“Tài nghệ của anh ta quả thực tốt, nhưng trẫm quan sát tướng mạo, xem xét cử chỉ, lắng nghe lời nói của anh ta, không khỏi có phần khinh bạc. Người khinh bạc tuyệt không phải là người có lòng viễn đại, mà còn dễ gặp nguy hiểm. Ngươi hãy bảo Phùng Mông khuyên răn Hồng Siêu.”
Vu Hàm nói: “Pháp thuật này chưa hề thất truyền, và Hoàng Đế Hiên Viên thị còn để lại rất nhiều trước tác trên đời. Thời đó, con người có thể giao tiếp với quỷ thần, nên thuật pháp rất thịnh hành, việc chữa trị cũng dễ dàng và hiệu quả. Nhưng kể từ khi Chuyên Húc Đế sai Nam Chính Trọng trông coi việc trời để quản thần, Bắc Chính Lê trông coi việc đất để quản dân, điều này khiến con người rời xa thần đạo, hướng về việc dân sự, cắt đứt sự giao lưu giữa trời và người, thuật pháp này dần dần không còn nổi danh nữa.”
Nước Việt Thường dâng rùa thần - Mai rùa chứa đầy chữ là thần vật. Sử quan dịch văn trên mai rùa - Hóa ra là ghi chép lịch sử Bàn Cổ khai thiên
**Mai rùa viết đến kỷ thứ mười là kết thúc, phía sau còn có một dòng: “Từ khai thiên tịch địa đến nay, đến năm đầu tiên của Hoàng Đế Hữu Hùng thị, tổng cộng 2.757.780 năm.”
Đế Nghiêu xem xong văn bản này, vừa mừng vừa kinh thán nói: “Từ khai thiên lập địa đến nay, đã qua ngần ấy năm! Có thể thấy đời người trên thế gian, chẳng khác nào ánh chớp, tia lửa, chỉ trong nháy mắt mà thôi. Tranh danh đoạt lợi, khổ sở làm gì!” Rồi ông cho các quần thần chuyền tay nhau xem bài văn, sau đó lệnh cho sử quan cẩn thận cất giữ. #chuyendenghieu#vanhoathantruyen#denghieu#cauchuyenthuongco#sachhay#vanhoatruyenthong#postcard
Xin chào các bạn khán tính giả. Đây là chương trình phát thanh Câu Chuyện Thời Thượng Cổ và tôi là Tiểu An.
Hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu về một vị Thánh quân Thời Thượng Cổ. Câu Chuyện về Đế Nghiêu
Phần 6 Đế Nghiêu Tri Quốc hiển thần tích, nước láng giềng hiến tặng, lịch sử bản cổ khai thiên.
Đế Nghiêu là một vị Thánh quân Thượng Cổ, trọng đức yêu dân. Ông thông minh tài giỏi, tận tâm với chức trách, giỏi suy nghĩ sâu sắc về vấn đề.
Ông hòa nhã với mọi người, khiêm cung cẩn thận, đức hòa bốn phương, giàu có mà không kêu xa râm rật, cao quý mà không khình mạt người khác.
Đế Nghiêu phát huy hết tài năng của mình, khiến tộc nhân thân ái đoàn kết, khảo sát những tuộc hạ có tài năng, khuyến khích họ xử lý chính sự.
Sau khi bách quan phân công rõ ràng, ông lại đi trị lý các bộ tộc khác. Bách tính thiên hạ dưới sự cai trị của Đế Nghiêu đều hòa thuận và thân thiện.
Trong thời gian ông trị quốc xuất hiện không ít thần tích, khiến người thời đó tin chắc rằng thần Phật thực sự tồn tại trên đời.
Luận ngữ Thái Bá nói, Vĩ đại Thay, Nghiêu làm quân vương, cao cả Thay chỉ trời là lớn.
Bài trước nói về Đế Nghiêu sau khi đi săn, trên đường về Kinh Đô, ngồi trên tảng đá trong một thùng lũng, ngắm nhìn dòng suối trong chảy xuống.
Người đời sau đặt tên thùng lũng mà Đế Nghiêu từng ru hoại là Đào Đường Cốc.
Chúng ta tiếp tục xem câu chuyện truyền kỳ về vị thánh quân tượng cổ này.
Hồng siêu nghe cao người khinh bạc, bắn chim ngược lại bị chim bắn mồ.
Khi Đế Nghiêu đi săn ở phía bắc núi Hoác Thái, thấy có một tiểu tướng chạy tới chạy lui, bắn không mỗi tên nào hột, vừa nhanh vừa chính xác, liền hỏi đó là ai.
Đó là Hồng siêu, đệ tử của Phùng Mông, học bắn với Phùng Mông chưa đầy 3 năm, nhưng tiến bộ rất nhanh, kỹ nghẹ siêu quần, có bản lĩnh bắn xuyên tim còn dẫn, như cao thủ bắn tên kỳ xương thời xưa, đáng gọi là anh tài.
Dịch liền gọi Hồng siêu đến ý kiến Đế Nghiêu. Sau khi anh ta lui đi, Đế Nghiêu nói
Tài nghệ của anh ta quả thực tốt, nhưng chậm quan sát tướng mạo, xem xét cử chỉ, lắng nghe lời nói của anh ta, không khỏi có phần khinh bạc.
Người khinh bạc tuyệt không phải là người có lòng viễn đai, mà còn dễ gặp nguy hiểm, người hãy bảo Phùng Mông khuyên răn Hồng siêu.
Sau đó Đế Nghiêu kết thúc cuộc săn, trên đường về Kinh Đô, nghe phía trước có tiếng ôn ào, có người đến báo.
Mắt của Hồng siêu bị một con chim bắn mồ. Đế Nghiêu và quần thần đều rất ngạc nhiên, làm sao chim biết bắn tên.
Người đó nói, đây là sự thật, tiểu thần đâu dám báo láo.
Nguyên là, khi Đế Nghiêu dạo chơi trong thùng nũng, Hồng siêu và binh sĩ nghỉ ngơi bên đường, bỗng thấy từ trong rừng bay ra một con chim.
Anh ta liền bắn một mũi tên về phía đó, không ngờ con chim ngậm lấy mũi tên đó, rồi lập tức bắn ngược lại.
Bất ngờ, sức bắn lạnh mạnh và nhanh, nên đã bắn trúng mắt trái của Hồng siêu.
Mắt trái của anh ta đã thành một lỗ dẫm, máu chảy không ngừng, cán tên đã được rút ra, nhưng đầu tên vẫn còn bên trong, các cầy thuốc đều bỏ tay.
Vu Hàm thọ ơn 300 tuổi, thi triển chúc do thuật, chị thương tên.
Lúc này, có một người hiến kế, tôi nghe nói trong làng phía trước, gần đây có ba người vu, thầy pháp, y thuật vô cùng thần diệu, sao không mời họ đến xem.
Đế Nghiêu đồng ý, người đó liền nhận lệnh đi tìm ba người này.
Đế Nghiêu thấy y phục của họ rất quài dị, nhưng thần thái rất nghiêm trang phi phạm.
Người đi đầu là một cụ già, dầu tóc đều bạc, tay áo bay phấp phới, phía sau theo hai thanh niên, cốt tướng cũng không tầm thường.
Sau khi hành lễ với Đế Nghiêu, cụ già tiến lên xem Hồng siêu, nói
Mỗi tên này đã vào tận xương, rất dễ chữa, rồi chỉ định một thanh niên ra tay.
Thanh niên đó lấy ra từ tay ảo rộng một cái đinh, đóng vào cột gỗ nỡ lèo, vào gỗ sâu khoảng một tấc.
Sau khi đóng xong, anh ta nhắm mắt, xếp ngón tay, miệng lầm nhầm, đột nhiên dùng tay chỉ vào cái đinh quát.
Mau!
Chỉ thấy cây đinh dài lập tức bay ra, rơi xuống đất, cách đó mấy thước.
Lập tức quay người chỉ vào mắt trái của Hồng siêu, cũng quát.
Mong!
Mỗi tên trong mắt Hồng siêu cũng bay ra, rơi xuống đất, cách đó mấy thước.
Trước sau không phá nửa khắc, mọi người nhìn thấy đều kinh ngạc.
Đế Nghiêu đèn mời ba người ngồi xuống và hỏi tên.
Cụ già nói
Tiểu vu tên là Hàm, hai người này đều là đệ tử.
Người này tên là Tử, người kia tên là Sã.
Vì đã học vô thuật này, không được lấy vợ sinh con, không cần truyền nối dòng dõi.
Thường gọi là Tiểu vu, cứ gọi là Vô Hàm, Vô Tử, Vô Sã đi.
Đế Nghiêu hỏi
Trước đây thời Cao Tổ Hoàng Khảo, Hiên Viên Thị, có một người giỏi bói toán, tên cũng giống người.
Vô Hàm trả lời
Đó chính là ông, điều này thật ngoài ý đoán của đế Nghiêu, liền hỏi ông ta bao nhiêu tuổi rồi.
Vô Hàm đáp
Khi Hoàng đế tấn công suy tỉ thị, tôi vừa tròn 30 tuổi, đến nay đã 375 tuổi.
Đế Nghiêu hỏi
Ngươi ở đâu, tại sao người đời không biết ngươi?
Vô Hàm đáp
Sau khi Hoàng đế Hiên Viên Thị cưỡi dòng thăng tiên, tôi trong lòng rất ngỡ mộ, nên tử quan đi tìm đạo tiên, muốn tìm phương pháp trưởng sinh bất tử.
Nhưng cuối cùng không gặp được tiên nhân, cũng không tìm được phương pháp trưởng sinh bất tử, nhưng đã sống trên núi Phong Thư Ngọc Môn hơn 200 năm.
Vài năm trước mới trở lại Trung Quốc, lại ở phương Bắc trên núi Đăng Bảo vài năm, nên người đời không biết có tôi.
Đế Nghiêu nói
Thì ra là vậy, chấm thấy phương pháp của ngươi vô cùng kỳ diệu, là tự mình sáng tạo hay vốn đã có từ xưa.
Vô Hàm nói
Thuật pháp này gọi là trúc giò thuật, do một viên chức trúc giò thời Hoàng đế Hiên Viên Thị truyền cho tôi.
Nội kinh của Hoàng đế có hai câu trong thiên tủ vấn
Thời xưa điểm đạn, ta không thể thâm nhập, nên chỉ cần dùng phép di tinh trúc giò là khỏi.
Đời nay, trúc giò không thể chữa khỏi được nữa.
Có thể thấy thuật pháp này đã có từ trước thời Hoàng đế.
Vị quan trúc giò truyền thu cho tôi đã nghiên cứu và tổng hợp nó, rồi lấy tên chức quan của mình để đặt tên cho thuật pháp này mà thôi.
Đế Nghiêu nói
Nếu thời xưa đã có thuật pháp này, tại sao ngày nay lại thất truyền? Ngoài sư đồ các vị gia, không còn ai biết nên nữa.
Vô Hàm đáp
Pháp thuật này chưa hề thất truyền, và Hoàng đế Hiên Viên Thị còn để lại rất nhiều trước tác trên đời.
Thời đó, con người có thể giao tiếp với quỷ thần, nên thuật pháp rất thịnh hành, việc chữa trị cũng dễ dàng và hiệu quả.
Nhưng kể từ khi truyền hút đế, sai nam chính trọng, trông coi việc trời để quản thần.
Bắc chính lê, trông coi việc đất để quản dân.
Điều này khiến con người rời xa thần đạo, hướng về việc dân sự, cắt đứt sự giao lưu giữa trời và người.
Thuật pháp này dần dần không còn nổi danh nữa.
Nước Việt thường ngưỡng mộ đến chiều cống, bàn với hỏa chính lễ tiếp đón.
Thời gian trôi qua, đế nghiêu tại vị đã năm năm bèn bàn với quần thần,
quyết định vào ngày sóc mùng một tháng mạnh hạ, tháng tư âm lịch,
đi tuần du bên ngoài khảo sát tình hình dân chúng.
Tư hành nhẹ, vùng mông và đại tư nông phí đi theo, đại tư đồ khế cùng các quan khác ở lại trấn giữ.
Nhưng đến hạ tuần tháng quý xuân, thuộc quan của Hê Thúc từ đất Nam Giao gửi Thấu Trường về báo,
nước Việt thường sắp đến kinh đô tiến cống, hiện đã lên đường.
Việt Thường Thị, tên ngỡ, nằm ở phía nam của Việt Nam hiện nay,
ở vùng Việt Nam, Campuchia, xưa nay ít giao lưu với Trung Quốc.
Vì Hê Thúc đến Nam Giao khảo sát thiên băn và làm láng giềng với họ,
2-3 năm qua, đức hóa của đế nghiêu dần dần truyền đến đó,
nên họ hướng lòng quy phục, muốn đến thẩn phục.
Quân thần đế nghiêu bèn tạm gác tuyệt tuần du, trước tiên bàn lễ tiếp đón ngoại khách.
Đại tư đồ nói, Việt phương xa đến triều cống,
kể từ sau khi nước đan khâu rừng vò mã não thời tiên đế đã lâu không còn nghe thấy,
thần đều là người mới, mọi điển lễ tuy có lễ cũ để tham khảo,
nhưng suy cho cùng không thể thành thạo bằng người đã từng trực tiếp lo liệu việc này.
Khi đó, có Mộc Chính và Hỏa Chính đích thần đảm nhiệm,
Mộc Chính tuy đã qua đời, nhưng Hỏa Chính đang ở gần kinh thành,
xin đế mời ông ấy đến để thương nghị.
Đế nghiêu nói, lời người rất đúng,
chấm sẽ sai người đến mời, nếu ông ấy chịu đến thì tốt nhất,
nhưng không được nghiễn cưỡng, chấm không muốn tùy tiện làm phiền lão thần.
Đại tư đồ lĩnh mệnh đi đến thành Trúc Dung.
Trúc Dung học theo Hoàng đế, nuôi rùa, cầu trường sinh.
Hỏa Chính Trúc Dung hiện tại tuy không làm quan,
nhưng sau khi ở lại Bình Dương, đế nghiêu cung cấp rất hậu hĩ,
cuộc sống nhẳng nhá tự tại.
Vì Mộc Chính đã mất, ông cảm khái vạn sự vô thường,
ngày sinh ý nghĩ cầu trường sinh, bèn nuôi rùa.
Cầu trường sinh tại sao phải nuôi rùa?
Nguyên là nuôi rùa cầu trường sinh là một trong những phương pháp thành tiên
của Cao Tổ Hoàng đế, sách Tổ ghi chép.
Đế rùa có thể cảm thần, và đang xa có thể hóa thành vàng.
Vàng nguyện thành, Dung làm đồ ăn uống thì tăng tuổi tho,
tuổi tho tăng thì có thể thấy được các tiên nhân ở bồng lai giữa biển,
thấy được rồi làm lễ phong thiên thì sẽ bất tử.
Hoàng đế chính là như vậy.
Vì thế, Trúc Dung cũng học theo Hoàng đế, nuôi rùa.
Nhưng Trúc Dung cảm thấy kinh đô Bình Dương bồn ào và không có giữ núi,
không thể tỉnh tu nên dọn đến một nơi trống trải cách kinh đô 300 dặm về phía Bắc.
Đế nghiêu bèn phái người xây cho ông vài gian nhà,
lại bảo cháu trai ông là Hòa Trọng và em trai thỉnh thoảng đến thăm.
Sau đó, dân cư nơi đó cũng dần dần đông lên.
Vì là nơi Trúc Dung thị ở nên nơi này gọi là thành Trúc Dung.
Trúc Dung ở đây đổi tên đổi họ thành tô cắt lợi.
Ngay cả người vợ kế của ông cũng đổi tên đổi họ
để biểu thi ý định ẩn cư, rứt bỏ việc đời.
Vợ chồng không ra khỏi cửa, ở nhà nuôi rùa.
Sau đó, tài tư đồ vương mạnh đến, nói rõ ý của bệ hạ
và mời ông cùng đến Bình Dương bàn nghi thức.
Trúc Dung nói
Tôi từng tham gia đoạn nghi thức này thời tiên đế,
tuy thời gian đã lâu nhưng vẫn nhớ đại khái.
Tôi không cần đích thân đến, chỉ cần viết ra, nhờ tư đồ mang về tham khảo.
Trúc Dung bèn viết từng điều một, mất nửa ngày mới xong.
Ông trao cho đại tư đồ và nói
Chỉ tiếc nghi thức lúc đó đã viết trong này,
Đại tư đồ thấy y phục của Trúc Dung quái dị,
lời nói quyết liệt, không dám ép mời,
nhận văn bản, hàn huyên vài câu rồi cáo từ về Bình Dương.
Đế nghiêu lập tức treo tập quần thần họp
lấy văn bản của Trúc Dung làm cơ sở,
lại tham khảo quy trí cũ, có tăng có giảm, rồi định ra nghi thức.
Nước Việt thường rừng rùa thần,
mai rùa chứa đầy chữ là thần vật.
Nhiều ngày sau, sứ giả nước Việt thường đến Bình Dương,
đế nghiêu tiếp kiến họ tại Minh Đường Thái Miếu.
Tránh phó sứ cùng hai thông dịch do hê thúc dẫn đến,
phía sau có vài người khiêng một cái đình màu sắc,
trong đình đặt một cái vại lớn.
Sau khi sứ giả hành lễ với đế nghiêu,
mở miệng nói vài câu không biết gì,
thông qua phiên dịch của thuộc hạ hê thúc thành tiếng Trung Quốc,
đã ý là ngưỡng mộ đức hứa hóa.
Tiếp theo lại nói, có vật nhỏ muốn hiến cho thiên bang,
lập tức lấy cái vại lớn trong đình màu đặt xuống đất.
Nguyên là trong vại có một con rùa lớn khoảng hơn 3 thước vuông,
xung quanh mai có lông mịn, trên mai toàn là hoa văn,
chắc là vật sống hơn nghìn năm.
Sứ giả nước nghiệt thường nói,
nước hèn có rùa này đã nhiều năm,
nhưng quả nhân tự xét nước mỏng không đủ để có vật thần này,
bèn cẩn thận nuôi dưỡng để trở vĩ quân chủ nhân tử thánh thiện.
Hiện nay, nghe thánh chủ đại quốc,
niêm tuân quy luật vận hành tự nhiên,
dạy bảo nhân dân theo thời lệnh tiết khí để sản xuất,
nên đặc phái tiểu thần đến cống hiến vật này,
có thể giúp thánh chủ nghiên cứu lịch pháp.
Đế Nghiêu không hiểu hỏi,
rùa có liên quan gì đến lịch pháp?
Sứ giả đắc, rùa thường không liên quan đến lịch pháp,
nhưng đây là rùa thần, trên mai của nó ghi chép sự việc,
từ khi khai tiên lập địa nên có liên quan.
Quân thần Đế Nghiêu nghe xong đều kinh ngạc,
đều tiến lên xem kỹ hòa văn trên mai,
nhưng nhìn mãi vẫn không hiểu.
Bỗng thấy con rùa nhúc nhích, thoáng chấp đã bò ra khỏi vai,
quay mình bò ra ngoài, mọi người vội vàng tránh đường.
Kỳ lạ thay, con rùa vừa bò vừa phình to thân hình,
khi ra khỏi cửa điện đến sân,
thân hình đã to khoảng 5 triệu vuông,
lớn hơn lúc nãy mấy chục lần, gần như lấp đầy cả sân.
Lúc này con rùa mới nằm im,
mọi người mới biết sự kỳ lạ của con rùa này.
Nhìn kỹ lại trên mai, toàn là chữ hình con nòng nọc,
chữ khoa đầu, nhưng chữ nhỏ như hạt đậu.
Người thấy được chữ cũng chỉ đọc được 2 câu,
Đế Nghiêu biết rằng lúc này không thể đọc rõ,
bèn đi vào điện gọi xứ giả.
Kỳ lạ thay, con rùa thấy Đế Nghiêu không nhìn nữa,
dần dần thu nhỏ lại, không đầy chốc lát,
đã khôi phục nguyên trạng.
Mọi người nhìn thấy,
đều tán thưởng chưa từng thấy cảnh tượng thần kỳ như vậy,
con rùa này thực sự là thần vật.
Sử quan dịch văn trên mai rùa,
hóa ra là ghi chép lịch sử bản cổ khai thiên.
Sau khi sử giả nước Việt thường về,
Đế Nghiêu bảo người mang rùa thần đến,
đặt ở một nơi cực kỳ rộng lớn,
để thân rùa có thể phát triển tối đa,
lại ra lệnh cho sử quan sao chép các chữ trên mai rùa.
Việc sao chép rất khó khăn,
chỉ có thể một người trèo lên lưng rùa,
vừa xem vừa đọc,
một người khác ghi chép.
Sao chép gần nửa ngày mới hoàn thành toàn văn,
sau đó con rùa lại dần dần thu nhỏ.
Toàn văn viết
Khi trời đất mới phân,
bản cổ sinh ra trong đó,
có thể biết được độ cao thấp của trời đất
và đạo lý tạo hóa.
Nên nói,
bản cổ thị khai thiên tịch địa
chính là người đầu tiên xuất hiện để cài quản thế gian,
cũng gọi là hỗn độn thị.
Sau bản cổ thị
có thiên hoàng quân gồm 13 anh em,
sau thiên hoàng quân
có địa hoàng quân kế tục,
sau địa hoàng quân
có tổng công 10 kỷ.
Mỗi kỷ, mỗi kỷ
đều được ghi chép rõ ràng,
từ kỷ thứ nhất nói đến kỷ thứ 10.
Kỷ thứ 10 viết
Kỷ thứ 10 gọi là kỷ sơ ngật,
đầu tiên là hoàng nế hữu hùng thị,
họ công tôn, tên trà,
cũng gọi là hiên viên,
sau đổi họ cơ,
tự là huyền luật.
Mai rùa viết đến kỷ thứ 10 là kết thúc,
phía sau còn có một dòng.
Từ khai thiên tịch địa đến nay,
đến năm đầu tiên của hoàng nế hữu hùng thị,
tổng công 2.757.780 năm.
Thế nghiêu xem xong văn bản này,
vừa mừng vừa kinh thán nói.
Từ khai thiên lập địa đến nay,
đã qua gần ấy năm,
có thể thấy đời người trên thế gian,
chẳng khác nào ánh chớp,
phía lửa,
chỉ trông nháy mắt mà thôi,
tranh danh bạt lợi,
khổ sở làm gì.
Rồi ông cho các quần thần
truyền tay nhau xem bài văn,
sau đó lệnh cho sự quan cất giữ cẩn thận.
Đông tuần giữa đường gặp cao dao.
Sau khi nước Việt thường đến hiến rùa thần,
triều đình không còn việc gì.
Nế nghiêu chọn ngày sóc,
mùa 1 tháng trọng thu,
tháng 8 âm lịch,
đi tuần phương đông,
địa điểm là núi Thái Sơn,
và phái hề trọng,
đi trước thông báo các nước chư hầu
gặp mặt tại Thái Sơn,
tức hành nghề Phùng Mông
và Đại Tư Nông đi theo.
Đến bên dưới khúc phụ,
bỗng thấy bên đường có 1 phụ nữ
trung niên dẫn theo 1 đứa trẻ
4-5 tuổi,
2 người mặc toàn đồ trắng
đang đứng nhìn.
Nế nghiêu cảm thấy người phụ nữ này
rất quen mặt,
nhưng nghĩ không ra đã gặp ở đâu.
Đứa trẻ đó mặt như quả dưa,
miệng giống ngựa,
cũng có vẻ hơi quen.
Ngày hôm sau,
Nế nghiêu nhớ lại việc ngày hôm qua
gặp 2 mẹ con,
đèn hỏi khúc phụ hầu.
Ở đây có 1 người con cháu
của Thiếu Hạo Thị,
thênh gọi Đại Nghiệp,
người có biết không?
Khúc phụ hầu đáp,
người này thần biết,
ông ấy là người có danh tiếng,
đáng tiếc vừa mất tháng trước.
Nế nghiêu nói,
đã mất rồi sao,
trong nhà ông ấy còn ai?
Khúc phụ hầu đáp,
ông ấy để lại 1 con trai,
khoảng 4-5 tuổi,
nghe nói rất thông minh,
vợ ông ấy là con gái của dòng họ Thiếu Điển,
tên là Hoa,
hiệu Phù Thủy,
là người hiền đức.
Nế nghiêu nói,
Trẫm và Đại Nghiệp cùng dòng tộc,
trước đây chưa từng gặp mặt,
hiện nay biết vợ ông ấy quá buộc,
định trù cấp an ủi.
Ngươi hãy gọi con trai ông ấy
đến gặp Trẫm,
nếu là người tài,
có thể dùng được,
Trẫm sau này có thể trọng dụng.
Phù Thủy và con trai
ở gần hành công không lâu sau đã đến,
hành lễ với vua,
chỉ thấy đứa trẻ đó rung mau,
gần giống với vị thần tiên đã gặp trước đây.
Nế nghiêu trong lòng rất kinh ngạc,
bèn hỏi Phù Thủy,
đứa trẻ này tên là gì,
năm nay bao nhiêu tuổi?
Phù Thủy đáp,
nó tên là Cao Giao,
năm nay 4 tuổi.
Nế nghiêu lại hỏi,
phù quân của ngươi mất khi nào?
Phù Thủy đáp,
mất cách đây 3 tháng,
hôm qua 13 tháng.
Nế nghiêu nắm tay Cao Giao hỏi,
con nhớ cha không?
Cao Giao nghe xong khóc nát,
nhớ ạ.
Nế nghiêu nói,
con đã nhớ cha,
sau này phải làm người tốt,
học hành tiến bộ,
để làm dạng danh cha,
đồng thời phải hiếu thảo với mẹ,
nghe lời dây của mẹ,
hiểu không?
Cao Giao đáp,
con hiểu, sau này con nhất định
sẽ làm dạng danh cha,
nhất định hiếu thảo với mẹ.
Nế nghiêu thấy đứa trẻ đối đáp
thái độ thông rong,
giọng nói vang dội,
biết nó thực sự là người
có lai lịch phi phàm,
lại hỏi,
con thích làm việc gì?
Cao Giao chưa kịp trả lời,
phù thủy bên cạnh nói,
nó thích nhất là xen
vào chuyện người khác,
khi một đám trẻ chơi đùa,
xảy ra cái vã,
nó luôn phán xét công bằng,
đứa nào đúng, đứa nào sai,
nói rất có lý,
đây là sở trường của nó.
Nế nghiêu nói,
sau này có thể thành tài pháp luật,
người phải nuôi dạy tốt,
không để nó thất học.
Nế nghiêu lại nói,
chấm biết đứa trẻ này
sinh ra có lai lịch,
sau này nhất định là người phi phàm,
người cần dạy rũ nó cho tốt,
20 năm sau,
nếu chấm vẫn còn ở ngôi vị,
nhất định sẽ trọng dụng nó.
Chấm lát nữa sẽ cho người
mang đến một ít lễ vật nhỏ
làm chi phí dạy rũ,
cũng nhờ khúc phụ hầu
thường xuyên giúp đỡ các người,
phù thủy và cao giao
tạ ơn rồi lui,
7 ngày sau,
Nế nghiêu kết thúc việc đồng tuần.