
Có lẽ ta không nên tiếp tục theo đuổi con đường khoa cử nữa.
Thay vào đó, ta muốn đi buôn bán, ra ngoài buôn ba lập nghiệp.
Dẫu vất vả, cũng còn hơn quanh quần ở quê làm ruộng cả đời.
Nàng thấy ý ta như vậy có được không?
Khương Thị dịu dàng đáp.
Người xưa từng nói, ở nhà theo cha, xuất giá theo chồng.
Chàng đã quyết tâm gây dựng sự nghiệp bằng con đường buôn bán thì thiếp nhất định sẽ ủng hộ.
Thiếp chỉ mong chàng khi ở nơi đất khách phải biết giữ gìn sức khỏe, đừng vì cám dỗ mà lạc bước.
Nếu làm ăn thuận lợi, kiếm được tiền, xin hãy sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.
Nghe những lời chân thành ấy, Mai Tĩnh càng thêm vững giả.
Ông chuẩn bị một ít hàng hóa, rồi lên đường đến thanh đô, đất thục để buôn bán.
Ngày chia tay, Khương Thị lặng lẽ tiễn chồng ra tận đầu làng.
Hai người quyến luyến nhìn nhau rất lâu, chẳng ai nỡ nói lời từ biệt.
Không ai ngờ rằng, chuyến đi ấy kéo dài suốt sáu năm.
Trong gần ấy thời gian, Mai Tĩnh bặt vô âm tín, không một lá thư, cũng chẳng có lấy một lời nhắn gửi về quê nhà.
Một ngày nọ, nỗi nhớ quê hương bỗng dâng lên mãnh liệt.
Mai Tĩnh thu xếp hành lý, quyết định trở về.
Trên đường đi, ông ghé qua đền Vũ Hầu, nơi thờ ra các lượng, thắp hương cầu nguyện, rồi xin một quẻ xăm.
Trên quẻ xăm ghi bốn câu.
Phùng nhai thiết mạc túc, phùng thang thiết mạc dục, đầu túc tam thăng mẽ, giải khước nhất thân khúc.
Hai câu đầu, Mai Tĩnh đọc qua là hiểu ngay ý nghĩa.
Gặp bách núi thì tuyệt đối đừng nghỉ lại dưới chân núi.
Gặp nước nóng thì tuyệt đối đừng tắm.
Riêng hai câu sau, ông ngẫm đi ngẫm lại rất lâu, mà vẫn không thể hiểu được hàm ý bên trong.
Sau cùng, ông tự nhủ có lẽ thời cơ chưa đến, nên cũng không suy nghĩ thêm nữa.
Cứ tiếp tục lên đường trở về quê nhà.
Đi thuyền được nửa chặng đường.
Người lái thuyền cho thuyền neo lại nghỉ dưới chân một vách núi cao sừng sững.
Đúng lúc ấy, Mai Tĩnh trợt nhớ đến câu đầu tiên trong quẻ xăm.
Ông vội vàng đứng bật dậy, dục người lái thuyền.
Nhanh lên!
Mau treo thuyền rời khỏi đây.
Tuyệt đối không được dừng lại dưới chân vách núi.
Người lái thuyền tuy không hiểu chuyện gì nhưng vẫn nghe theo, lập tức đưa thuyền rời đi.
Vừa đi được một quãng ngắn, phía sau bỗng vang lên một tiếng nổ, long trời lở đất.
Âm!
Cả vách núi khổng lồ bất ngờ sụp xuống, đá lớn cuồn cuộn đổ ập xuống mặt sông.
Một chiếc thuyền khác không kịp tranh né, lập tức bị đè nát tan tảnh.
Mai Tĩnh nhìn cảnh tượng ấy mà toàn thân lạnh toát, mồ hôi túa ra như tắm.
Đến lúc đó, ông mới thực sự tin rằng những lời ghi trên quẻ xăm tuyệt đối không phải là sự trùng hợp.
Thoát khỏi tai họa trong găng tắc, Mai Tĩnh càng thêm kính sợ thiên ý.
Suốt quãng đường trở về sau đó, mọi việc đều thuận buồm xuôi gió.
Chẳng bao lâu, ông cũng đặt chân về quê nhà sau sáu năm xa cách.
Khương Thị vừa nhìn thấy chồng bước vào sân thì mừng đến rơi nước mắt.
Bao năm mong ngóng, cuối cùng người nàng ngày đêm trong đợi cũng đã bình an trở về.
Bà vội vàng nhóm bếp nấu những món ăn ngon nhất để đón chồng.
Trong lòng ngập tràn niềm hạnh phúc.
Đêm xuống, Khương Thị đun sẵn một nồi nước nóng rồi ân cần nói
Chàng đi đường xa mệt mỏi như vậy, hãy tắm nước nóng cho khỏe rồi nghỉ ngơi.
Nghe đến hai chữ tắm nước nóng, Mai Tĩnh lập tức nhớ đến câu thứ hai trên quẻ xăm.
Phùng thang thiết mạc rụp, ông khẽ lắc đầu.
Hôm nay ta thật sự quá mệt, không muốn tắm nữa, để ngày mai rồi tính.
Khương Thị cũng không nghĩ ngợi gì nhiều.
Thấy chồng không muốn tắm, bà liền tự mình mang nước vào phòng tắm.
Nào ngờ, ngay từ trước đó đã có một kẻ lén lút ẩn mình trong nhà,
âm thầm chờ thời cơ ra tay.
Khi Khương Thị đang tắm, tên đó cầm sẵn một con dao găm,
bất ngờ lao tới, đâm thẳng một nhát vào bụng bà.
Mọi chuyện diễn ra quá nhanh.
Khương Thị còn chưa kịp kêu cứu lấy một tiếng thì đã gục xuống,
chút hơi thở cuối cùng.
Gây án xong, hung thủ lập tức nhảy qua cửa sổ, biến mất trong màn đêm.
Ở bên ngoài, Mai Tĩnh chờ mãi vẫn không thấy vợ bước ra.
Ban đầu ông chỉ nghĩ bà đang dọn dẹp, nhưng đợi rất lâu vẫn không có động tĩnh.
Trong lòng bắt đầu dấy lên cảm giác bất an,
ông liền xách đèn đi đến phòng tắm.
Ánh đèn vừa soi tới, Mai Tĩnh như chết lặng.
Trước mắt ông là Khương Thị nằm bất động giữa vũng máu đỏ thẫm.
Sinh mệnh của người vợ hiền đã vĩnh viễn khép lại.
Chiếc đèn trên tay suýt rơi xuống đất.
Mai Tĩnh lao đến ôm lấy thi thể vợ, gào khóc trong tuyệt vọng.
Tiếng khóc xé lòng vang lên giữa đêm khuya, khiến ai nghe cũng không khỏi đau sót.
Sáng hôm sau, ông dự định đến nhà môn báo quan để tìm hung thủ.
Thế nhưng, ông hoàn toàn không biết kẻ đã sát hại vợ mình là ai.
Khi sự việc lan truyền khắp xóm làng, mọi người đều cảm thấy vô cùng kỳ lạ.
Suốt 6 năm ngươi không về, vừa đúng lúc ngươi trở lại,
thì vợ ngươi lại chết.
Chuyện này chẳng phải quá trùng hợp hay sao?
Có người nói, biết đâu chính hắn là hung thủ.
Càng bàn tán, mọi người càng nghi ngờ Mai Tĩnh.
Cuối cùng, họ cùng nhau đến phủ khai phong tố cáo
cho rằng Mai Tĩnh đã vô cớ sát hại chính người vợ của mình.
Sau khi xem đơn kiện, báo đại nhân lập tức chuyển Mai Tĩnh đến công đường để thẩm vấn.
Đứng trước công đường, Mai Tĩnh không hề giấu giếm điều gì.
Ông đem toàn bộ sự việc từ lúc rời quê đi buồn
đến chuyện xin khỏe xăm ở đền Vũ Hầu,
rồi những gì đã xảy ra trên đường về và đêm vợ bị sát hại.
Tất cả đều kể lại một cách rõ ràng, tỉ mị, không sót một chi tiết nào.
Báo đại nhân lặng lẽ lắng nghe.
Trong lòng ông thẩm nghĩ, một người vừa mới trở về sau 6 năm xa cách
Cỡ sao lại vô duyên vô cớ xuống tay giết chính người vợ mà mình ngày đêm mong nhớ?
Ông tiếp tục hỏi kỹ từng chi tiết xảy ra trong đêm án mạng.
Mai Tĩnh đáp, lúc ấy trời tối đen như mực.
Trong phòng tắm gần như không nhìn thấy gì cả.
Đến khi tôi xách đèn vào thì mọi chuyện đã quá muộn.
Nghe xong, báo đại nhân trầm ngâm hồi lâu.
Hai hàng lông mày khẽ nhíu lại như đang sâu chuỗi từng chi tiết của vụ án.
Bỗng nhiên, ông đập mạnh xuống bàn,
ánh mắt bừng sáng như vừa tìm ra mấu chốt.
Ta hiểu rồi.
Ông chậm dãi nói.
Ngươi đã rời quê suốt 6 năm.
Vợ ngươi lại là người có nhan sắc hơn người.
Tất sẽ có kẻ này xinh ý nghĩ không đúng đắn với nàng.
Tên gian phu ấy vốn dĩ định lợi dụng lúc ngươi vào phòng tắm để ra tay sát hại người.
Nhưng vì ngươi nghe theo lời cảnh báo trong quẻ xăm không bước vào tắm nên hắn đã nhận nhầm người.
Cuối cùng lại xuống tay với chính vợ ngươi.
Nói đến đây,
bao đại nhân cầm quẻ xăm lên chăm chú nhìn vào 2 câu cuối.
Đầu túc 3 thăng mẽ.
Ông khẽ gật đầu rồi phân tích.
Một đấu vốn có 10 thăng gạo
nhưng trong quẻ chỉ còn 3 thăng
tức là còn lại 7 thăng.
Chữ khang nghĩa là cám.
Ghép lại chẳng phải chính là khang thất hay sao?
Vừa nghe đến cái tên ấy, Mai Tĩnh lập tức mở to mắt.
Kinh ngạc nói.
Đại nhân, thật đúng là trùng hợp.
Đối diện nhà tiểu nhân quả thực có một người đàn ông tên là Khang Thất.
Bao đại nhân không trần trừ thêm một khắc nào.
Lập tức sai nhà dịch đến bắt Khang Thất giải về công đường.
Khang Thất vốn là kẻ nhát gan.
Lại nghe danh bao đại nhân xử án như thần từ lâu
nên vừa bị đưa đến công đường đã mặt cắt không còn giọt máu.
Chưa cần dùng đến một roi hay một cực hình nào.
Hắn đã quỷ sụp xuống.
Dun dẩy khai nhận toàn bộ sự thật.
Tiểu nhân thấy Khương Thị xinh đẹp nên xinh lòng ham muốn.
Hôm đó, tiểu nhân lén trốn sẵn trong nhà.
Định chờ lúc chồng bà ấy vào phòng tắm thì sẽ ra tay sát hại.
Không ngờ mọi chuyện lại diễn ra ngoài dự liệu.
Người bước vào phòng tắm không phải Mai Tĩnh mà lại là Khương Thị.
Trong lúc hoảng loạn, tiểu nhân đã xuống tay giết nhầm bà ấy.
Đại nhân xét sự sáng suốt, tiểu nhân xin cúi đầu nhận tội.
Bao đại nhân lập tức cho Khang Thất điểm chỉ vào bản cung khai.
Tội ác đã rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, ông tuyên án tử hình.
Không lâu sau, Khang Thất bị đưa ra pháp trường và xử chém theo đúng pháp luật.
Khi câu chuyện này truyền khắp nơi,
người dân trong phạm vi hàng trăm dặm đều không ngớt lời khâm phục tài phá án của bao đại nhân.
Bạn bè thân mến, sau khi lắng nghe hết câu chuyện,
có lẽ điều khiến chúng ta suy ngẫm nhất
chính là quẻ xăm đã giúp Mai Tĩnh tránh được tai hỏa của chính mình.
Nhưng lại không thể ngăn được bi kịch xảy đến với người vợ hiền.
Điều đó cho thấy, trên đời này có những tai hỏa có thể tránh được nhờ sự cẩn trọng.
Nhưng cũng có những đau khổ lại bắt nguồn từ nghiệp mà người khác đã gieo.
Khi một người để lòng tham và ham muốn che mờ lương chi,
thì hậu quả không chỉ rơi xuống chính bản thân họ,
mà còn có thể kéo theo những người vô tội phải chịu liên lụy.
Nhìn lại câu chuyện, Khương Thị chưa từng làm điều gì sai.
Suốt sáu năm dài đằng đắng, bà Thủy Trung chờ chồng,
gìn giữ mai ấm và giữ trọn đạo nghĩa của một người vợ.
Điều bà mong mỏi nhất chỉ là ngày chồng bình an trở về để gia đình được đoàn tụ.
Thế nhưng, chỉ vì một ý nghĩ không đúng đắn nảy sinh trong lòng khang thất,
tất cả hạnh phúc ấy đã tan biến chỉ trong chốc lát.
Một gia đình vốn đang chờ ngày xung họp lại phải chìm trong đau thương,
còn một người lương thiện thì mất đi sinh mạng
chỉ vì lòng tham và ham muốn của kẻ khác.
Đức Phật từng dạy rằng, ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo.
Mọi lời nói và hành động đều bắt nguồn từ tâm.
Khi trong tâm khởi lên thiện niệm, con người sẽ biết tôn trọng đạo lý,
giữ gìn phẩm hành và tránh xa điều sai trái.
Ngược lại, nếu để lòng tham, sự ích kỷ
và những ý nghĩ không đúng đắn âm thầm lớn lên,
chúng sẽ từng bước che lấp lương chi, khiến con người đánh mất giới hạn của mình
và cuối cùng phải gánh lấy hậu quả nặng nề.
Vì vậy, điều quý giá nhất mà câu chuyện này để lại
không phải là sự linh nghiệm của quẻ tham,
mà là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết gìn giữ chính cây tâm của mình.
Bởi một niệm thiện có thể mang đến bình an cho bản thân và những người xung quanh,
còn một niệm ác cũng có thể hủy hoại hạnh phúc của cả một gia đình.
Khi biết sống lương thiện, biết kín sợ nhân quả
và luôn tự nhắc mình đừng khởi lên những ý nghĩ sai trái,
chúng ta không chỉ đang bảo vệ chính mình,
mà còn đang gìn giữ bình yên cho những người mình yêu thương.
Ngày xưa, có một người tên Trương.
Trong một lần thần thức lạc vào cõi âm,
ông bàng hoàng nhìn thấy người anh trai của mình,
một vị tăng đã xuất ra và tu hành nhiều năm,
đang phải chịu một cực hình kinh hoàng.
Một sợi xích sắt thô nặng xuyên thẳng qua hai đùi,
treo ngược thân thể ông lơ lửng giữa không chung.
Khắp người máu thịt bê bết, không còn một chỗ nào nguyên vẹn.
Trong nỗi đau đớn tuột cùng, ông chỉ biết gào khóc thảm thiết.
Hết lần này đến lần khác,
van xin được chết ngay lập tức để chấm dứt sự hành hạ khủng khiếp ấy.
Chứng kiến cảnh tượng trước mắt, Trương sợ hãi đến toàn thân run dậy.
Ông vội quỳ xuống, liên tục dập đầu trước quỷ sai, rồi khẩn thiết hỏi,
Anh trai tôi là người đã tu hành trong cửa Phật suốt nhiều năm,
vì sao lại phải chịu cực hình thảm khốc đến như vậy?
Quỷ sai chừng mắt, giọng lạnh lùng sen lẫn phận nổ.
Tên tăng này chỉ khoác trên mình tấm áo của người tu hành,
nhưng lại làm ô ế thanh danh Phật môn.
Uổng công được thế gian kính trọng,
hắn mượn danh nghĩa quyên góp tiền của để xây dựng chùa triển,
tạo công đức, đi khắp nơi kêu gọi tím chúng phát tầm cúng dường.
Thế nhưng, toàn bộ số tiền thanh tịnh ấy,
đều bị hắn phung phí vào trốn ăn chơi trắc táng, cờ bạc, buông thả ham muốn,
lừa gạt lòng tin của thế nhân, phụ lòng những người phát tầm cúng dường,
làm hoen ố thanh danh cửa Phật.
Tội ác trồng chất, không thể dung thứ,
nên mới phải chịu hình phạt treo ngược, để xích xắt xuyên qua hai trần.
Nghe xong những lời ấy, trương kinh hãi đến mức toàn thân cứng đỡ,
trong lòng dậy lên nỗi chấn động không sao diễn tả thành lời.
Đúng lúc đó, giữa khoảng không bỗng hiện lên từng cảnh tượng như những ảo ảnh sống động.
Quỳ Sai chỉ tay lên những hình ảnh ấy, rồi chậm rãi nói,
sau khi chịu hết cực hình này, hắn sẽ tiếp tục bị đọa vào địa ngục vô gián.
Suốt hàng ngàn vạn năm, ngày đêm, đều phải chịu cảnh treo ngược đau đớn,
không một khoảnh khắc nào được ngơi nghỉ.
Đến khi trả hết nghiệp báo nơi địa ngục, hắn vẫn chưa thể thoát khỏi quả báo của mình,
mà còn phải trôi lăn qua vô số kiếp luân hồi, rơi vào đường súc sinh,
có lúc làm cá, làm tôm giữa dòng nước,
có lúc hóa thành heo, thành chó nơi trần thế,
mặc cho con người giết hại, hành hạ và sai khiến.
Cho dù sau này có được đầu thai trở lại làm người,
cuộc đời hắn vẫn sẽ chìm trong khổ đau triển miên.
Sinh ra ở những nơi nghèo nàn, lạc hậu, bệnh tật đeo bám, số phận đầy khiếm khuyết,
có khi mang thân nữ nhi yếu đuối, phải chịu cảnh bị mua bán, làm nhục,
đường tình duyên chỉ toàn bất hạnh và tai ương.
Có khi bầm sinh ngu độn, trên vai gánh những món nợ nghiệp khó hiểu,
mưu sinh muôn phần gian nan mà vẫn không tìm được lối thoát.
Đời đời kiếp kiếp, bệnh tật không rời, đói rét bùa vây,
cả cuộc đời không có duyên gặp được Phật Pháp chân chính,
cũng chẳng có lấy một ngày thật sự bình yên hay an vùi.
Lời quỷ sai vừa dứt, một tiếng động lớn vang lên như xét nổ giữa hư không.
Trong chấp mắt, toàn bộ ảo cảnh trước mắt đều tan biến,
chỉ còn lại khoảng không tĩnh lặng đến lạnh người.
Trương bừng tỉnh trong nỗi kinh hoàng tổn đổ.
Mồ hôi lạnh đã thấm ướt khắp lưng áo, tim đập dồn dập,
cả người vẫn còn run dẩy vì những gì vừa chứng kiến.
Nỗi bất an trong lòng khiến ông không dám chậm chế, dù chỉ một khắc.
Ông lập tức chạy đến nơi người anh đang ở.
Khi cánh cửa vừa được đẩy mở, Trương chết lặng.
Cảnh tượng hiện ra trước mắt hoàn toàn trùng khớp với những gì ông đã nhìn thấy nơi cõi ẩm,
không sai lệch dù chỉ một chi tiết.
Người anh trai bỗng vô cớ, mắc phải một căn bệnh quái ác.
Hai chân lở loét vì những vết độc sang, mủ và máu không ngừng dị ra, mùi tanh hôi nồng nặc.
Cơn đau như xuyên thấu tận xương tủy, khiến ông không còn sức đứng vững.
Để giảm bớt sự dày vỏ, ông chỉ có thể treo ngược thân mình lên vách,
vừa quằn quại vùng váy, vừa phát ra những tiếng kêu gào thê lương,
khiến ai nghe cũng phải rợn người.
Trương cố nén sự đau sót và kinh hái,
rồi đem toàn bộ những gì mình đã chứng kiến trong cõi ẩm kể lại cho người anh nghe,
không bỏ sót một chi tiết nào.
Vị tăng vừa nghe xong thì sắc mặt lập tức tái nhợt.
Ông như bị xét đánh ngang tay, tinh thần hoàn toàn sụp đổ.
Nước mắt tuôn trào không ngừng, ông quỳ sụp xuống đất, vừa khóc vừa thành tâm sám hối.
Các bạn thân mến, câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng,
nhân quả không phân biệt người giàu hay nghèo,
cũng không vì một người khoác lên mình tấm áo tu hành mà có sự ngoại lệ.
Điều quyết định phước hay họa không nằm ở thân phận,
mà nằm ở tâm niệm và những việc làm của mỗi người.
Càng được nhiều người tin tưởng, càng gánh trên vai trách nhiệm lớn lao.
Nếu lợi dụng lòng tin ấy để mưu cầu lợi ích cho bản thân
thì không chỉ phụ tấm lòng của những người đã phát tâm cúng dường,
mà còn tự gieo cho mình những nghiệp báo vô cùng nặng nề.
Vì vậy, dù là người xuất ra hay tại ra,
điều quan trọng nhất vẫn là sống chân thật,
biết kính sợ nhân quả, giữ gìn đạo đức và trân trọng từng việc thiện mình đang làm.
Chỉ khi tâm ngay thẳng, hành vi ngay thẳng,
con người mới có thể tích lũy phước báo bền vững và sống một cuộc đời an yên.
Không hổ thẹn với lương tâm cũng như với niềm tin mà người khác đã gửi gắm.
Trên con phố lớn đông người qua lại,
một vị lão trung y khoác chiếc hòm thuốc cũ kỹ trên vai, chậm dãi bước đi.
Bỗng từ một tòa đại trạch ven đường vang lên tiếng trẻ nhỏ khóc thét.
Chị vừa nghe thấy âm thanh ấy, ánh mắt lão trung y lập tức trở nên nghiêm nghỉ.
Bằng kinh nghiệm hành y mấy chục năm,
ông nhạy bén nhận ra đứa trẻ bên trong đang mắc trọng bệnh,
tính mạng chỉ còn như ngọn đèn trước gió.
Ông vội vàng bước nhanh đến trước cổng phủ.
Đúng lúc ấy, một nhà hoàn bưng bắt bã thuốc đi ra định đổ bỏ.
Lão trung y lập tức đưa tay ngăn lại, bóc một nhúm bã thuốc lên, đưa lên mỗi người.
Chỉ trong khoảnh khắc, sắc mặt ông tái đi.
Ông gấp gấp hỏi,
Thứ thuốc này là cho ai uống?
Mau đưa ta đi gặp chủ nhân của các ngươi.
Nhà hoàn giật mình, vội vàng lùi lại mấy bước.
Ông là ai?
Đây là bã thuốc của vương phủ, ông cũng dám động vào sao?
Lão trung y trầm giọng đáp.
Đơn thuốc này kê sai rồi.
Người dùng thuốc này vốn mắc chứng thấp nhiệt, nhiệt tà đã nhập lý.
Thế mà các vị thuốc trong đơn đều mang tính ôn nhiệt.
Nếu tiếp tục uống thứ thuốc này, thì e rằng sẽ nguy đến tính mạng.
Nghe vậy, nhà hoàn sợ hãi đến tái mặt, vội chạy vào trong bầm báo.
Không bao lâu sau, một vị quản gia bước ra.
Ông ta nhìn lão trung y bằng ánh mắt đầy khinh miệt rồi quát lớn.
Ông lang vườn từ đâu tới?
Vương phủ, chúng ta mời đích thân Lưu Thái Y của Thái Y viện chữa bệnh.
Ông là ai mà dám đến đây ăn nói hồ đổ?
Nói xong liền định sai người đuổi đi.
Không ngờ lão trung y nhanh nhẹn lách người qua cánh tay quản gia,
như mèo luồn khe hẹp, vừa chạy vừa vội vàng lao thẳng vào nội viện.
Lúc này, Trấn Nam Vương đang cầm chén trà, vẻ mặt nặng chịu ưu phiền.
Thấy một người mặc áo vải bất ngờ sông vào, ông lập tức cao chặt mày.
Lão trung y quỳ sụp xuống.
Vương gia, người bệnh đã uống nhầm thuốc có tính ôn nhiệt.
Nhiệt tà đang công thẳng vào tâm.
Nếu chậm thêm nửa canh giờ nữa, thì dù đại la kim tiên hạ phàm cũng không thể cứu nổi.
Trấn Nam Vương nhìn ông đầy nghi hoặc.
Dựa vào đâu mà ngươi dám khẳng định như vậy?
Xin Vương gia mau cho đưa người bệnh ra đây để thảo dân bắt mạch.
Sau khi Trấn Nam Vương gật đầu đồng ý, nhà hoàn liền bế đứa trẻ ra.
Tiểu công tử mới hơn hai tuổi.
Vừa nhìn thấy người lạ đã bật khóc nức nở.
Tay chân quẩy đạp không ngừng, khiến lão trung y không thể đặt tay bắt mạch.
Ông vẫn bình tĩnh như thường.
Từ trong ngực áo, ông lấy ra một chiếc chuông đồng nhỏ, khẽ lắc hai tiếng len keng.
Âm thanh trong trẻo vừa văng lên, đứa trẻ lập tức nín khóc.
Mở to đôi mắt chăm chú nhìn chiếc chuông.
Nhân lúc ấy, lão trung y nhẹ nhàng đặt hai ngón tay lên cổ tay đứa bé.
Nhắm mắt, tập trung cảm nhận từng nhịp mạch.
Sau khoảng thời gian bằng một tuần trả, ông mới từ từ mở mắt.
Trong lòng đã có kết luận.
Ông chắp tay hướng về trấn Nam Vương.
Tiểu công tử mắc chứng nhiệt tà nhập lý.
Chỉ cần dùng bạch hổ thang, kết hợp ba điều kiên kỳ, thì bệnh sẽ nhanh chóng chuyển biến tốt.
Còn đơn thuốc bổ mà lưu thái y kê hoàn toàn không đúng bệnh.
Chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa.
Nếu tiếp tục dùng, e rằng sẽ xảy ra đại hỏa.
Lời vừa dứt, bên ngoài bỗng vang lên một tiếng ho nhẹ.
Quản gia bước vào bầm báo.
Khởi bầm vương ra, lưu thái y đã tới.
Lưu thái y đã phục vụ trong thái y viện hơn 20 năm, luôn tự phụ y thuật cao minh,
bước đi lúc nào cũng đầy vẻ kiêu ngạo, tính tình càng vô cùng ngạo mạn.
Trấn Nam Vương cất lời.
Lưu thái y, ngài đến thật đúng lúc.
Vị lương y này cho rằng đơn thuốc của ngài có chỗ không ổn.
Hai vị đều là người tinh thông y thuật, chi bằng cùng nhau luận bàn một phén.
Lưu thái y cười nhạt.
Nếu vương gia đã mời người khác đến kê đơn, thì hắn là càng tin tưởng ông ta hơn.
Lão Phu ở lại cũng chỉ tự chuốc lấy mất mặt.
Nói xong, ông ta phất tay áo định rời đi.
Thế vậy, Trấn Nam Vương vội vàng giữ lại.
Dù sao, lưu thái y cũng là danh y hàng đầu của thái y viện.
Ông thực sự không dám chỉ vì vài lời của một vị lương y dân gian mà phủ nhận y thuật của triều đình.
Để giữ chân lưu thái y, Trấn Nam Vương còn lớn tiếng trách mắng Lão Trung y ngay trước mặt mọi người.
Sau đó, ông Sai Nha Hoàn mang đơn thuốc của Lão Trung y đưa cho lưu thái y xem qua.
Lưu thái y chỉ liếc qua đơn thuốc vài lần rồi bật cười đầy vẻ khinh thường.
Hoàn toàn là lời nói vô căn cứ.
Thạch cao vốn là vị thuốc đại hàn.
Tiểu công tử mới hơn hai tuổi, uống vào chẳng những không thể lui nhiệt mà còn dễ sinh nôn mửa, tiêu chảy.
Lão Trung y vẫn bình thản như cũ.
Ông quay sang hỏi Nha Hoàn.
Mấy ngày nay, có phải tiểu công tử luôn khát nước, nhưng vừa uống vào lại nôn ra, đúng không?
Nha Hoàn thoáng sữa người rồi gật đầu.
Đúng là như vậy.
Lão Trung y hỏi tiếp.
Mỗi lần xắc thuốc, có phải đều dùng nước gương để hỏa thuốc?
Nha Hoàn đáp.
Đúng vậy, chính lưu thái y dặn rằng nước gương có thể cầm nôn.
Lão Trung y khẽ gật đầu.
Khi vị khí nghịch gây nôn, dùng nước gương để cầm nôn vốn là phép chữa thông thường.
Nhưng tiểu công tử mắc trứng nhiệt, trong khi gừng lại có tính ôn.
Càng dùng chỉ, càng khiến nhiệt tà thêm nặng.
Tiểu công tử hiện đã xuất hiện đầy đủ bốn đại trứng, đại hãn, đại nhiệt, đại khát và mạch hồng.
Nếu không dùng bạch hộ thang thì khó lòng cứu nổi.
Lời vừa dứt, sắc mặt lưu thái y lập tức trở nên khó coi.
Ngươi chỉ là một lang y dân gian mà cũng dám tùy tiện phê phán đơn thuốc của thái y viện sao?
Lão Phu đã hành nghề ở thái y viện suốt 23 năm, chưa từng để xảy ra bất cứ sai sót nào.
Nếu vương gia tin lời hắn, để tiểu công tử xảy ra chuyện, đừng trách Lão Phu chưa từng nhắc nhở.
Mặc dù những lời phân tích của Lão Trung y đều có lý có cứ, nhưng Trấn Nam Vương cuối cùng vẫn lựa chọn tin tưởng lưu thái y.
Ông lập tức sai gia đình đuổi Lão Trung y ra khỏi vương phủ.
Bị hai gia đình sô đẩy ra ngoài, Lão Trung y vẫn không ngừng giãy rũa, vừa đi vừa lớn tiếng gọi.
Vương gia, Ngài nhất định sẽ hối hận.
Ngày mai, tiểu công tử sẽ mồ hôi đầm đìa, thần trí mê man, nói năng không còn tỉnh táo.
Đến ngày kia, da thịt sẽ nhanh nhao như người già, thóp trên đỉnh đầu cũng sẽ lõm xuống.
Nếu để sang ngày thứ tư thì mọi chuyện đã quá muộn, thần tiên cũng không cứu nổi nữa.
Quản gia nghe vậy lập tức nổi trận lôi đỉnh.
Lão già này rõ ràng đang nguyên rũa tiểu công tử.
Ông ta quát lớn, sai hai gia đình xong tới quật Lão Trung y ngã xuống đất, rồi đánh một trận tơi bởi.
Đến khi dừng tay, mặt mũi ông đã bầm dập tím tái, khóe miệng dì máu,
chiếc hòm thuốc mang theo bao năm cũng bị đập nát, dược liệu văng tung tóe khắp mặt đất.
Lão Trung y ôm lấy thắt lưng đau nhất, gắn hượng đứng dậy.
Ông đưa tay lau vết máu nơi khóe miệng, nở một nụ cười đầy chua sót rồi khẽ lắc đầu.
Ông chỉ buông một câu rất nhỏ, y không gặp người có duyên.
Nói xong, ông tập tỉnh bước đi, bóng lưng cô độc dần khuất giữa con đường dài.
Sáng sớm hôm sau, mọi chuyện diễn ra đúng như lời Lão Trung y đã nói.
Tiểu công tử mồ hôi vã ra như tắm, cả người sốt cao đến mê man, miệng liên tục nói sẵn.
Đến ngày thứ ba, da rẻ toàn thân nhanh nheo như một ông láo, tóp trên đỉnh đầu cũng lóm hẳn xuống.
Lúc ấy, Trấn Nam Vương mới thật sự hoảng loạn.
Ông lập tức phái người đi khắp nơi tìm Lão Trung y.
Thế nhưng, từ đêm hôm trước, Lão Trung y đã lặng lẽ thu dọn hành lý, rời khỏi Kinh thành để trở về quê cũ.
Đến ngày thứ tư, tiểu công tử không qua khỏi.
Tiếng khóc đau đớn của Trấn Nam Vương vang khắp vương phủ.
Ông ôm thi thể con trai, đau đớn đến tê tâm liệt phế, nhưng lúc này, mọi sự hối hận đều đã quá muộn.
Vì trần đoán sai khiến Thế Tử mất mạng, Lưu Thái y bị Hoàng đế cách chức ngay tại chỗ, tống vào đại lao và kết án ba năm tủ.
Tin tức nhanh chóng lan truyền khắp Kinh thành.
Người người đều tiếc nuối mà than rằng, vị Lão Trung y ấy quả thật là một thần y hiếm có.
Chỉ tiếc vương phủ có mắt mà không biết nhìn người.
Năm tháng trôi qua, vài năm sau, con trai út của Hoàng đế là Nghi Quốc Công bất ngờ mắc một chứng bệnh kỳ lạ.
Tay chân co giật liên tục, miệng xuôi bọt mép.
Trong dân gian, căn bệnh ấy được gọi là chứng động kinh.
Toàn bộ Thái y viện cùng nhau hội trần suốt nửa tháng trời.
Không biết bao nhiêu đơn thuốc đã được kê ra, nhưng bệnh tình vẫn không hề thuyên giảm.
Hoàng đế vì chuyện này mà nhiều đêm liền mất ngủ.
Đúng lúc ấy, Trấn Nam Vương trợt nhớ đến vị Lão Trung y năm xưa.
Sau nhiều lần do hỏi, ông mới biết Lão Trung y đang mở y quán tại Vận Thành.
Mang theo nỗi hổ thẹn trong lòng, ông đành cắn răng tiến cử với Hoàng đế.
Tâu bệ hạ, người này y thuật vô cùng cao minh.
Chỉ tiếc năm xưa thần có mắt không trồng, đã bỏ lỡ một vị thần y.
Hoàng đế lập tức hạ chỉ triệu Lão Trung y vào cùng.
Nhận được thánh trị, Lão Trung y mang theo hòm thuốc lên đường.
Ngày đêm không nghỉ để kịp đến Kinh Thành.
Sau khi cẩn thận bắt mạch cho nghi quốc công, trong lòng ông đã hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh.
Ông kín cận Tâu.
Tâu bệ hạ, quốc công mắc trứng can dương bốc lên, can phong nội động.
Hoàng đế khẽ thở dài.
Thái y viện cũng nói như vậy.
Thuốc cũng đã uống, không biết bao nhiêu, nhưng vì sao mãi vẫn không khỏi.
Lão Trung y bình tĩnh dâng lên một đơn thuốc.
Hoàng đế cầm lấy xem qua.
Nhìn được vài dòng, sắc mặt ông lập tức trầm xuống.
Đơn thuốc này gần như giống hết đơn thuốc mà Thái y viện đã kê.
Ông nhìn Lão Trung y rồi hỏi.
Cùng một đơn thuốc Thái y viện dùng không có tác dụng.
Người kê đơn này thì dựa vào đâu mà dám nói sẽ chữa khỏi.
Lão Trung y điểm tĩnh đáp.
Tâu bệ hạ, trong đơn thuốc của thần có thêm một vị mà Thái y viện chưa từng dùng.
Hoàng đế khẽ nhíu mày.
Là vị gì?
Táo tâm thổ.
Vừa nghe ba chữ ấy, cả đại điện lập tức xôn sao.
Có người còn buột miệng.
Thật hoang đường.
Đất cũng có thể làm thuốc sao?
Hoàng đế cũng khẽ nhíu mày.
Trầm rộng hỏi.
Chẳng lẽ người muốn con trai của trầm uống nước bùn hay sao?
Lão Trung y vẫn bình thản như mặt nước lặng.
Không hề vì những lời chất vấn mà giao động.
Ông trầm giải giải thích.
Quốc công mắc bệnh, gốc bệnh nằm ở Can.
Theo y lý, Can thuộc mọc.
Mọc khắc thổ, nhưng thổ cũng có thể nuôi dưỡng mọc.
Táo tâm thổ quy vào hai kinh tỳ và vị.
Khi tỳ vị được kiện vững,
thì thổ xin kim, kim lại khắc mọc.
Đến lúc ấy, can phong tự nhiên sẽ lắng xuống.
Ông dừng lại một chút rồi mỉm cười nói tiếp.
Cũng giống như một gốc cây mọc siêu vẻo.
Chỉ cắt cành lá thì không thể khiến nó đứng vững.
Muốn cây phát triển ngay ngắn,
trước hết phải bồi đắp phần đất dưới gốc cho thật chắc chắn.
Hoàng đế nghe xong vẫn còn nửa tin nửa ngờ.
Nhưng trước tình cảnh hiện tại,
ông cũng không còn lựa chọn nào khác.
Lập tức hạ lệnh cho người cạo nửa cân táo tâm thổ.
Gói cẩn thận rồi bỏ vào nồi thuốc sắc cùng các vị dược liệu khác.
Sau khi thuốc được sắc xong,
bát thuốc được dâng đến quý phì.
Chính tay bà nhẹ nhàng đút từng ngụm cho nghi quốc công uống.
Điều kỳ diệu đã xảy ra.
Chỉ sau một bát thuốc,
chưa đầy nửa canh giờ,
những cơn co giật dữ dội của đứa trẻ hoàn toàn biến mất.
Cậu bé ngủ một giấc thật sâu và vô cùng yên ổn.
Đến chiều tối tỉnh dậy,
không những thần sắc khá hơn mà còn có thể tự mình ngồi dậy,
cất tiếng đòi ăn.
Chứng kiến cảnh ấy,
Hoàng đế vui mừng khôn siết.
Ngay tại Đại Điện,
ông lập tức phong lão Trung Y làm Thái Y lệnh mới của Thái Y viện.
Không chỉ vậy,
Hoàng đế còn ban cho ông một đạo thánh chỉ đặc biệt.
Thái Y viện bao năm nay quá bảo thủ,
đầy giấy những kẻ chỉ biết giữ lấy khuôn phép cũ.
Từ nay về sau,
nếu Khanh thấy ai bất tải,
không xứng với chức vị,
có thể trực tiếp tấu trình để bái miến bất cứ lúc nào.
Tin tức ấy nhanh chóng truyền đến Đại Lao.
Lưu Thái Y nghe xong,
mồ hôi lạnh lập tức túa đầy chán.
Suốt ba năm ngồi trong ngục,
ông đã lật xem không biết bao nhiêu bộ y thư cổ.
Ngày đêm nhìn ngẫm từng phương thuốc,
cuối cùng mới hiểu năm xưa mình đã sai lầm đến nhường nào.
Nhưng giờ đây,
Lão Trung Y lại được Hoàng đế vô cùng trọng dụng.
Ân oán cũ còn chưa ngôi,
địa vị hai người nay lại cách biệt một trời một vực.
Ông biết,
lần này bản thân e rằng khó tránh khỏi tai hỏa.
Quả nhiên,
chỉ ít ngày sau,
nhiều vị đại thần đồng loạt dân tấu.
Họ cho rằng,
Lưu Thái Y y thuật không tin,
từng trần đoán sai khiến thế tử mất mạng,
không xứng được phục chức.
Hoàng đế bèn truyền gọi Lão Trung Y đến, hỏi,
Khanh thấy nên xử trí Lưu Thái Y thế nào?
Trong đại điện,
tất cả các Thái Y đều cúi đầu im lặng,
không một ai dám lên tiếng.
Ai cũng cho rằng Lão Trung Y nhất định sẽ nhân cơ hội này
để trả món nợ năm xưa bị đánh đến mình đầy thương tích.
Thế nhưng,
điều xảy ra lại hoàn toàn ngoài dự liệu của tất cả mọi người.
Lão Trung Y chậm rãi quỷ xuống.
Ông Cung Kính thưa,
Tâu Bệ Hạ,
Thần đã bôn ba hành y nơi dân gian hơn 10 năm.
Trong quãng thời gian ấy,
Thần chứng kiến quá nhiều người làm nghề y
chỉ vì tranh hơn thua,
giữ lấy sĩ diện mà bỏ lỡ thời cơ cứu người.
Về chuyện năm xưa của Lưu Thái Y,
sau này Thần cũng đã nhiều lần suy ngẫm.
Đơn thuốc ôn bổ của ông ấy
nếu dùng trong những chứng bệnh thông thường
thì chưa hẳn là sai.
Chỉ tiếc lần ấy gặp phải bệnh cấp tính,
ông ấy lại quá tin vào kinh nghiệm của mình.
Không chịu lắng nghe lời khuyên
nên mới đi lạc hướng.
Thần và Lưu Thái Y đều là những người
ngày ngày giành giật sinh mạng con người
từ Tây Diêm Vường.
Đã mang trên vai trách nhiệm cứu người
thì nào còn thời gian để ôm mãi hận thủ.
Ba năm qua, ông ấy đã đọc rất nhiều y thư.
Nếu có thể buông bỏ lòng kiều ngạo
cùng nhau nghiên cứu y đảo,
chẳng phải sẽ cứu được nhiều người hơn sao.
Cả đại điện bỗng chìm vào im lặng.
Hoàng đế lặng người hồi lâu.
Ánh mắt nhìn Lão Trung Y
cũng dần hiện lên vẻ khâm phục.
Cuối cùng, ông khẽ phất tay.
Được, nếu ngay cả người chịu thiệt
năm xưa còn không giữ lòng oán hận,
vậy chấm cũng không cần làm kẻ chấp nhật.
Truyền chỉ.
Khôi phục nguyên chức cho Lưu Thái Y.
Ngày Lưu Thái Y bước ra khỏi Đại Lao,
ông lặng lẽ mang theo hành lý
đến trước cửa y quán của Lão Trung Y.
Ông đứng đó rất lâu, rất lâu.
Cuối cùng, ông nhẹ nhàng
đặt hành lý xuống đất,
chắp tay cúi người thật sâu
về phía Lão Trung Y.
Ông không nói một lời.
Lão Trung Y chỉ mìm cười hiền hậu.
Ông bưng ra hai bát trà nóng,
đưa một bát cho Lưu Thái Y.
Hai người ngồi sóng vai trên bậc cửa,
lặng lẽ uống hết bát trà
trong ánh chiều tà đang dần buông xuống.
Không ai nhắc lại chuyện cũ,
cũng chẳng còn ai cần phải xin lỗi hay trách móc.
Bởi người thật sự hiểu đạo
làm nghề y đều biết rằng
điều đáng quý nhất không phải là
thắng thua giữa những người thầy thuốc
mà là có thể cứu thêm được một sinh mạng
trên cõi đời này.
Về sau, có người tò mò hỏi
Lão Trung Y.
Ngài đã là Thái Y lệnh của triều đình rồi.
Vì sao vẫn tự mình đi khám
từng bệnh nhân như một lăng y bình thường?
Lão Trung Y chỉ mìm cười,
chậm giải đáp.
Ta vốn chỉ là một người chữa bệnh.
Dù địa vị có cao đến đâu,
nếu y thuật không tiến bộ,
thì chiếc ghế ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Người làm nghề y
điều đáng quý nhất không phải là chức vị
mà là trái tim luôn đặt
người bệnh lên trên chính bản thân mình.
Từ đó về sau, Lưu Thái Y
luôn khiêm nhường đi theo
Lão Trung Y học y suốt 3 năm.
Mỗi lần khám bệnh, ông đều cẩn trọng
lắng nghe, khiêm tốn học hỏi,
không bao giờ còn giữ vẻ kiêu ngạo
như thuở trước nữa.
Điều động lại sau câu chuyện này
không phải là việc Lão Trung Y
được phong làm Thái Y lệnh,
cũng không phải việc Lưu Thái Y
được phục chức, mà là hành trình thay đổi
trong lòng của 2 con người
từng đứng ở 2 phía đối lập.
Một người dùng y thuật để cứu người,
nhưng dùng lòng bao dung
để cảm hóa người khác.
Người còn lại phải trả giá
bằng những mất mát và những 5 tháng
trong ngục tối mới hiểu rằng
điều đáng sợ nhất không phải là phạm sai lầm,
mà là vì quá tự tin vào bản thân
nên không chịu lắng nghe,
không dám nhìn nhận sai lầm
và đánh mất cơ hội sửa chữa
khi vẫn còn kịp.
Trong cuộc sống cũng vậy,
tri thức có thể tích lũy theo 5 tháng,
kinh nghiệm có thể được bồi đắp
qua từng lần va vấp.
Nhưng nếu sự kêu ngạo che mờ lý trí,
con người rất dễ biến điều đúng
thành điều sai,
biến lòng tốt thành nỗi ân hận.
Chỉ khi biết khiêm nhường trước sự thật,
biết lắng nghe và sẵn sàng thay đổi,
chúng ta mới có thể không ngừng trưởng thành.
Có lẽ điều đáng quý nhất trong câu chuyện này
không nằm ở tài chữa bệnh của láo trung y
mà ở tấm lòng của ông.
Dù từng chịu oan khuất
và bị đối xử bất công,
ông vẫn chọn bỏ qua hiềm khích
để cứu thêm một người thầy thuốc
cũng là để sau này có thêm nhiều sinh mạng được cứu.
Bởi đôi khi,
tha thứ không phải là quên đi
những tổn thương mình từng chịu,
mà là không để những tổn thương ấy
ngăn mình tiếp tục làm điều đúng đắn.
