VÌ SAO THỜI PHONG KIẾN TÀNG TRỮ ÁO GIÁP CÓ THỂ BỊ XỬ .T.Ử.?

Đình Sự
537 người theo dõi
Nói đến thời Phong Kiến, người ta sẽ nhớ đến những giai đoạn của Nhà Tần, Nhà Hán, Nhà Đường, Nhà Tống, Nhà Nguyên, Nhà Minh, Nhà Thanh và một số triệu đại khác cho đến khi Nhà Thanh sụp đổ vào đầu thế kỷ 20.
Ở Việt Nam thì thời Phong Kiến cũng kéo dài đến năm 1945, khi nhà Nguyễn đã chấm dứt thời kỳ Phong Kiến này.
Chiến tranh là điều thường thấy trong thời Phong Kiến, từ những cuộc nội chiến, cho đến những cuộc tranh giành ngôi báu, rồi là nổi dậy nông dân chống giặc ngoại sâm.
Trong bối cảnh ấy, quân đội không chỉ là lực lượng bảo vệ biên giới, mà còn là công cụ để vua chúa duy trì quyền lực tuyệt đối.
Và áo giáp, đó chính là chủ đề của câu chuyện ngày hôm nay.
Áo giáp thời Phong Kiến không phải là một món đồ đơn giản như là quần áo bình thường chúng ta mặc ngày nay.
Ở Trung Quốc, phổ biến nhất là giáp được ghép từ hàng trăm, thậm chí hàng nghìn miếng kim loại nhỏ như vảy cá, nặng từ 15 cho đến 30 kg tùy loại, giúp chống tên bắn, kiếm chém và giáo đâm.
Cũng có những loại giáp da thú cho bộ binh nhẹ, giáp sắt đầy đủ cho kỵ binh tinh nguyện, thậm chí là giáp gương với các miếng sắt giấu bên trong vải.
Còn ở Việt Nam, do khí hậu ẩm ướt, chúng ta sáng tạo ra giáp mây, đang từ tre, mây, dây thừng, nhẹ chỉ vài cân, chống ẩm tốt, linh hoạt cho đánh du kích ở trong rừng rậm.
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có giáp da thường là giáp da trâu.
Một bộ giáp thời xưa có giá bằng vài con ngựa chiến hoặc cả vài thửa ruộng lớn.
Vì vậy, áo giáp được coi là tài sản quốc gia quý giá, chỉ được trang bị cho quân đội chính quy và tất nhiên là do triều đình quản lý trực tiếp.
Nếu dân thường hoặc là địa chủ muốn tàng trữ riêng bị phát hiện là một tội rất nặng vì nó đe dọa trực tiếp đến an ninh của quốc gia và đe dọa đến ngôi báu của vua chúa.
Bây giờ, chúng ta sẽ đi sâu vào lý do tại sao thời xưa Thầy Phong Kiến lại cấm tàng trữ áo giáp nghiêm ngặt đến như vậy trong khi một số loại như kiếm, cung, tên được phép dùng như ở mức hạn chế.
Lý do đầu tiên và quan trọng nhất là để ngăn chặn nổi loạn, duy trì trật tự xã hội và củng cố quyền lực của vua chúa.
Vua chúa thời xưa thì sống trong cung điện lộng lẫy nhưng luôn lo sợ bị lật đổ.
Những người nông dân nghèo khổ vì thuế nặng, ngay cả những địa chủ lãnh chúa cũng bất mãn vì bất quyền lợi hoặc là những dân tộc thiểu số ở biên giới muốn độc lập, tất cả đều có thể nổi dậy vào bất kỳ lúc nào.
Nếu họ chỉ có vũ khí thô sơ thì quân triều đình có thể dễ dàng chấn áp bằng cung tên hoặc kỵ binh.
Nhưng nếu mà bây giờ trang bị thêm áo giáp thì sao?
Tình hình có vẻ sẽ thay đổi đôi chút. Áo giáp sẽ tăng khả năng sống sót lên gấp bội ở trên chiến trường.
Một binh lính mặc giáp có thể chống đỡ hàng chục mũi tên cầm cự lâu hơn để mà chờ viện binh.
Ở chiều ngược lại, nếu không có giáp, đám đông nổi dậy dễ bị quét sạch. Nhưng có giáp thì đám đông nổi dậy có thể tổ chức thành một đội quân chuyên nghiệp, đánh bại lực lượng chính quy và thậm chí là đánh chiếm Kinh Đô.
Đó là lý do mà triều đình ngày xưa cấm giáp để đảm bảo chỉ quân đội trung thành mới có lợi thế về mặt phòng ngữ mà thôi.
Nếu mà dân cũng có giáp tự do, nguy cơ cát cứ địa phương sẽ tăng cao, dẫn đến những tình trạng hỗn loạn mà Trung Quốc thì họ rất hiểu điều này, khi những nước trừ hầu tranh giành nhau, khiến cho thiên hạ đại loạn.
Nó giống như việc chính phủ các nước ngày nay cấm người dân sử dụng vũ khí, cấm người dân sở hữu súng, và tất nhiên những loại vũ khí hạng nặng như xe tăng, súng máy thì không ai được phép sử dụng.
Lệnh cấm này dụng vua chúa ngủ ngon hơn trong cung điện trong lâu đài của mình, nhưng nó cũng phản ánh sự độc tài, độc đoán của chế độ phong kiệt.
Nói về quy định nghiêm ngặt thì từ triều đại nhà Tống cho đến như triều đại nhà Thanh, luật pháp quy định rõ ràng trong các bộ luật, ví dụ như là trong luật Đại Thanh thì quy định như thế này.
Chỉ cần giấu 3 chiếc áo giáp thôi là đủ để bị kết án tử hoặc bị lưu đầy, trong khi giấu vũ khí thông thường thì chỉ bị phạt tiền hoặc là bị bắt giam trong thời gian ngắn hạn.
Tại sao lại trinh lệch như vậy? Vì áo giáp ở đây là một yếu tố giúp cho phai phòng ngự có lợi thế và có thể thay đổi cục diện trong chiến tranh.
Hai trước đó từ thời Tân Thủy Hoàng thì ông Tam nổi tiếng với lệnh, sau khi chiến tranh thì tịch thu hết vũ khí toàn quốc để mà đúc tượng đồng, đúc những lư đồng nhằm giật tắp mầm mống nổi loạn sau khi thống nhất 6 nước.
Vũ khí đã nhạy cảm như vậy thì áo giáp còn nhạy cảm hơn vì nó giúp quân nổi dậy sống sót lâu hơn.
Hãy nhớ cuộc nổi dậy của Hoàng Sao chẳng hạn cuối thời nhà Đường một ví dụ, Hoàng Sao là một nông dân bất mãn, dẫn dắt hàng vạn người nổi dậy chống thuế nặng.
Ban đầu thì phe nổi dậy thiếu giáp nên dễ bị quân Triều Đình dùng cung tên tiêu diệt từ xa, nhưng mà giả sử họ có áo giáp vẩy sắt phổ biến thời Đường thì họ có thể đã tiến vào kinh đô Trường An sớm hơn, lật đổ nhà Đường nhanh chóng hơn.
Thực tế Hoàng Sao chiếm kinh đô nhưng cuối cùng thất bại vì thiếu trang bị phòng thủ.
Hay như là thời nhà Minh, khi đối mặt với khởi nghĩa Lý Tự Thành, Triều Đình phải kiểm soát giáp trụ cực kỳ nghiêm ngặt để quân chính quy với giáp đầy đủ, dễ dàng đánh bại đám đông nông dân thiếu áo giáp.
Lý Tự Thành chiếm Bắc Kinh nhưng không giữ được lâu vì quân Thanh đã đến.
Rồi này nhà Thanh, nhà Thanh thậm chí còn cấm dân tộc thiểu số sản xuất áo giáp riêng vì sợ họ nổi dậy chống lại Triều Đình.
Một số câu chuyện thú vị khác là thời nhà Thanh, có một trường hợp có một vị địa chủ giàu có ở Giang Nam giấu vài bộ giáp để bảo vệ gia đình khỏi cướp bóc nhưng bị tố cáo và sau đó đã bị xử.
Chứng tỏ lệnh cấm áp dụng cho mọi tầng lớp không phải là ngoại lệ và nếu không cấm, có lẽ Trung Quốc đã tan vỡ sớm hơn.
Chuyển sang Việt Nam thì quân đội Đại Việt nổi tiếng với giáp mây, một sáng tạo độc đáo từ thời nhà Trần, đan từ tre vào mây, nhẹ nhàng, chống ẩm ướt, phù hợp đánh du kích trong rừng rậm và sông nước.
Nhưng triều đình vẫn cấm dân tàng trữ để tránh nổi loạn. Các triều đại sau thì vẫn vậy, ví dụ dưới thời vua Lê Thanh Tông, vị vua anh minh bậc nhất của lịch sử Việt Nam, người đã mở rộng lãnh thổ của nước ta.
Ông đã man hành cấm dân gian, genđúc và trữ binh khí riêng, bao gồm cả áo giáp, theo ghi chép trong Đại Việt Sử ký toàn thư.
Đến thế kỷ 18, cũng dưới thời nhà Lê, lệnh cấm được nới lỏng một phần ở Trấn Hưng Hóa, vì nhu cầu phòng thủ giặc cướp và man di xâm lược, nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ.
Quan lại phải kiểm tra hàng năm, thu gom giáp thừa về kho của triều đình, và chỉ cho phép dân biên giới dùng giáp ra loại nhẹ mà thôi.
Theo nhà Nguyễn, đặc biệt dưới thời của vua Tự Đức, do chính sách bảo thủ bế quan tỏa cản, vua không chỉ cấm dân tàng trữ giáp mà còn không khuyên khích hiện đại hóa giáp trụ,
thậm chí từ chối nhập khẩu giáp sắt từ phương Tây.
Kết quả, nhiều thế hệ sau này tin rằng, tổ tiên của chúng ta không dùng áo giáp, nhưng thực ra là có, chỉ bị kiểm soát nghiêm ngặt để tránh lạm dụng.
Ngoài lý do an ninh, thì lý do thứ hai liên quan đến vật liệu chế tác. Áo giáp đắt đỏ và có sản xuất, nên phải độc quyền ở triều đình để mà quản lý nguồn lực.
Không như kiếm hay ráo có thể rèn từ những lò rèn ở làng quê, áo giáp cần công nghệ cao hơn, ghép từ hàng ngàn miếng kim loại hoặc là đan mây phức tạp ở Việt Nam.
Đòi hỏi những bí quyết truyền nghề.
Nguyên liệu thì cũng rất là quý, sắt tốt từ những mò quặng khan hiếm, ra thú thì phải săn bắn, che mây cũng phải chọn loại tốt, tất nhiên là che mây thì phổ biến hơn.
Triều đình thì muốn tránh lãng phí, nếu mà dân tàng trữ riêng, nguồn lực của quốc gia sẽ bị phân tán, ảnh hưởng đến sản xuất nông cụ hoặc là vũ khí lớn.
Ở Trung Quốc, thời nhà Hán, áo giáp ra là loại phổ biến vì sắt rất là đắt, nhà nước độc quyền để trang bị cho hàng vạn quân.
Nếu không cấm, có thể dẫn đến mất mát tài sản, giống như ngày nay, cấm người dân giữ vũ khí cá nhân ở nhà.
Ở Việt Nam, giáp ra phổ biến vì ngân sách eo hẹp do chiến tranh liên miên bên cạnh giáp mây, và không đủ trang bị hết cho ba quân nên càng phải kiểm soát.
Và một lý do nữa để mà cấm áo giáp đó là cấm xong thì cũng chẳng ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của dân chúng, nên dễ thực thi mà cũng chẳng mấy người phản đối.
Thời phong kiến thì đa phần người dân đều là nông dân làm ruộng.
Áo giáp nặng nề, công kênh chỉ dùng cho chiến tranh, chẳng có hữu ích gì cho việc cầy cấy là săn bắn hàng ngày, thậm chí mặc vào là còn vướng víu.
Ngược lại, vũ khí là cung tên hay là dao có thể dùng để phòng thủ biên giới, săn thú hoặc là tự vệ để chống cướp nên đôi khi được phép ở mức hạn chế, đặc biệt ở những vùng biên viễn.
Ở Trung Quốc, dân thường được mang dao găm để tự vệ nhưng giáp thì tuyệt đối cấm để tránh nghi ngờ làm phản.
Ở Việt Nam, lệnh cấm cũng linh hoạt hơn ở vùng núi nhưng vẫn tập trung vào giáp để không làm người dân bất bạn.
Lệnh cấm như vậy là rất là hợp lý, kiểm soát hiệu quả mà không đẩy dân chúng đến chỗ tuyệt vọng.
Hãy thử so sánh với những nơi khác, ví dụ ở châu Âu thờ Trung Cổ, hiệp sĩ quý tộc được phép giữ giáp riêng, thậm chí là giáp tấm sắt đầy đủ, đó là một biểu tượng của địa vị.
Ở Nhật Bản thời phong kiến, Samurai cũng được giữ giáp riêng và ở Nhật Bản có những cuộc chiến tranh nội bộ như là thời chiến quốc Nhật Bản.
Còn ở Hàn Quốc, giữa chiều Jiu Shiong cũng cấm giáp tương tự như Trung Quốc hay là Việt Nam và tình hình có vẻ như ổn định hơn.
Cuối cùng, lệnh cấm tàng trị ao giáp phản ánh bản chất của chế độ phong kiến, tập trung quyền lực vào tay vua chúa, ngăn ngừa mọi đe dọa từ dân chúng và quản lý nguồn lực chặt chẽ để duy trì đế chế của mình.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị, bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh, bật chuông thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào, tạm biệt.
